Là ngôi chùa nhỏ duy nhất của thành phố nên vào ngày lễ đầu xuân Âm lịch, thiện nam tín nữ đến đông như nêm, không còn chỗ chen chân. Từ ngoài sân, các bà các cô người thì lễ mễ bưng hoa quả, xôi chè; người thì lúi cúi thắp hương vào chiếc lư to đặt dưới chân tượng Phật Quan Âm trắng tinh khôi ở giữa một hồ sen nhỏ, ngay bên trái của lối vào, khói hương tỏa lên nghi ngút, bay lượn giữa không trung. Mùa này, hồ sen phủ đầy tuyết, càng làm ngôi tượng đã trắng lại càng trắng toát hơn, nổi bật trên nền trời trong xanh hiếm hoi của một buổi chiều đông. 

Quỳnh chú ý nhìn xem các bà các cô lấy nhang ở chỗ nào để thắp thì thấy ngay dưới bệ xi măng chung quanh hồ, có một cái lò micro wave. Quái đản! Mon men lại gần xem, thì ra nhà chùa để nhang và diêm quẹt trong đó để không bị tuyết làm ướt. Nàng thắc mắc sao không lấy cái gì khác đựng nhang mà lại dùng cái lò micro wave? Một bà giải thích là cái lò này dùng trong bếp nhà chùa, bây giờ hư chưa kịp vất, đem ra dùng tạm để đựng nhang! Chùa nghèo mà, có thứ gì xài thứ nấy. Ðựng trong thùng giấy thì nhang bị ẩm, đốt không cháy. Quỳnh thắp một nén nhang, đứng chắp tay thành khẩn khấn vái rồi mới đi vào bên trong chùa qua lối cửa hông. Chùa đông quá, Quỳnh phải lách mãi mới lên được mấy bậc thang, đi lần theo vách tường bên trái len vào chánh điện, tìm được một chỗ ngồi chật chội, nhìn quanh.

Mùi trầm hương tỏa ngát căn phòng không được rộng cho lắm. Mờ mờ sau làn khói lả lơi, nét mặt từ bi của đức Phật dưới cội cây bồ đề tỏa lá rộng suốt chiều ngang của căn phòng, vẫn như xưa không đổi. Lòng nàng thật nhẹ nhàng mỗi khi nhìn nét mặt từ bi đó. Trên bàn thờ vô số hoa quả do Phật tử dâng cúng được bày chật kín. Dưới chân bàn, những chậu hoa phong lan, hoa cúc vàng, trắng, xếp thành hàng đẹp mắt, xen kẽ bên cạnh vài chậu hoa Trạng Nguyên, có lẽ còn sót lại từ mùa Giáng sinh. Cây mai vàng thật cao với những cánh hoa giả mong manh vươn lên gần đến gần trần nhà, cành tỏa rộng treo đầy những phong thư đỏ cho khách thập phương lát nữa đây xin lộc đầu năm. Quỳnh định bụng chốc nữa xong lễ cũng xin một nhánh lộc hy vọng qua năm mới, mọi ưu phiền được tiêu trừ.

Tiếng tụng kinh, tiếng mõ đều đều hòa với tiếng tụng niệm lâm râm của phật tử bên dưới tạo thành một âm thanh êm êm. Hờ hững đưa tay lần giở quyển kinh trước mặt, Quỳnh không ngớt dáo dác nhìn khắp căn phòng. Một bà ngồi kế bên nói nhỏ:
- Thầy đang tụng tới trang 32 đó cô!

Quỳnh cám ơn, lật sang trang đó, nhưng vẫn không chăm chú nhìn vào trang sách, đầu óc nàng để đâu đâu. Tiếng Thầy tụng kinh vẫn vang vang nhưng trí óc nàng thì đang phiêu du về căn nhà xưa cũ, nơi đó có tàng cây vú sữa to cao tỏa bóng mát trước sân nhà; nơi đó có Mẹ và em đang mong ngóng nàng từng giờ từng phút.

