Lời Tựa

Chuyện xảy ra vào thế kỷ thứ mười chín, tại Trung Quốc, duyên số đã đưa đẩy hai cô gái nhỏ Bạch Huệ và Tuyết Hoa trở thành hai chị em kết nghĩa và định mệnh đã gắn liền họ với nhau vĩnh viễn.

Bạch Huệ là con của một gia đình nông dân, Tuyết Hoa là một tiểu thư khuê các, sinh trưởng trong một danh gia vọng tộc. Cả hai sinh cùng ngày, cùng tháng, cùng năm đã trở thành đôi chị em tri âm suốt cuộc đời. Họ đã cùng nhau trưởng thành, tuy tình thương yêu càng ngày càng đậm đà, nhưng cuộc sống hôn nhân đã chia lìa họ.

Gia đình tiểu thư đài các Tuyết Hoa gặp cảnh sa sút và nàng đã rơi vào một cuộc hôn phối thật bẽ bàng, trong khi thôn nữ nghèo hèn Bạch Huệ lại bước vào ngưỡng cửa hôn nhân giàu sang phú quí.

Cái hố giàu nghèo ấy không chia rẽ được tình yêu của đôi bạn thiếu thời, nhưng định mệnh bẽ bàng khiến xui lòng ghen tị cùng sự bồng bột đố kỵ nhất thời làm mờ lý trí Bạch Huệ và chỉ đến ngày Tuyết Hoa vĩnh viễn xa lìa nhân thế, Bạch Huệ mới khám phá ra tình yêu chân thật và vĩnh cửu của người bạn tri âm từ tấm bé, gói ghém trong Chiếc Quạt Nhiệm Mầu.

Một tình bạn thắm thiết, một số phận nồng nàn, đã kết đôi thiếu nữ từ hai giai cấp trái ngược trở thành một đôi bạn tri âm tri kỷ. Một cốt truyện cảm động không thiếu tiếng cười cùng nước mắt, đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ và được phổ biến trên 23 quốc gia trên thế giới.

Chúng tôi xin mời quí độc giả đi vào thế giới tình yêu đó, qua Chiếc Quạt Nhiệm Mầu của Tuyết Hoa…

 

Vài hàng về tác giả và tác phẩm

Lisa See gốc Tàu, sinh đẻ tại Paris và trưởng thành tại Los Angeles. Vào khoảng thập niên 60, trong một chuyến du lịch tại Trung Quốc, bà đã chứng kiến một người đàn bà ngất xỉu trong một nhà ga xe hỏa.

Nhờ lục lọi trong hành lý của người đàn bà này để tìm lý lịch, cảnh sát đã khám phá ra một xấp giấy tờ được viết bằng một thứ dấu hiệu rất bí mật và kỳ lạ mà không ai có khả năng đọc và hiểu được. Đó là vào thời khoảng Cách Mạng Văn Hóa tại Trung Quốc, do đó người đàn bà đã bị cảnh sát bắt giữ, tống giam để điều tra. Cảnh sát đã tìm mọi cách, nhờ những nhà ngữ học để tìm hiểu ý nghĩa được ghi chép bằng các ký hiệu bí mật đó và họ đã nhanh chóng nhận ra rằng đó không phải là một ngôn ngữ hay một bộ chữ nào trên thế giới cả, mà là một loại chữ được sáng lập và được dùng riêng cho nữ giới, mà bí mật của nó đã được giữ gìn và lưu truyền từ hơn ngàn năm qua, tại vùng đông nam của tỉnh Hà Nam. Đó là Nữ Tự.

Trước đó đã lâu, tác giả Lisa See, khi viết một bài tóm lược cuốn truyện Nhan Sắc của Hoàng Bình, cho tờ Los Angeles Times, bà đã được đọc trong cuốn sách đó nói về Nữ Tự như là một loại chữ được bí mật truyền dạy giữa phụ nữ với nhau qua hình thức chữ viết bằng ký hiệu, truyện đọc hay khăn thêu. Một phần Nữ Tự được dựa trên các hình vẽ đơn sơ hàm ngụ một ý nghĩa, hoặc trên một số thành ngữ có ẩn ý như «con chim phượng hoàng kêu tiếng khàn khàn», «đôi uyên ương» hay «tư tưởng lớn gặp nhau».

Đa số các văn bản viết bằng Nữ Tự được thiêu đốt khi người viết qua đời để giữ kín sự bí mật. Một số được cất giữ trong gia đình khi người viết chết đi. Đến khoảng thập niên 30 thì quân Nhật khi chiếm giữ Trung Hoa, đã thiêu đốt một phần các tài liệu được cất giữ này. Và đến thời Cách Mạng Văn Hóa, Vệ Binh Đỏ lại thiêu đốt gần hết những phần còn sót lại, cũng như ngăn cấm phụ nữ Tàu thời đó không được tham gia các sinh hoạt tôn giáo, lễ nghi đình đám hay đến chùa chiền; đồng thời tìm cách ngăn cản phụ nữ tiếp tục học loại ngôn ngữ kỳ bí này. Chỉ đến giữa thế kỷ thứ hai mươi, Nữ Tự mới gần như biến mất hẳn khi những người đàn bà cuối cùng hiểu và viết ngôn ngữ này lần lượt qua đời. Mãi đến gần đây, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đã thay đổi cách nhìn, và có khuynh hướng phục hồi lại Nữ Tự, cũng như cho phép mở một trường dạy Nữ Tự tại Puwei.

Việc chứng kiến các tờ giấy viết bằng Nữ Tự tìm thấy trong hành lý của người đàn bà ngất xỉu nơi sân ga đã là một động lực thúc đẩy Lisa See mất nhiều năm trời ròng rã để tìm tòi những tài liệu rất hiếm hoi nói về loại chữ bí mật này; và cuối cùng, vào năm 2002, bà đã quyết định đi đến Vĩnh Châu, tìm gặp nhiều học giả, các nhà biên soạn, cùng dân chúng trong vùng để hỏi han và tìm hiểu. Chính tại nơi này, tác giả đã tìm được câu chuyện đầy cảm động về mối tình vĩnh cửu của đôi chị em kết nghĩa: Bạch Huệ và Tuyết Hoa, và đã thúc đẩy bà viết lại mối tình thương tâm đó qua truyện Tuyết Hoa và Chiếc Quạt Nhiệm Mầu.

 

Chương 1 - Trm Mc

Như người trong làng thường nói, tôi là một người đàn bà mà đến “Thần Chết cũng chê không thèm gọi”, một bà góa đã hơn 80 tuổi, kéo lê những ngày dài vô vị, từ ngày chồng tôi mất đi. Ngay cả những món ăn ngon mà Mẫu Đơn, cháu dâu của tôi, và các cô giúp việc nấu ra cho tôi ăn, tôi cũng không còn cảm thấy ngon miệng nữa. Những chuyện vui hàng ngày xảy ra chung quanh gia đình, tôi cũng không thiết tha tham dự. Tôi chỉ hoài niệm quá khứ mà thôi. Và tôi khao khát được kể lại, được viết ra những gì mà xưa kia tôi đã phải câm nín, khi tôi còn phải sống lệ thuộc vào gia đình tôi, rồi gia đình nhà chồng nữa. Tôi có cả một cuộc đời dài mà tôi muốn kể, tôi có còn gì để sợ, để mất nữa đâu mà không kể.

Bây giờ thì tôi đã già quá rồi để kể lể những thói hay hoặc tật xấu của tôi, mà tôi thường lẫn lộn trong suốt cả cuộc đời. Tôi chỉ muốn kể một điều mà tôi đã khao khát tìm kiếm suốt cả đời tôi, đó là Tình Yêu, từ thời niên thiếu cho đến lúc trưởng thành. Chính sự khao khát thầm kín này đã gây ra tất cả những sai lầm mà tôi đã va chạm trong suốt cả cuộc đời.