Quỳnh khổ sở cùng quẫn từ mấy tháng nay, kể từ khi hãng đóng cửa vì lỗ lã, kiệt quệ. Kể cả công việc chạy bàn trong nhà hàng cũng không ổn, hết nhà hàng nọ dẹp tiệm thì đến nhà hàng kia phá sản vì kinh tế xuống thấp, khách ăn thì ít mà nhân viên thì nhiều hơn khách! Quỳnh xót xa đọc đi đọc lại thư của em nàng gửi sang với mấy giòng vỏn vẹn "Mẹ chắc không còn được bao lâu, ước nguyện của Mẹ là được gặp lại chị một lần". Nghĩ đến đấy, nước mắt nàng ứa ra trên trang kinh trước mặt. Quỳnh cô đơn quá. Giá mà còn anh Hưng bên cạnh, thì chắc hẳn nàng không đến nỗi khổ sở thế này. Anh là chỗ nương tựa tinh thần của nàng mỗi khi nàng có chuyện khó xử. Anh luôn săn sóc, cho nàng những lời khuyên quí giá mỗi khi nàng cần sự che chở. Nhưng bây giờ, nàng đang quỳ dưới chân đức Phật, dưới ánh sáng từ bi để xin được bao dung, thì anh lại ở đâu?

Cứ đến ngày lễ Tết, Quỳnh mới lên chùa. Nói ra sợ phải tội, nàng không có thói quen đi chùa, mỗi năm chỉ có ngày Tết mới đến chùa cầu an cho Mẹ ở quê nhà thôi. Và năm nào anh Hưng cũng đi cùng với nàng tuy rằng anh là người Công giáo. Tuy không lạy không lễ, anh cũng vào ngồi cạnh Quỳnh, anh bảo anh thích nhìn Quỳnh lúc nàng thành tâm khấn vái, anh thích cái nét thánh thiện đó. Có một năm, sau khi tan lễ, anh hỏi "lúc nãy em cầu xin Phật chuyện gì vậy?". Quỳnh không trả lời mà chỉ dựa sát vào anh, đọc nho nhỏ mấy vần thơ:

Ngun ngút khói hương vàng
Say trong giấc mơ màng,
Em cầu xin Trời Phật…

thì anh đã ngắt lời nàng, cầm bàn tay giá lạnh của Quỳnh đặt nhẹ lên tim anh, ánh mắt buồn thăm thẳm, không nói suốt quãng đường về. Lần nào cũng vậy, hễ nàng đề cập đến chuyện tương lai, anh đều nhìn nàng bằng ánh mắt buồn như vậy, và không trả lời. Cho đến một ngày, anh đã bỏ đi không một lời từ giã, để nàng mòn mỏi đợi chờ, đến một lá thư cũng không có. Nàng buồn rầu đến nỗi một cô bạn trong sở đã phải khuyên:
- Cái thứ bạc bẽo đó thì nghĩ tới hắn làm gì nữa. Chị còn trẻ lại đẹp lo gì không kiếm được người hơn hắn!

Quỳnh chỉ cười. Người hơn anh thì chắc có, nhưng người dành cho nàng những ân tình trân quí thì chắc chỉ có anh Hưng thôi! Trong thâm tâm, nàng vẫn không tin anh Hưng là người bạc tình với nàng. Những ân cần, chăm sóc của anh cho nàng, những nâng niu quí hóa anh dành cho nàng, chắc chắn không thể giả tạo được. Cô bạn lại hoài nghi:
- Hay là hắn có ai khác rồi nên tránh né chị?

Quỳnh vẫn không tin. Ánh mắt buồn vời vợi của anh mỗi khi thấy nàng vui, khiến Quỳnh tin là anh có điều gì không thể bày tỏ được. Thế nhưng, cái điều gì đó là cái gì đã khiến anh bỏ Quỳnh mà đi đến một lá thư cũng không có?