Thuở thiếu thời, tôi mơ ước được tình yêu của Mẹ, mong được mẹ và những người trong gia đình để mắt tới và cuối cùng sẽ thương yêu tôi. Để được tình thương yêu đó, tôi đã phải vâng lời, như những đứa bé gái khác phải vâng lời cha mẹ. Nhưng tôi, tôi đã phải trả cái giá quá đau đớn để đạt được sự tuân phục đó, thậm chí, tôi đành cam chịu cả nhục hình để có cho bằng được đôi chân bé nhỏ nhất trong làng, chấp nhận đôi chân bó chặt trong lần vải lụa, tự làm gẫy, làm dập nát xương chân để suốt đời mang đôi chân tàn tật, một dấu hiệu phục tùng của phụ nữ nước tôi.

Khi sự đau đớn và nhẫn nhịn của tôi đã không thể nào chịu đựng được nữa và nước mắt nhỏ chan hòa trên làn lụa đã thấm máu, là lúc mà mẹ lại gần, thầm thì vào tai để khuyến khích tôi chịu đựng thêm một giờ nữa, một ngày nữa, rồi một tuần, và nhiều tuần sau nữa. Người luôn nhắc nhở tôi rằng Hạnh Phúc của tôi sẽ tùy thuộc hoàn toàn và lúc này, nếu tôi vượt qua được những đau đớn khó khăn. Mẹ dạy cho tôi cách chịu đựng, không những chỉ chịu đựng những đau đớn thể xác khi đôi chân bị hành hạ hay sau này khi sanh đẻ con cái, mà còn dạy cả cách chịu đựng những đau khổ tinh thần. Mẹ dạy tôi phải biến những khiếm khuyết của tôi thành ưu điểm. Tình mẫu tử đó không phải chỉ có thương yêu mà còn chứa đựng cả bao nỗi đớn đau nữa.

Cái làn băng vải ấy không phải chỉ làm biến dạng đôi chân tôi mà hầu như còn làm thay đổi cả cá tính của tôi nữa, và thật kỳ lạ, dường như nó theo đuổi và ảnh hưởng đến suốt cuộc đời của tôi: biến đổi tôi từ một đứa bé ngây thơ thành một thiếu nữ xuân thì, trở nên một thiếu phụ phục tùng ngay cả những đòi hỏi nhỏ nhặt nhất của gia đình; đến một phu nhân mẫu mực cầm cân nẩy mực trong làng. Nó làm biến dạng cả trái tim nhỏ bé của tôi, thậm chí làm mất cả lòng vị tha và rộng lượng với những người tôi thương yêu và những người thương yêu tôi.

Cuộc cách mạng lớn lao nhất trong đời tôi là tôi đã học được Nữ Tự, một tuồng chữ bí mật chỉ kín đáo được truyền dạy và sử dụng bởi phụ nữ chúng tôi, mà tôi được biết đến lần đầu tiên khi Tuyết Hoa, người chị em kết nghĩa, người bạn tri âm tri kỷ, người thầy dạy của tôi, đã gửi đến cho tôi những giòng chữ đầu tiên trong Chiếc Quạt Nhiệm Mầu mà ngày nay tôi còn cất giữ.

          Nhờ những sự học hỏi từ Tuyết Hoa mà tôi đã quyết tâm trở thành một người vợ đảm đang, một nàng dâu thuần thục, một bà mẹ gương mẫu và tỉ mỉ. Trong những giây phút khó khăn nhất, tôi biết giữ lòng cứng rắn như viên thạch quí. Tôi có một sức mạnh kín đáo giúp tôi vượt qua được mọi khó khăn cũng như đau khổ. Thế nhưng mãi đến hôm nay, trở thành góa bụa, ngồi một mình trầm mặc diện bích, tôi mới nhận ra rằng tôi đã mù quáng từ bấy lâu nay.

          Ngoại trừ những tháng ngày loạn lạc khủng khiếp trong rừng thẳm mà tôi đã trải qua vào năm thứ năm đời Hàm Phong, thì cả cuộc đời tôi đã đóng khung trong bốn bức tường của căn phòng dành cho phụ nữ. Chỉ thỉnh thoảng lắm tôi mới được bước chân ra khỏi phòng để đến chùa, để về nhà cha mẹ ruột, hay những lúc thật hiếm hoi được dạo chơi quanh quẩn với Tuyết Hoa. Ngoài ra, tôi không hề biết đến thế giới bên ngoài. Tôi nghe loáng thoáng đàn ông trong nhà nói về sưu cao thuế nặng, thời tiết khô cằn hay những phong trào nông dân nổi dậy. Thế nhưng, những thứ đó đối với tôi nó xa vời quá! Thế giới của tôi chỉ giới hạn quanh quẩn chuyện thêu thùa, dệt vải, hay bếp núc; giới hạn vào gia đình nhà chồng, con cháu và chắt, và phải kể đến cả Nữ Tự nữa. Cuộc đời tôi chẳng có gì là sôi nổi, mà thật chán phèo: từ thưở thiếu thời, đến thời búi tó củ hành, những tháng năm gạo muối đến những tháng ngày trầm mặc hiện nay.

          Tôi đấy! Cô đơn với những tháng ngày gặm nhấm kỷ niệm với Chiếc Quạt Nhiệm Mầu bên cạnh, mà mỗi lần mở cánh quạt ra tôi vẫn thầm ngạc nhiên sao nó có thể nhẹ nhàng đến thế, và có thể gợi cho tôi bao nhiêu niềm vui lẫn tiếc thương ngày tháng cũ đến thế! Tiếng quạt mở ra rồi khép lại nghe như tiếng con tim thổn thức. Kỷ niệm làm mắt tôi nhạt nhòa. Tôi đọc đi đọc lại biết bao nghìn lần những giòng chữ trên đó, như những giòng nhạc êm đềm thời niên thiếu.

          Tôi nhớ rõ ràng cái ngày mà bà mai mối đã trao chiếc quạt cho tôi. Tay tôi run lên khi khép cánh quạt lại, trên đó chỉ vỏn vẹn một giòng chữ viết dọc theo nếp quạt đầu tiên. Dạo ấy, tôi chưa đủ hiểu biết về Nữ Tự và không hiểu hết ý nghĩa nên thím tôi đã giải thích cho tôi: “Tôi biết có người con gái thật ngoan hiền, giỏi giang công việc nhà, sống trong căn nhà này. Chúng ta, tôi và bạn, đều sinh cùng ngày, cùng tháng, cùng năm. Chúng ta có thể nối liền vận mệnh của mình với nhau không?”. Ngày nay, mỗi khi nhìn lại những giòng chữ mềm mại, uyển chuyển ấy, không những tôi mường tượng được cô tiểu thư Tuyết Hoa dạo ấy, mà còn mường tượng được cả Tuyết Hoa sau này, trung thành, kiên cường, và hướng ngoại.