Từ hai năm nay, cứ đến ngày chùa làm lễ Tết, Quỳnh lại lần mò lên chùa, dù đông đến đâu, lúc nào nàng cũng cố chen vào ngồi đúng chỗ đó, chỗ mà nàng vẫn ngồi lễ Phật hàng năm, chỗ mà anh Hưng vẫn ngồi cạnh nhìn ngắm nàng lễ Phật hàng năm. Ðể làm gì? Quỳnh không biết, nhưng nàng mơ hồ cảm nhận rằng nếu anh Hưng còn nghĩ đến nàng thì chắc chắn anh cũng sẽ đến chùa vào ngày đầu năm để tìm nàng. Năm nay là năm thứ hai rồi, nàng vẫn theo thói quen ngồi nơi đây nhìn dáo dác quanh phòng, để rồi lại ra về với nỗi thất vọng chán chường. Anh Hưng vẫn không đến! Nàng lại nhớ đến lời cô bạn, rồi lại tự nhủ với mình rằng "không, anh Hưng không bỏ rơi nàng một mình nơi xứ lạ này". Chỉ có một trường hợp duy nhất, mà nhiều lần nàng nghĩ đến rồi lại lo sợ không dám nghĩ tiếp, là anh đã không may gặp một bất trắc nào rồi. Sự lo âu đó đôi khi làm Quỳnh run sợ. Trong tiếng kinh tiếng mõ đều đều vang lên, Quỳnh nhắm mắt, dâng một nén tâm hương, chắp tay thành khẩn cầu xin đức Phật độ trì, xin Trời Phật cho anh về với nàng, hoặc giả nếu anh có mệnh hệ nào rồi thì cũng về báo mộng cho nàng biết, để đêm đêm giấc ngủ của nàng không còn chập chờn lo sợ. Thà là biết sự thật một lần, còn hơn là cứ sống mãi trong mê hoặc như thế này. Nàng đã mòn mỏi quá rồi!

********

Không còn nghi ngờ gì nữa. Người đàn ông đang đi đàng trước không thể là ai khác ngoài anh Hưng. Chiếc áo mùa đông màu xanh đã cũ, chiếc nón màu xám tro quen thuộc đã giúp nàng nhận ra anh. Chính nàng đan cho anh chiếc nón đó vào một mùa đông năm cũ, không thể là ai khác. Anh rảo bước đi nhanh, lách qua đám đông và rẽ sang góc đường trước mặt. Góc đường mà ngày xưa hai người vẫn thường hẹn nhau mỗi cuối tuần. Quỳnh rảo bước bén gót theo anh, chỉ sợ anh lại tan biến đi mất. Giữa buổi chiều tan sở, người đi như nước, nàng rẽ đám đông, gọi:

- Anh Hưng! Anh, anh đừng đi…

Tiếng kêu thảng thốt làm Quỳnh bừng tỉnh dậy. Mồ hôi nàng ướt đẫm. Thì ra, chỉ là một giấc mơ! Nàng bàng hoàng nhìn qua khung cửa. Qua chiếc màn cửa mỏng, bên ngoài trời chưa sáng rõ. Nàng nhắm mắt, hy vọng ngủ thêm được chút nữa, sợ dậy sớm lục đục làm phiền bà chủ nhà ở tầng dưới. Mơ màng, nàng cầu mong cho giấc mơ trở lại, cho nàng được gặp anh lần nữa, rồi cũng trong giấc mơ màng đó, trí óc nàng lại trở về ngôi chùa đêm qua nàng đã ngồi thành tâm khấn nguyện dưới chân đức Phật từ bi. Có phải Trời Phật cảm được lòng nàng nên đã cho nàng gặp lại anh trong mơ? Nhưng sao anh vẫn cứ bỏ đi không nói với nàng lời gì? Trăn qua trở lại một hồi, nghe tiếng lạo xạo dưới nhà, biết là bà chủ nhà đã thức, nàng mới rón rén dậy, vào phòng tắm, rồi xuống nhà dưới, định bụng ăn qua loa thứ gì xong rồi ra khỏi nhà đi đến các trung tâm giúp tìm việc làm.

Ngồi vào bàn với tách cà phê và tô cereal, Quỳnh chậm rãi nhấm nháp. Tờ báo mới nằm hờ hững trên bàn, chưa mở, chắc hẳn bà chủ nhà vừa lấy ở ngoài vào. Quỳnh lật nhanh mấy trang báo, xem trang tìm việc làm. Một mẩu tin vụn đập vào mắt nàng. Tiệm ăn đông khách cần thêm người hầu bàn! Nàng đọc nhanh địa chỉ rồi lại thất vọng. Trời ạ! Xa lắc xa lơ, mà nàng thì lại không có xe hơi, nếu có được nhận thì cũng làm sao mà đi làm hàng ngày với hai cái cẳng này? Tiếng bà chủ nhà lọc cọc đi vào bếp. Chào hỏi xong, bà hỏi:
- Cô Quỳnh, hôm nay có gì lạ không?