          Mắt tôi dán vào những nếp quạt khác đang dần dần mở ra trước mắt những giây phút êm đềm tràn ngập niềm vui, những lời tâm sự, những hứa hẹn mà chúng tôi trao đổi với nhau. Ngay từ lời hứa hẹn đầu tiên, bắt đầu bằng một hàng chữ đơn sơ, nhưng lại kết thúc bằng một nét vẽ thật cầu kỳ: những cánh hoa huệ hòa quyện với vài cọng tuyết mong manh, dấu hiệu gắn bó của hai mảnh đời của chúng tôi, Bạch Huệ  và Tuyết Hoa, kết nghĩa với nhau đời đời kiếp kiếp. Tôi cũng nhìn thấy ánh trăng lung linh, bên phía tay phải của bầu trời. Rồi chúng tôi được vẽ như hai cái cây sát bên nhau trọn kiếp, hay như hai con thiên nga tung tăng bơi lội không có gì chia cách được nhau. Trên một nếp quạt, Tuyết Hoa đã viết: “Tình cảm này sẽ gắn liền chúng ta mãi mãi, không có gì chia cách được”. Nhưng chỉ sau đó, lại là những đoạn không sao hiểu nổi, là lòng tin bị tan vỡ, là cánh cửa vĩnh viễn đóng chặt. Đối với tôi, Tình Yêu là một thứ gì thật quí báu mà tôi không thể nào chấp nhận chia xẻ, đó là lý do đã vĩnh viễn chia cắt tôi với người thương yêu duy nhất trong cuộc đời tôi.

          Tôi vẫn tiếp tục nghiền ngẫm thêm. Tôi tưởng là tôi đã thấu hiểu không những tình yêu mẹ con, mà còn tình yêu thương con cái, tình vợ chồng, cũng như tình yêu tôi dành cho người chị em kết nghĩa. Nhưng khi nhìn đi nhìn lại những giòng chữ được trao đổi giữa Tuyết Hoa và tôi, tôi mới biết rằng tôi đã không khám phá ra được tình yêu quan trọng nhất vẫn là mối tình thắm thiết của hai chúng tôi, từ tận đáy lòng.

          Những năm gần đây, tôi ngồi viết lại những câu chuyện của biết bao nhiêu người phụ nữ đã không có cơ hội học viết và đọc Nữ Tự từ bé như tôi. Tôi nghe họ kể lại những vui buồn và nuối tiếc, những bất công và những số phận hẩm hiu mà họ đã trải qua. Tôi nghe hết những mảnh đời đau khổ đó trước khi đặt bút viết lại.

          Nếu tôi càng quan tâm về chuyện của phụ nữ bao nhiêu thì tôi lại càng hờ hững về chuyện của đàn ông bấy nhiêu, nào là nông dân vùng dậy, trai tráng đi làm nghĩa vụ, v.v… những chuyện đó đối với tôi vẫn như là xa lạ.

          Bề ngoài, tôi tầm thường đến độ chỉ quan tâm đến những người trong gia đình. Nhưng trong tận cùng tâm khảm một sự xung đột trong tôi vẫn ngấm ngầm âm ỉ: sự xung đột giữa con người thật sự của tôi và một con người mà tôi mơ ước được trở thành như vậy.

          Những giòng chữ này, tôi viết cho những người đã thật sự lìa bỏ tôi. Mẫu Đơn, vợ của cháu nội tôi, đã hứa rằng sẽ đốt những giòng chữ đó theo tôi khi tôi về trời, để những giòng này sẽ mãi mãi theo tôi, và đến được với tổ tiên của tôi, nhưng nhất là để những giòng ăn năn hối lỗi này đến được với Tuyết Hoa, người tôi thương yêu đến tận cuối cuộc đời….

 

Chương 2 - Nhng ngày thơ u

          Tôi tên là Bạch Huệ, sinh ngày mồng năm tháng sáu vào năm thứ ba, triều đại vua Đạo Quang nhà Thanh, tức là vào khoảng năm 1823 dương lịch, nghĩa là còn trước khi có cuộc cách mạng tại Đài Bắc bắt đầu vào năm 1851 và chấm dứt vào năm 1864. Làng tôi, Phủ Quỳ, thuộc địa phận Vĩnh Châu. Đa số dân chúng trong vùng này thuộc về Dao tộc, còn gọi là Yao tộc. Thưở nhỏ, tôi nghe người ta kể truyện rằng cách đây cả hơn một ngàn hai trăm năm, dưới đời nhà Đường, là lần đầu tiên Dao tộc đã đặt chân đến đây. Nhưng ngàn năm sau, đa số bị săn lùng khi quân Mông Cổ đem vũ khí xâm lược Trung Quốc. Dân trong vùng không giàu có gì, nhưng dù nghèo khổ đến đâu, đàn bà vẫn không bao giờ phải ra làm việc đồng áng.

          Gia đình chúng tôi thuộc giòng họ Lý, một trong những hậu duệ đông đúc nhất của Dao tộc. Cha tôi cùng người người em trai đã thuê bẩy mẫu ruộng của một địa chủ giàu có ở tận vùng cực đông tỉnh Hà Nam, để trồng  khoai, trồng lúa, bông gòn, cả trái cây và rau cỏ nữa.

          Chúng tôi sống chung nhau trong một căn nhà hai tầng, trông về hướng nam theo phong thủy. Tầng trên là một gian rộng thông thống, không ngăn phòng, là nơi dành riêng cho phụ nữ và các cô gái trẻ chưa chồng, tôi gọi là Nữ phòng. Tầng dưới được chia ra thành từng phòng cho các cặp đã có gia đình, và một gian dành riêng cho gia súc ngay cạnh sườn của gian nhà chính. Trong gian chính, trên xà nhà, những giỏ mây đựng cam, đựng trứng, hay ớt khô được treo lủng lẳng để tránh xa chuột bọ, gà vịt và tránh không cho mấy chú heo thọc mõm vào. Dọc theo tường có kê một chiếc bàn dài và ghế đẩu. Ở góc tường đối diện là nơi mà mẹ và thím tôi kê bếp để nấu nướng cho cả nhà. Cả gian nhà chính không có đến một cái cửa sổ, cho nên vào những hôm trời nóng nực nhất, chúng tôi phải mở cửa trước suốt ngày để có được chút ánh sáng và không khí. Những gian khác sát dưới đất thì nhỏ hơn và như tôi đã nói rồi đấy, chúng tôi sống chung với gia súc mà.

          Tôi chưa bao giờ tự hỏi rằng thưở nhỏ tôi có sung sướng không. Tôi là đứa bé gái tầm thường, sống trong một gia đình tầm thường trong một làng xã cũng tầm thường nốt. Chưa bao giờ tôi thắc mắc hay biết đến một cuộc sống nào khác với cuộc sống của gia đình tôi. Nhưng tôi lại nhớ rất rõ cái năm mà tôi bắt đầu để  ý đến những sự việc xảy ra chung quanh tôi. Đó là vào năm tôi lên năm tuổi, tự nhiên tôi cảm thấy như tôi đã bước một bước thật quan trọng vào cái ngày sinh nhật ấy.

Hôm ấy, tôi dậy từ tờ mờ sáng, tự nhiên trong trí tôi có một điều gì rất kỳ lạ. Cái cảm giác là lạ ấy cứ tăng dần làm tôi thay đổi hẳn cách nhìn sự việc chung quanh. Chị hai và cô em út nằm hai bên tôi vẫn ngáy khò khò. Tôi nhìn sang giường bên kia, Diễm Nguyệt, người em họ cùng tuổi với tôi, là con của chú thím tôi, cũng còn đang ngủ say sưa. Tôi cứ nằm đấy bất động, chờ cho chị và em tôi cựa quậy. Tôi quan sát chị hai của tôi, chị ấy lớn hơn tôi bốn tuổi. Chúng tôi vẫn ngủ chung giường với nhau nhưng tôi chỉ thật sự biết rõ chị hơn kể từ sau khi chị bị bó chân, cũng như kể từ khi chính tôi gia nhập vào cái thế giới của những người đàn bà trong nhà. Cô em gái út bé hơn tôi một tuổi thì tôi lại ít khi để ý đến nó.