Lời chào hỏi thường tình nhưng nàng nghe nhột nhạt như ngàn câu nhắc nhở. Ðã ba tháng nay rồi, nàng vẫn chưa tìm đâu ra tiền để trả tiền nhà. Tiền thất nghiệp hàng tháng nhận được chỉ đủ tiêu dụng sau khi gửi về lo thuốc thang cho Mẹ. Bà chủ có tốt bụng đến đâu thì bà cũng cần tiền cho thuê nhà để sống chứ. Bà không nói thẳng ra đã là tốt lắm rồi. Quỳnh không muốn bà hiểu lầm là nàng trây ra không trả nợ. Nàng chỉ tay vào trang báo:
- Có tiệm ăn cần người hầu bàn bà ạ, họ nói trả lương khá. Tôi định đến xin, nhưng bà xem, địa chỉ này xa quá.

Bà chủ nhà liếc nhìn rồi chép miệng:
- Chỗ xa xôi hẻo lánh thế thì may ra mới có cơ hội cô ạ. Chỗ gần thì ai cũng xin rồi, dễ dầu gì đến mình?

Quỳnh gật gù ngẫm nghĩ. Bà nói cũng đúng tuy rằng sự khuyến khích đó chẳng qua là do lòng sốt ruột. Bà mong Quỳnh sớm có việc làm để trả tiền nhà cho bà. Nghĩ thế, Quỳnh quả quyết:
- Vâng, nếu thế thì tôi sẽ đi xin thử.

Bà chủ nhà vui mừng, đi ra phòng ngoài sau khi chỉ sơ sơ cho nàng cách lấy xe hỏa đi đến đó. Tính ra thì phải hơn một giờ đường xe. Quỳnh ngao ngán, nhưng làm sao hơn. Nàng lên phòng tắm gội sạch sẽ, trang điểm nhẹ nhàng rồi khoác bộ quần áo tương đối là tươm tất nhất, sửa soạn cho cuộc đi xa tìm việc làm.

Theo lời chỉ dẫn của bà chủ nhà, nàng đi đến trạm xe bus nơi góc đường để từ đó đi ra ga xe lửa của thành phố. Hôm nay trời không lạnh lắm, nhưng đi xa nên nàng cũng ăn mặc cẩn thận, quấn chiếc khăn ấm màu xám tro, chiếc khăn này nàng đan cùng lúc với chiếc nón tặng cho anh Hưng. Nghĩ đến đấy nàng rùng mình nhớ lại giấc mơ đêm qua. Cũng là góc đường này, cũng dưới tàng cây đang sũng tuyết này, nàng đã chạy đuổi theo anh ngay tại nơi đây trước khi tỉnh giấc! Con đường này đã từ lâu nàng không đi trở lại, kể từ ngày anh bỏ nàng mà đi. Cơ duyên nào đưa đẩy hôm nay bà chủ nhà lại chỉ cho nàng đi trở lại đây, đứng chờ xe tại góc đường này, góc đường hẹn hò ngày xưa của nàng với anh Hưng? Góc đường mà trong mơ nàng đã gặp lại anh? Nàng định bụng không đi tìm việc nữa, sẽ đứng ở đây chờ cả ngày cho đến khi gặp anh. Nhưng hình ảnh Mẹ già nua bệnh tật đang mong đợi nàng về lại lấn lướt ý tưởng đó. Chiếc xe bus trờ tới làm cắt dòng tư tưởng của Quỳnh. Nàng lên xe, tìm một chỗ khuất nơi cuối xe dáo dác nhìn lại góc đường thân yêu lần nữa trước khi xe lăn bánh. Vẫn không thấy anh xuất hiện! Thì ra, cũng lại chỉ là một giấc mơ thôi.