Tôi nghĩ rằng chị hai và em út cũng chẳng quan tâm gì đến tôi đâu. Cái sự thờ ơ ấy giữa chị em chúng tôi cũng là thường tình, là thói quen thôi, vì mỗi đứa chúng tôi đều chỉ muốn được mẹ để ý đến riêng mình, cũng như tự tìm cách để gợi sự chú ý của cha. Chúng tôi cũng mơ ước được cùng tung tăng với anh trai lớn, người được cưng chiều, quí giá nhất trong gia đình, vì anh là con trai, lại là con trưởng.

Với cô em họ Diễm Nguyệt của tôi thì khác, chúng tôi thật thương mến nhau, thật sung sướng với ý nghĩ là chúng tôi sẽ gắn bó với nhau mãi cho đến khi cả hai đứa lấy chồng.

          Cả bốn đứa chúng tôi giống nhau nhiều điểm lắm. Bốn đứa đều cắt tóc ngắn, đều mảnh khảnh và cao sàn sàn như nhau. Về điểm khác nhau giữa chúng tôi ư? Ít lắm! Này nhé: Chị hai tôi thì có nốt ruồi duyên sát môi trên. Em gái út của tôi thì buộc tóc thành một cái bím ngay giữa đỉnh đầu, vì em không bao giờ muốn bị mẹ chải tóc cho em! Diễm Nguyệt thì có khuôn mặt tròn như trăng rằm. Còn tôi? Tôi có đôi bắp chân thật cứng cáp và đôi tay rắn chắc, mạnh mẽ để còn bế em trai bé của tôi, lúc ấy còn là một đứa bé con.

          - Dậy đi các con!

          Tiếng mẹ tôi kêu to ở tầng dưới. Tiếng kêu ấy làm bọn con gái còn say ngủ hay còn đang nằm nướng trên giường phải bật dậy ngay. Chị hai thay quần áo vội vàng rồi phóng như bay xuống cầu thang. Riêng tôi và Diễm Nguyệt thì lâu lắc hơn, vì chúng tôi còn phải mặc quần áo cho cô em út nữa trước khi phóng xuống nhà dưới.

          Thím tôi đang loay hoay quét nhà, còn chú thì đang lẩm nhẩm hát một điệu nhạc vui tươi buổi sáng. Mẹ vừa bồng em trai sau lưng, vừa đổ nước sôi vào bình trà trong khi chị hai thì đang xắt hành lá vừa canh chừng nồi cháo nóng. Chị lạnh nhạt ra dấu như để cho tôi biết rằng chị đã làm xong nghĩa vụ công dân bữa nay rồi và có thể ra khỏi nhà suốt thời gian còn lại. Tôi cứ phớt tỉnh ăng lê đi như không để ý đến cái sự tự mãn ấy của chị.

          - Diễm Nguyệt, Bạch Huệ! Lại đây.

Thím tôi lên tiếng chào chúng tôi như thế. Chúng tôi chạy ào lại. Thím ôm Diễm Nguyệt trong tay, tay kia vỗ vào mông tôi. Còn chú thì chạy lại bế bổng Diễm Nguyệt lên quay một vòng. Khi đặt Diễm Nguyệt xuống đất rồi, chú nháy mắt với tôi và bẹo má tôi một cái.

          Chắc các bạn đã từng nghe nói rằng những người đàn ông và đàn bà đẹp hoặc tài giỏi thường thường chỉ kết duyên giữa họ với nhau thôi cho xứng đôi xứng cặp. Sáng hôm ấy, tôi mới chợt nhận ra là chú và thím của tôi cũng là một cặp rất xứng đôi vì cả hai đều xấu ơi là xấu! Đôi chân của chú cong vòng không thẳng, trán thì sói, mặt lại vừa tròn xoe vừa bóng lưỡng! Thím thì lùn tịt phục phà phục phịch, hàm răng không đều, cái cao cái thấp trông như mấy vách đá lởm chà lởm chởm trên lối đi vào một hang động! Và mặc dù cũng được bó chân, nhưng chân thím cũng phải dài đến 14 phân ấy, tức là dài gấp đôi chân của tôi sau này. Những người xấu miệng trong làng thì nói rằng chính vì thế, cũng như vì thím tôi có cái hông to bè bè ra mà thím đã không thể nào sinh được một đứa con trai. Dĩ nhiên trong gia đình tôi thì chẳng ai lại nói như thế, kể cả chú tôi. Dưới mắt tôi thì chú thím là cặp vợ chồng lý tưởng: chú tuổi con chuột là một người rất vui tính và cởi mở, thím tuổi con trâu, là một người rất hiền thục. Cả hai lúc nào cũng đem lại nguồn vui và tiếng cười rộn rã trong gia đình.

          Mẹ tôi thì dường như chẳng bao giờ để ý đến sự hiện diện của tôi cả, từ hồi nào tới giờ vẫn vậy. Thế nhưng hôm ấy, cái hôm tôi lên năm tuổi, thì tôi mới nhận thấy thật tủi thân với sự hờ hững của mẹ. Đột nhiên, tôi buồn kinh khủng, nỗi buồn ấy làm tan biến cả niềm vui mà chú thím của tôi vừa mang tới; nhưng may thay, nó lại tan biến ngay khi anh cả của tôi, lớn hơn tôi sáu tuổi, gọi tôi đến để giúp anh làm công việc buổi sáng. Tuy cầm tinh con ngựa nhưng tôi lại chẳng bao giờ được bước ra khỏi nhà. Cho nên khi anh gọi, tôi vui sướng lắm. Thích hơn nữa là suốt buổi sáng hôm ấy chỉ một mình tôi được ở bên cạnh anh. Tôi biết là chị và em tôi ganh tị lắm đấy. Khi anh cả gọi đến tôi, cũng như khi anh mỉm cười với tôi thì tôi thấy như tôi quan trọng hẳn lên, không còn là "người vô hình" trong nhà này nữa!

          Tôi vội chạy ù ra ngoài gặp anh. Anh cả dắt tôi ra giếng múc nước đổ đầy sô rồi chúng tôi phải gánh nước về nhà. Sau đó, lại còn phải đi kiếm củi nữa chứ. Anh tôi bó củi lại thành từng bó, những cành nhỏ nhất thành một bó con con để tôi mang cho dễ, còn anh thì mang những cành to lớn hơn. Về đến nhà, trao cho mẹ, tôi chỉ chờ đợi một lời khen. Đâu có đứa bé năm tuổi nào mà giỏi như tôi chứ? Phụ anh gánh nước này, lại còn đem củi về cho mẹ đốt lửa này. Thế mà mẹ tôi vẫn lạnh như tiền, chẳng nói với tôi một câu!

          Bao nhiêu năm sau, mãi đến bây giờ mà tôi vẫn còn nhớ mãi cái cảm giác tủi thân vì sự lạnh nhạt của mẹ ngày hôm ấy, cái cảm giác là dưới mắt mẹ tôi chẳng là cái gì cả. Tôi là đứa con thứ ba trong gia đình, một đứa con gái thừa thãi, vô tích sự, chẳng đáng để mẹ bận tâm săn sóc. Mẹ đối với tôi như tất cả các bà mẹ khác đối với con gái của họ, như một gánh nặng, chỉ làm quẩn chân mọi người, chỉ tốn cơm áo cho đến khi tống cổ được sang gia đình nhà chồng. Tôi đã năm tuổi rồi, tôi đủ lớn rồi để cảm nhận ra điều đó chứ. Nhưng sao mãi đến hôm ấy, tôi mới cảm thấy buồn tê tái. Tôi chỉ mong mẹ nhìn tôi trìu mến như mẹ đã nhìn anh cả khi anh trao bó củi cho mẹ. Nhưng ngay trong lúc ấy tôi cũng khôn ngoan nhớ ra rằng mẹ sẽ sẵn sàng cáu gắt nếu tôi cản trở công việc của mẹ. Mẹ vẫn thường hay to tiếng với tôi khi tôi làm vướng chân mẹ. Cho nên, tôi thầm nhủ ngay là tôi sẽ xử sự như chị hai của tôi, ngoan ngoãn, vâng lời tối đa và phải chứng tỏ rằng tôi cũng hữu dụng.

          Bà nội tôi đi khập khễnh vào phòng. Khuôn mặt bà nhăn nhúm như một trái mận sấy khô, lưng thì còng xuống khiến ánh mắt bà chỉ ngang tầm mắt của tôi thôi.

          - Lại giúp bà Nội kìa, - mẹ tôi hất hàm nói, xem bà có cần gì không.

          Mặc dù vừa mới tự nhủ sẽ ngoan ngoãn vâng lời, nhưng tôi vẫn ngập ngừng khi tiến lại gần bà Nội, nhưng bà đã vội vã đưa tay ra níu lấy tôi. Tôi lùi lại một bước, lại gần cha, cầu cứu. Cha tôi là người con thứ mười một trong gia đình, là người được bà cưng chiều, quí hóa nhất. Nhưng cha cũng chẳng nói năng gì cả. Trong trí nhớ của tôi, chưa bao giờ tôi thấy cha mở miệng nói với ai câu nào trước khi cha xong hết công việc đồng áng ban ngày. Ông đang ngồi đó chờ mẹ đem thức ăn sáng ra mời. Tôi chăm chú quan sát mẹ, đang lui hui rót trà cho cha, chẳng nói chẳng rằng. Tôi càng sợ những lúc mẹ giận dữ khi tôi làm trở ngại công việc buổi sáng của mẹ bao nhiêu thì tôi lại càng nhận ra sự dịu dàng trìu mến của mẹ đối với cha bấy nhiêu. Ông ít khi đánh mẹ, và không bao giờ có nhân tình. Sự săn sóc của mẹ dành cho cha đã là một tấm gương cho tôi sau này.

          Thím tôi múc cháo ra bàn cho mọi người trong khi mẹ cho em bú sữa. Ăn xong, chú và cha ra đồng làm việc trong khi bà Nội, thím, mẹ và chị hai lên lầu, vào Nữ phòng. Tôi muốn theo vào lắm, nhưng tôi còn bé quá, chưa được phép. Tôi chỉ được phép phụ giúp anh cả hay chơi với em gái và em trai út thôi.

          Tôi đeo em bé sau lưng trong lúc đi nhặt cỏ và rễ cây để cho heo ăn. Em gái út nhìn tôi rồi bắt chước làm theo. Em là một cô gái nhỏ bé tí xíu nhưng lại hay làu bàu cằn nhằn suốt ngày, làm như là lúc nào người khác cũng có lỗi với em. Em quên rằng chỉ có con trai trong nhà mới được quyền làm như thế thôi. Lúc nào em cũng tưởng như là em được cưng chiều nhất trong nhà. Còn khuya! Khùng điên quá.

          Khi xong việc rồi, chúng tôi đi lang thang một lúc trong làng, leo lên leo xuống những con đường nhỏ hẹp lượn lờ giữa những căn nhà nghèo nàn. Chúng tôi gặp một đám con gái đang nhẩy dây với nhau. Anh cả ngừng lại, tháo em bé ra bế trên tay để tôi có thể nhập bọn chơi một lúc với đám con gái. Sau đó, thì chúng tôi cùng nhau về nhà ăn trưa với một chén cơm và vài cọng rau. Ăn xong, anh cả nhập bọn với đàn ông trong nhà ra đồng làm việc tiếp. Đàn bà thì lên lầu để mẹ cho em bú sữa trước khi đặt em xuống ngủ trưa bên cạnh em gái út. Chưa bao giờ tôi được ngồi cạnh bà Nội, thím, chị hai, và nhất là mẹ. Bà Nội và mẹ ngồi khâu áo. Diễm Nguyệt và tôi quấn chỉ vào những con thoi. Thím ngồi một góc với nghiên mực và chiếc cọ trên tay, đang tỉ mỉ viết những chữ bí mật, trong lúc chị hai ngồi chờ đám chị em nuôi của chị.

          Chẳng bao lâu chúng tôi đã nghe tiếng bốn đôi chân rầm rầm bước lên cầu thang. Chị Hai mừng rỡ ra đón họ rồi cả năm cô gái chạy ra tụ tập nơi góc phòng. Họ không muốn ai xen vào những mẩu đối thoại của họ, nhưng không ai cấm tôi liếc đuôi mắt nhìn và quan sát họ, biết rằng chỉ cần hai năm nữa thôi, tôi cũng đủ tuổi để có thể lập một nhóm "chị em nuôi" như thế.

          Làng tôi có lệ là các cô bé đến khi lên bảy, được quyền họp nhau lại thành một nhóm chị em nuôi để có thể thường xuyên gặp gỡ nhau, không cần phải chờ những dịp lễ tết, như ngày Lễ Chim Chóc, hay ngày lễ Nghinh Phong. Theo phong tục, để kết nối tình hữu nghị, mỗi người cha phải dành ra hai mươi lăm cân gạo cất giữ trong nhà. Khi một cô gái trong nhóm đến tuổi lấy chồng thì phần gạo của cô ấy sẽ được đem ra bán để các cô còn lại trong nhóm dùng tiền đó mà mua quà cưới cho cô dâu. Cứ như thế cho đến khi cô gái cuối cùng trong nhóm lấy chồng thì nhóm chị em nuôi sẽ giải tán, vì mỗi cô sẽ theo chồng đi về những làng xã xa xôi, cũng như sẽ bận bịu nuôi dưỡng con cái và phục tùng nhà chồng, phải hy sinh tình bạn thời niên thiếu.

          Mặc dù sự hiện diện của đám chị em nuôi, chị hai của tôi vẫn không lên tiếng gì cả, chị yên lặng ngồi ngay chính giữa đám chị em, cặm cụi thêu thùa, hay nghe đám bạn kể chuyện. Chỉ khi nào đám con gái ồn ào quá hay cười nói om xòm thì mẹ tôi mới lên tiếng nhắc nhở đừng làm ồn. Chỉ với đám con nít mẹ mới dám thế thôi, chứ những lúc bà Nội tiếp các bà chị em nuôi của Nội thì mẹ có dám lên tiếng đâu. Từ khi các con trưởng thành hết rồi, thì Nội cũng lập một nhóm chị em nuôi mới của Nội. Ngoại trừ bà Nội của tôi, thì trong nhóm của Nội chỉ còn hai bà khác còn sống góa bụa. Họ gặp mặt nhau mỗi tuần một lần, nói cười vui vẻ và trao đổi nhau những mẩu chuyện mà chúng tôi chẳng hiểu gì ráo trọi. Các bà cứ nói chuyện huyên thuyên liên tục mà mẹ chẳng bao giờ dám lên tiếng, trừ những lúc tự nhiên các bà xao lãng chuyện khác thì mới chịu im.

          Đột nhiên, mẹ hết chỉ may và đứng lên tìm chỉ. Mẹ đứng khựng lại trong vài giây, đôi mắt bâng quơ không nhìn đâu cả. Trong khoảnh khắc, tôi chợt thèm chạy lại ôm lấy mẹ trong tay gọi "Mẹ! Nhìn con nè", nhưng tôi lại không dám làm như thế. Thưở nhỏ của mẹ, bà Ngoại tôi đã vụng về khi bó chân cho mẹ, cho nên thay vì có đôi chân bé bỏng xinh xắn, thon búp như bông hoa huệ thì chân mẹ lại bị biến dạng, u lên một cục trông thật xấu xí. Vì thế mẹ đi lại khó khăn và không quân bình, nên cứ phải dựa vào chiếc gậy chống. Nếu không, thì mẹ phải khoác tay vào một người khác để giữ thăng bằng khi đi đứng. Người mẹ cứ lảo đảo trên đôi chân yếu đuối ấy nên không thể nào ôm xiết chúng tôi trong tay.