Nàng tìm ra tiệm ăn không khó khăn mấy. Vào đến thành phố hỏi tên tiệm, thì mọi người biết ngay "Oh! Tiệm bà Jane". Dường như ở cái thành phố nhỏ bé, hẻo lánh này, ai ai cũng biết nhau. Hoặc giả cái "bà Jane" kia là một người được người ta quí mến, ai ai cũng nhắc đến bà một cách vui vẻ, ấm cúng.

Nàng tìm được bà Jane không khó khăn. Bà ngồi ngay sau quầy của căn tiệm khang trang rộng rãi, đang ghi ghi chép chép gì trên quyển sổ. Ðó là một người đàn bà đứng tuổi và đẹp. Nhìn qua, cũng thấy sự khá giả của bà qua cách ăn mặc đơn sơ nhưng chau chuốt. Sau khi hỏi han nàng về lý do đến đây, kinh nghiệm làm việc nọ kia, lại biết nàng có chút kiến thức làm sổ sách, bà vui lòng lắm nhưng ngập ngừng:
- Tiệm này của tôi cũng khá đông khách vì ở thành phố này ít tiệm ăn lắm. Họ lại thường cho tiền tip rộng rãi. Nhưng cô liệu có làm ở đây được lâu không? Mấy cô trước đến đây xin việc, cứ làm ít lâu lại bỏ đi sang thành phố lớn, tôi cứ phải kiếm người mới hoài.

Quỳnh nhìn quanh căn tiệm thoáng thoát, sạch sẽ, rồi quả quyết:
- Tôi tìm việc đã lâu, lại đang rất cần tiền. Nếu được nhận thì còn gì bằng.

Rồi nàng thành thật:
- Duy chỉ có một điều là tôi ở một thành phố khác hơi xa, đi làm bất tiện, tôi không có xe…

Bà Jane nhìn Quỳnh, thầm hài lòng về bề ngoài tươm tất, nhanh nhẹn, sạch sẽ của nàng, nên vui vẻ nói:
- Nãy cô nói cô có một mình, không bà con thân thuộc ở đây phải không? Vậy dọn tới gần để đi làm cho tiện.

Quỳnh cũng đã nghĩ đến điều đó nên ngần ngừ:
- Nơi đây kiếm phòng cho thuê có dễ không bà? Có đắt lắm không?

Bà Jane gật gù:
- Ngay bên kia đường, tôi có một bloc nhà cho thuê, còn vài phòng trống, nếu cô muốn thì tôi đưa cô qua coi.

Quý nhân phò trợ! Không những xin được việc mà lại có nhà ngay bên kia đường, thế thì muốn gì hơn nữa.

Nửa giờ sau, khi tiệm ngơi khách, bà Jane gọi người ra ngồi thay bà rồi đưa Quỳnh sang bên kia đường. Bloc nhà khang trang sạch sẽ quá, nhưng Quỳnh thất vọng khi đi xem vài căn phòng chưa có người thuê, vì phòng quá lớn cho nhu cầu của nàng, và giá khá đắt đối với nàng. Nàng một thân một mình, chỉ cần một cái studio để ngủ, một chỗ để đọc sách báo sau giờ làm việc thôi, một hay hai phòng ngủ thì để làm gì với khả năng tài chánh hạn hẹp của nàng lúc này. Nàng nói ý nghĩ đó với bà Jane rồi hỏi:
- Bà không còn căn nào nhỏ hơn sao, đắt thế này thì tôi không có khả năng để trả.

Bà lắc đầu:
- Không…

Rồi nghĩ sao, bà vỗ trán nói:
- Có… à… mà…

Quỳnh chau mày chờ đợi. Bà Jane chỉ tay lên tầng trên cùng:
- Tôi chỉ còn một cái studio tuốt luốt trên kia, nhưng từ lâu nay không ai thuê dù tôi tính rẻ người ta cũng không thuê.
- Sao vậy? Có ma à?

Bà Jane le lưỡi, cuối cùng bà nói:
- Tôi cứ dắt cô lên coi rồi tùy cô quyết định nghe.

Bà lạch cạch tra chìa khóa vào ổ khóa, mở cửa, rồi đứng trước cửa phòng nói:
- Từ lâu không cho thuê nên không ai vào, phòng hơi bụi bặm, đó, cô coi đi. Nếu ưng thì tôi cho thuê rẻ.

Quỳnh đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Kể ra thì căn phòng này nàng còn ưng ý hơn những căn dưới là đằng khác. Phòng ở trên cao, trần nhà hơi dốc theo chiều dốc của mái nhà, nhưng lại làm căn phòng trông duyên dáng hơn là chiếc trần phẳng lì bên các tầng dưới. Chiếc cửa kính to ngay mặt trước phòng trông xuống đường, với chiếc màn cửa trắng mỏng, ánh nắng chan hòa lùa vào khiến căn phòng sáng trưng giữa ban ngày. Khỏi tốn điện. Thế thì tại sao không có người thuê? Bà Jane giải thích:
- Cách đây khá lâu tôi có cho một người thuê phòng này, ổng ở đây một mình, không gặp gỡ ai hết, ngoài cha sở bên nhà thờ, ổng siêng đi nhà thờ lắm. Dần dần thân thiết có khi ổng ở bên nhà thờ nhiều ngày mới về nhà một lần. Bẵng một thời gian không thấy ổng về, tôi mới hay là ổng đã mất.

Quỳnh tò mò mở to mắt nghe bà kể:
- Thế ổng mất ở đâu mà bà không biết?
- Nghe Cha nói ổng mất vào một đêm sau khi làm công đức bên nhà thờ. Các Cha thấy ông không có thân thuộc gì nên lo ma chay cho ổng và báo tin về cho tôi hay.

Bà ngập ngừng:
- Người ta đồn ổng tự tử. Tôi hỏi nhưng Cha không xác nhận, cũng không phủ nhận tin đồn đó.

Quỳnh thảng thốt:
- Tự tử! Sao lại thế?

Bà Jane nhún vai:
- Tôi chỉ nghe nói thôi, đâu biết hư thực ra sao? Người ta nói ổng bị bệnh nan y đến thời kỳ cuối, không muốn làm buồn lòng người ổng thương yêu, nên lẳng lặng tìm nơi vắng vẻ sinh sống những ngày cuối…

Quỳnh ngậm ngùi:
- Thật tội nghiệp bà nhỉ? Tôi tưởng tôi là người khổ nhất trên cõi đời này rồi, không dè có người còn khổ hơn.

Rồi sực nhớ lại chuyện căn phòng, nàng băn khoăn:
- À, nếu ổng chết trong nhà thờ thì đâu có liên quan gì đến căn phòng này, sao lại không ai thuê?

Bà le lưỡi:
- Tôi đăng bảng cho thuê đó chứ, nhưng mỗi lần cho người vào dọn căn phòng để người mới dọn vào thì y như rằng có chuyện, hễ thợ cứ đụng tay vào cái kệ sách kia thì y như rằng có cái gì như làn điện giật phải thối lui lại.

Quỳnh cũng le lưỡi:

- Thật vậy à? Hay ổng có bắt giây điện gì vào cái kệ sách đó?
- Mới đầu tôi cũng nghĩ như cô, tôi cho thợ tắt hết cầu chì rồi mới lên gỡ cái kệ sách đi, nhưng vẫn xảy ra y như vậy. Riết người ta đồn om xòm khiến tôi gọi thợ nào người ta cũng từ chối hết. Mà không giỡ cái kệ sách to chình ình kia đi thì ai mà vào thuê? Vả lại sách của ổng lại toàn cái loại sách gì đâu… sách chinese, sách Á Ðông gì đó, để lại cũng đâu ai đọc được.

Quỳnh ngỡ ngàng:
- Người Á Ðông! Chứ không phải người bên này à?

Bà Jane vẫn đứng chắn nơi cánh cửa phòng, nhất định không vô, chỉ tay vào chiếc kệ sách:
- Ðó, thì một lô sách vở gì của ổng đó, tôi muốn dọn bỏ đi mà bây giờ cứ kẹt cứng đó, không ai dám đụng vô!