          Thím tôi lên tiếng, cắt đứt giòng tư tưởng của mẹ:

          - Diễm Nguyệt, Bạch Huệ! Nếu chán, thì các con có thể chạy ra ngoài phụ với anh hai.

          - Anh chúng không cần chúng giúp. Mẹ tôi gắt.

          - Tôi biết chứ! - Thím trả lời- nhưng hôm nay trời đẹp quá…

          Mẹ lại gắt:

          - Không, tôi không muốn mấy con nhỏ này chạy lông nhông trong xóm trong lúc chúng còn biết bao nhiêu thứ phải học ở đây. 

          Nhưng đời nào thím tôi chịu nhượng dễ dàng đến thế. Thím vẫn mong là chúng tôi phải biết hết những con đường trong xóm, thậm chí phải ra đến tận cổng làng, khám phá những làng xóm chung quanh. Thím biết rất rõ rằng chẳng còn bao lâu nữa, trong mắt chúng tôi, chỉ còn một hình ảnh duy nhất: hình ảnh bên ngoài, nhìn qua khung cửa sổ có chấn song của căn Nữ phòng này.

          - Chúng nó chỉ còn chạy nhảy được ít tháng nữa thôi. Cứ để chúng tự do lông bông khi chúng còn có thể chạy nhảy được.

          Ý thím muốn nói đến lúc chân chúng tôi cũng sẽ bị bó lại trong làn vải lụa, với những khớp xương gẫy vụn và da thịt chai lại.

           Mẹ tôi kiệt sức không nói nữa. Mẹ phải nuôi năm đứa con, trong đó đến ba đứa còn dưới năm tuổi. Mọi việc trong nhà đều do tay mẹ cáng đáng: dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ, may vá thêu thùa, cơm nước, chưa kể là mẹ phải thu vén mọi chi tiêu trong gia đình. Trong nhà, mẹ có quyền hơn thím, nhưng không phải vì thế mà lúc nào cũng chống đối lại mọi ý kiến của thím.

          - Thôi được, các con muốn đi thì đi.

          Tôi nắm tay Diễm Nguyệt, nhảy tững lên. Thím đẩy chúng tôi ra cửa trước khi mẹ tôi đổi ý. Đám bạn của chị tôi thì liếc mắt nhìn theo hai đứa tôi một cách thèm thuồng. Chúng tôi bước hai bước một lè lẹ xuống cầu thang chạy tọt ra ngoài. Lúc xế chiều là lúc thích thú nhất: trời nóng, thơm ngan ngát, và đám ve sầu bắt đầu lên tiếng hát. Chúng tôi chạy dọc theo con đường nhỏ và thấy anh tôi đang ngồi trên con trâu duy nhất của gia đình. Anh ngồi vắt vẻo trên lưng trâu, một chân quặp xuống dưới bụng nó, chân kia cứ đập liên hồi vào sườn con trâu. Chúng tôi lững thững đi theo, trên những con đường nhỏ hẹp, quanh co rắc rối đã che chở dân làng phòng trộm cướp hay những kẻ xấu.

          Chẳng có bóng dáng một người lớn nào ngoài đường. Đàn ông thì ở ngoài đồng ruộng, đàn bà dấu mình sau chiếc cửa sổ có chấn song của Nữ phòng. Trên đường trong xóm, chỉ thấy trẻ con và gia súc: gà, vịt, mấy chú heo ủn ỉn và đám heo con cứ kêu eng éc điếc cả tai.

          Chúng tôi ra khỏi làng, đi trên con đường đê cao lót đá cuội nhỏ chỉ hẹp vừa đủ để khách bộ hành hay chiếc kiệu đi qua, không đủ rộng cho xe bò hay xe lừa kéo. Chúng tôi đi theo con đường đó đến tận bờ sông Tiêu và dừng lại trước chiếc cầu bắc ngang giòng sông lờ lững chảy. Bên kia bờ, hiện ra mờ mờ những mảnh ruộng vườn trồng lúa hay ngô khoai. Nền trời trong xanh trải rộng trên đầu chúng tôi. Từ bờ bên này, chúng tôi có thể nhìn sang tận những làng xóm bên kia sông, những nơi mà chúng tôi nghĩ rằng suốt cuộc đời sẽ không bao giờ có dịp đặt chân đến. Rồi chúng tôi đi lần xuống con dốc, ngồi bên bờ sông. Gió chiều lao xao thổi lung linh đám lau sậy bên bờ. Tôi ngồi trên một hòn đá, cởi dép ra để ngâm chân dưới giòng nước mát rượi. Hơn bẩy mươi lăm năm trôi qua kể từ hôm ấy, mà tôi vẫn còn nhớ được cái cảm giác nhờn nhờn của bùn đất lùa qua kẽ chân, cái mát lạnh của nước trên da thịt và những lọn sóng lăn tăn cứ mơn trớn đôi chân. Hai đứa tôi thật tự do ngày hôm ấy, cái ngày duy nhất trong cuộc đời chúng tôi mà sau đó không bao giờ tôi tìm lại được. Cái cảm giác ấy nó theo đuổi chúng tôi mãi, cũng như cái cảm giác kỳ lạ sáng sớm nay khi tôi tỉnh giấc, tôi đã nhìn mọi người trong gia đình một cách khác thường với bao nhiêu tâm tư lẫn lộn: buồn, ghen, nhất là cảm thấy những bất công, thiên vị chung quanh tôi. Thế nhưng lúc này, giòng nước đã rửa sạch hết mọi ưu tư của tôi.

          Tối hôm ấy, sau giờ ăn, chúng tôi ra ngồi trước sân cho mát, nhìn chú và cha tôi hút thuốc lào. Mọi người đều có vẻ mệt mỏi sau một ngày làm việc. Mẹ cho em bé bú sữa lần cuối trước khi ru em ngủ. Công việc trong ngày của mẹ vẫn chưa xong. Tôi vòng tay quấn vào vai của mẹ để vỗ về.

- Nóng mẹ nào! Mẹ nói trong khi nhẹ nhàng đẩy tay tôi ra.

          Chắc là cha tôi đã nhìn thấy thế, cảm được nỗi thất vọng của tôi, nên cha kéo tôi lại đặt lên lòng. Trong cái không khí êm ả của màn đêm vừa chập choạng, tôi chợt trở thành quí báu dưới mắt cha. Ít nhất là trong cái khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, tôi như một viên ngọc quí trong lòng bàn tay ông. Hôm ấy, tôi lên năm.

 

Chương 3 – Bó chân

Khi tôi đến tuổi phải bó chân thì giai đoạn chuẩn bị đã lâu hơn là dự tính. Những gia đình ở thành thị thường bó chân cho con gái khi được ba tuổi. Ở thôn quê hay những làng mạc kém văn minh hơn thì chỉ bó chân cho có lệ trong một thời gian ngắn thôi, để cho cô gái trông hấp dẫn hơn khi đến tuổi lấy chồng. Có khi đến 12 tuổi cô gái mới phải bó chân trong những băng vải cũng không được chặt lắm, để cho xương không bị dập. Đến lúc lấy chồng thì được tháo băng vải ra để cô gái có thể cùng chồng lo việc đồng áng. Những cô con gái sinh trong gia đình khốn khó hơn thì có thể không bị bó chân nữa kìa, nhưng chúng tôi biết rằng như thế thì số phận cô gái đó đã được định rồi: cô ta chỉ có thể được bán làm nô lệ, hoặc bán cho các gia đình giàu có để làm đầy tớ. Những cô gái có đôi chân to lớn thường chỉ làm những việc khốn khó hay được gả vào những gia đình bần hàn, được dạy dỗ cho đến khi họ đến tuổi sanh con đẻ cái.