Chuyện lạ! Quỳnh không nghĩ rằng người Tây phương mà lại tin những chuyện quái đản như thế. Dưới ánh nắng chan hòa của căn phòng, nàng không tin rằng trên đời lại xảy ra những chuyện kỳ quoặc như vậy. Nàng quả quyết tiến vào phòng, đến gần chiếc kệ sách xem là những loại sách gì mà bà Jane vừa nói. Mắt nàng chợt dán vào một cuốn tự điển Anh Việt dày cộm ở ngay giữa kệ sách. Vậy người Á Ðông này là người Việt! Sự tò mò lấn át cả sự sợ hãi về lời dọa của bà Jane, nàng đưa tay toan rút cuốn tự điển ra nhìn cho rõ, thì bà Jane lùi lại la hoảng lên:
- Nè, tôi cảnh cáo rồi mà cô không tin nghe, có gì thì cô chịu đó nghe, tôi đi xuống.

Rồi bà lạch bạch bước rầm rầm xuống thang lầu, miệng la bai bải "help, help!". Trong lúc đó thì nét mặt của Quỳnh cũng nhợt nhạt không kém khi nàng vừa nhận ra rằng cuốn tự điển đó là món quà đầu tiên chính nàng đã mua tặng nhân dịp sinh nhật của anh Hưng, lúc nàng mới quen anh. Trên gáy sách vẫn còn nguyên chữ ký của hai người, dù nét mực có phai mờ với thời gian.

Quỳnh ngồi phịch xuống chiếc giường nhỏ kê đối diện với kệ sách, nước mắt tuôn ra khi nhớ lại lời kể của bà Jane. Không ngờ anh lại đau khổ như vậy, tại sao anh lại giữ niềm đau đó một mình chứ? Sao lại hành hạ nàng đau khổ bấy lâu nay chứ? Nàng tìm kiếm anh khắp nơi, thậm chí cả cái thư viện mà anh hay lên đọc sách, nàng cũng đến đó hàng tuần hy vọng gặp anh. Trong lúc đó thì anh lại chết cô đơn tức tưởi nơi này. Quỳnh ôm đầu để cho nước mắt tuôn rơi. Cuốn tự điển trong tay rơi xuống đất, làm văng ra một bao thơ màu trắng đục. Quỳnh giật mình nhặt cuốn sách và bao thơ lên, thấy bên trong dầy cộm. Nét chữ quen thuộc viết bằng Anh ngữ trên bì thơ dán kín: "Ai tìm được thư này xin trao cho…địa chỉ…". Là tên nàng, là Quỳnh của anh! Sao khổ sở vậy, muốn nói gì, sao không nói lúc anh còn ở bên Quỳnh mà phải chờ lúc ra đi mới viết cả một lá thư dầy cộm để lại?

Không chần chờ, nàng mở phong thư, là một xấp tiền giấy 100$ xếp thẳng nếp, với trang giấy viết ngắn gọn:

"Khi Quỳnh của anh đọc những giòng chữ này thì em đã hiểu tại sao anh đã phải tìm cách xa em dù lòng anh vô cùng đau đớn. Ðây là số tiền 25,000$ anh dành dụm được suốt thời gian anh làm việc ở đây, tiền mà anh đã từng mơ sẽ dùng để xây đắp tương lai của chúng ta. Nhưng Trời đã không cho anh… Nay anh mong em dùng để lo thang thuốc cho Mẹ… Hưng của em.Vĩnh biệt".

Cầm phong thư chạy thình thình xuống cầu thang, nàng hổn hển nói với bà Jane, như chỉ sợ bà đổi ý:
- Bà Jane, tôi đồng ý thuê căn phòng này. Ðồ đạc giường tủ bà cứ để nguyên đó không cần dọn thứ gì hết, tôi sẽ dùng. Bà vui lòng cho tôi ba tuần thu xếp việc dọn nhà, và về thăm Mẹ tôi, sau đó tôi hứa sẽ trở lại làm việc cho bà. Cám ơn bà, cám ơn Trời Phật. Mẹ! Xuân này con sẽ về.

Rồi nàng bước nhanh ra cửa để kịp đón chiếc xe lửa trở về nhà, trong sự chưng hửng của bà Jane:
- Con nhỏ này không biết có khùng không đây?

 

Hải Phong