          Trong làng tôi thì con gái đến sáu tuổi phải bắt đầu bó chân trong vòng hai năm trời. Kể từ lúc tôi lên năm, mẹ tôi đã bắt đầu dệt những băng vải màu xanh để dùng vào việc bó chân tôi. Mẹ tự tay làm cho tôi đôi giầy đầu tiên, chưa kể còn may bao nhiêu là đôi hài bé tí xíu để đem lên đền Giáng Tiên, là vị nữ thần chuyên nghe những lời cầu nguyện của phụ nữ. Những đôi hài bé tí ti này chỉ dài độ ba phân rưỡi, may bằng một loại vải đặc biệt màu đỏ mà mẹ đã cẩn thận xếp nó vào một chiếc giỏ mây. Đó là dấu hiệu đầu tiên chứng tỏ mẹ quan tâm đến tôi.

          Khi tôi và Diễm Nguyệt được sáu tuổi, mẹ và thím tôi gọi một ông thầy tướng số đến chọn ngày tốt để bắt đầu bó chân cho chúng tôi. Người ta thường cho rằng mùa thu là tốt nhất, vì mùa đông sắp đến rất tốt cho da thịt săn chắc lại. Tôi thì tôi chẳng mong cái ngày ấy bao giờ cả. Trái lại tôi còn mong nó không bao giờ đến. Tôi cũng không nhớ lúc chị hai bị bó chân thì ra sao, nhưng dân trong làng chẳng ai mà không nghe những tiếng kêu la đau đớn của cô gái nhà họ Vũ bên kia đường khi người ta bắt đầu băng chân cho cô.

          Mẹ tôi mời ông thầy tướng số họ Hứa đến, ngồi nơi phòng dưới nhà, mời ông uống trà và cắn hạt dưa. Ông Hứa bắt đầu với tôi trước, ông hỏi ngày sanh tháng đẻ của tôi, đề nghị nhiều giải pháp khác nhau, cuối cùng ông ngỏ ý muốn nhìn tôi tận mắt. Thông thường, chỉ cần coi ngày sanh tháng đẻ là đủ. Cho nên khi ông nói thế thì khuôn mặt mẹ không khỏi băn khoăn, lo lắng. Mẹ dắt tôi đến ngồi trước mặt ông thầy tướng. Tôi thấy ngón tay ông ta xoa nắn đôi vai tôi trong lúc ông quan sát tôi thật gần.

          - Đôi mắt? Không có gì để nói. Đôi tai cũng thế… Nhưng cái miệng này… không phải là một đứa trẻ tầm thường đâu.

Ông ta nhìn mẹ tôi và kết luận như thế. Mẹ nín thở, nghiến chặt răng lại. Lời nói của ông thầy tướng số khiến mẹ hồi hộp. Ông Hứa lại nói tiếp:

- Chắc là tôi phải hội ý thêm với một người nữa cho chắc ăn. Tôi đề nghị gọi một bà mai có kinh nghiệm đến để cho ý kiến. Bà có đồng ý không?

           Ai mà biết được có phải ông thầy tướng số cố tình gọi thêm bà mai mối đến để toa rập nhau kiếm chút tiền còm. Nhưng mẹ tôi không chần chờ. Sự nôn nóng khiến mẹ chẳng nghĩ đến việc hỏi ý kiến của cha:

- Ông cứ trở lại bất cứ lúc nào. Chúng tôi đợi ông.

          Ông thầy tướng số ra về, để lại bao nhiêu là phiền muộn bối rối cho gia đình tôi. Mẹ tôi cứ nghiến răng kèn kẹt suốt buổi tối, hay nói đúng ra, mẹ tránh nhìn thẳng vào tôi. Thím tôi cũng chẳng còn bụng dạ nào nói bông đùa như mọi khi. Bà Nội cũng rút vào phòng lâm râm khấn khứa. Chú và cha tôi bỏ ra ngoài đi tản bộ một vòng. Các anh em trai của tôi giữ im lặng không nói gì, như cảm thấy một điều gì bất hạnh sắp xảy ra trong gia đình.

          Ngày hôm sau, cả gia đình dậy thật sớm để làm bánh, pha trà hoa cúc. Những chén tách đặc biệt được đem từ trong tủ ra để tiếp khách. Cha tôi không ra đồng mà ở lại nhà để chờ khách đến. Tất cả mọi sự sửa soạn quá đáng này chỉ làm cho tình hình càng trở nên nghiêm trọng. Và quan trọng hơn nữa, là ông Hứa không trở lại cùng với Bà Cựu, người mai mối trong vùng; mà ông ta lại đến cùng với bà Quảng, đến từ Cự Tống, một làng lớn và giàu có nhất trong vùng.

          Cũng nên nói rõ hơn là bà Cựu, người mai mối trong làng tôi, cũng chưa hề bước chân đến nhà tôi bao giờ. Trên nguyên tắc thì phải một vài năm nữa mới cần đến bà khi anh cả của tôi cần kiếm vợ, hay đến khi có nhà trai nào muốn dạm hỏi chị hai của tôi. Bà Quảng thì lại càng xa lạ với dân làng tôi. Thế cho nên khi chiếc kiệu của bà Quảng dừng trước cửa, tôi ngồi trên lầu, nhìn qua song cửa sổ, thấy xóm giềng túa ra, chõ mũi dòm sang nhà tôi. Cha tôi kính cẩn quì xuống, cúi gập người lạy chào bà khách quí. Tôi thấy thật thương hại cho cha khi thấy ông lo lắng ra mặt, đó là một đặc điểm của những người cầm tinh con dê. Cha phải chịu trách nhiệm cho tất cả mọi người sống dưới mái nhà này, nhưng sự việc xảy đến ngoài tầm hiểu biết của ông.

          Chú của tôi vắt chéo chân nọ sang chân kia trong khi thím bình thường vui nhộn lắm, bây giờ cũng đứng thẳng đuỗn ra bên cạnh chú. Không còn nghi ngờ gì nữa: mọi việc đã không diễn tiến một cách bình thường. Không biết là điềm lành hay điềm gở.

          Khi mọi người đã vào nhà cả rồi, tôi rón rén ra ngồi ở đầu cầu thang để theo dõi mẩu đối thoại. Bà Quảng ngồi xuống. Người nhà đem trà mứt ra mời. Tôi tội nghiệp cho cha cứ không ngừng nói những câu đẩy đưa khách sáo. Nhưng bà Quảng đến đây không phải để nghe những câu chuyện rào đón tầm phào với một gia đình tầm thường như gia đình chúng tôi. Bà ta đến chỉ để quan sát tôi thôi. Cuối cùng tôi được gọi xuống. Tôi bước xuống thang, vào gian phòng chính với tất cả can đảm của cô bé sáu tuổi với đôi chân lúc ấy hãy còn dài và thô lắm.

          Tôi nhìn quanh quẩn, cầu cứu người lớn. Với thời gian, dù bao nhiêu kỷ niệm lần lượt chìm vào quên lãng, tôi vẫn nhớ như in những khuôn mặt ngày hôm ấy. Bà Nội tôi ngồi đó, đôi mắt cúi xuống trên đôi tay khoanh lại. Da của Nội vừa mỏng manh vừa nhợt nhạt, nhìn rõ cả những làn gân xanh hiện lên. Cha tôi ngồi yên không nói câu nào, đầy ưu tư. Chú và thím tôi ngồi cạnh nhau nơi khung cửa nửa như đang thấp thỏm không biết chuyện gì xảy ra, nửa như bồn chồn hồi hộp. Nhưng tôi nhớ nhất là khuôn mặt của mẹ. Bình thường, tôi thấy mẹ thật đẹp, nhưng riêng ngày hôm ấy, tôi khám phá ra bản chất thực sự của mẹ. Từ lâu tôi đã biết mẹ tuổi con khỉ, nhưng chưa bao giờ tôi để ý là cái tuổi ấy nó ảnh hưởng đến mẹ ra sao. Hôm ấy, khuôn mặt mẹ trở nên hoang dã làm sao với đôi gò má nhô lên; ánh mắt đong đưa đồng loã. Tôi cảm thấy như có điều gì đó, mà mãi tới nay tôi cũng chưa xác định được. Có chút tham vọng gì đó, bình thường chỉ thấy nơi đàn ông, đang tỏa lan ra khắp cơ thể mẹ.

          Mọi người bảo tôi ngồi xuống trước mặt bà Quảng. Chiếc áo khoác của bà tuyệt đẹp. Nhưng trẻ con thì hơi thiếu thẩm mỹ và kín đáo. Sau này tôi mới nhận ra chiếc áo ấy hơi lộng lẫy quá đáng và không thích hợp tí nào với một bà góa phụ như bà Quảng; nhưng điều này cũng không có gì là lạ, vì một bà mai chuyên nghiệp như bà thì đâu có phải là một người tầm thường: bà chuyên thương lượng với những người đàn ông, định giá các cô dâu tương lai, và mặc cả những của hồi môn. Bà Quảng cười oang oang, và nói toàn những lời đường mật. Bà bảo tôi tiến lại gần, đặt tôi ngồi lên đùi và nhìn thẳng vào mắt tôi, khiến tôi thấy thật nhột nhạt.

          Bà Quảng quan sát tôi thật kỹ càng hơn ông thầy tướng số hôm qua. Bà kéo mí mắt tôi và bảo tôi liếc nhìn về mọi phía. Hai tay bà giữ hai bên má tôi và bảo tôi quay đầu qua quay đầu lại. Sau đó bà bóp nắn hai cánh tay tôi, từ vai xuống đến cổ tay. Cuối cùng, bà đặt tay vào hai bên hông của tôi. Lúc ấy, tôi mới lên sáu thôi, đâu có cách chi mà biết chắc được là tôi có mắn con hay không chứ! Nhưng bà vẫn xem xét tôi như thường, mà trong nhà chẳng có ai lên tiếng phản đối cả.

          Chưa hết, còn ngạc nhiên hơn nữa là bà đứng lên và bảo tôi ngồi vào ghế của bà. Tôi thật là ngượng ngùng, nhìn quanh quẩn tìm cha mẹ tôi để chờ xem có ai giúp tôi không, nhưng cha mẹ cũng đứng chết sững ra đó, như những con vật sắp sửa bị người ta đưa vào lò sát sinh. Khuôn mặt cha tôi trở nên xám ngoẹt, như là ông đang tự hỏi: sao không ném ngay cái con bé này xuống sông lúc mới đẻ nó cho rồi?

          Bà Quảng thấy thế nhấc tôi lên và đặt vào chiếc ghế của bà. Rồi bà quỳ gối trước mặt tôi tự tay tháo đôi dép và đôi vớ trên chân tôi. Cả gian nhà lại im phăng phắc đến rợn người. Giống như lúc nãy bà đã quan sát gương mặt tôi, bà cầm chân tôi bẻ qua bẻ lại mọi hướng, rồi lấy móng tay gãi gãi dọc theo lòng bàn chân tôi.

          Bà hất hàm nhìn ông thầy tướng số, rồi bà đứng dậy, ra hiệu bảo tôi đứng lên. Khi bà ngồi vào ghế rồi, ông thầy tướng số hắng giọng nói:

          - Con gái ông bà có nhiều quí tướng. Hôm qua, tôi đã cảm thấy như thế rồi, và bà Quảng, một người có nhiều kinh nghiệm hơn tôi, cũng đã chứng thực nhận xét ấy của tôi. Khuôn mặt hình trái soan thật thanh tú. Hai dái tai dầy dặn chứng tỏ sự rộng rãi. Nhưng quan trọng hơn cả là đôi chân cô ấy. Cái lòng bàn chân rất rõ nét mặc dù chưa phát triển hết ở tuổi cô ấy. Điều đó có nghĩa là, - ông ta nói tiếp trong khi quay sang nhìn mẹ tôi - bà phải đợi thêm một năm nữa trước khi bó chân cô bé lại.

          Ông ta phủi hai tay vào nhau, nói tiếp như sợ có người xen vào:

          - Ở làng ta, không có lệ phải chờ đến bảy tuổi mới bó chân, tôi biết rõ điều đó. Nhưng nếu ông bà thử nhìn con gái ông bà, thì chắc ông bà cũng tự biết là…

          Ông Hứa ngập ngừng. Bà Nội đẩy vài quả quít về phía ông để ông lấy lại bình tĩnh. Ông cầm một quả, bóc vỏ ném xuống sàn, cho một phần tư quả quít vào miệng, nói tiếp:

          - Vào sáu tuổi, xương hãy còn đựng đầy nước và như thế rất dễ uốn nắn. Nhưng con gái ông bà bị phát triển chậm ở tuổi này, mặc dù là đã tính theo tiêu chuẩn của một làng đã nhiều năm bị đói kém. Không có gì để xấu hổ cả, có thể là các cô gái khác trong nhà cũng thế.

          Cho đến hôm ấy, tôi không bao giờ nghĩ rằng gia đình tôi lại khác những gia đình khác. Ông Hứa cắn thêm một phần tư trái quít rồi lại nói tiếp:

          - Nhưng con gái của ông bà có một đặc điểm khác ngoài cái chuyện cô ta hơi nhỏ con vì thiếu dinh dưỡng. Gang bàn chân cô ta rất sâu, có nghĩa là chắc chắn lúc trưởng thành, cô ấy sẽ có đôi chân hoàn hảo nhất trong vùng, với điều kiện là phải lấy những quyết định đúng đắn ngay từ bây giờ.

          Có những người không tin thầy tướng số bao giờ cả, cho rằng họ chỉ đoán xàm đoán gở. Hơn nữa, mùa thu là mùa tốt nhất để bắt đầu băng chân cho con gái, cũng như mùa xuân là mùa lý tưởng để sanh con đẻ cái hay là một ngọn đồi có dòng suối mát chảy qua thì tốt nhất về phong thủy để có thể chôn cất người chết tại đó. Nhưng cái ông thầy tướng số này đang phân tích về tôi, và sự tiên đoán của ông có thể là sẽ giúp tôi thay đổi hẳn vận mệnh. Ngay lúc này, không ai tin chắc được chuyện đó. Cả nhà lại chìm vào một sự im lặng bao la. Ai cũng thấy có một cái gì đó không bình thường.

          Bà Quảng phá vỡ sự im lặng và tiếp lời:

          - Cô bé này quả thật có duyên lắm. Nhưng ở đời, đôi chân có nhiều lợi điểm hơn là khuôn mặt đẹp. Khuôn mặt đẹp là trời cho, nhưng đôi chân bé tí xíu thì có thể giúp ta trèo lên nấc thang xã hội. Không ai phủ nhận điều đó cả phải không? Phần còn lại, hãy để người cha quyết định.

          Bà Quảng nhìn cha tôi, nhưng bà lại nói để nhắn nhủ mẹ tôi:

          - Với một cô gái, nếu kết hợp được với một đám tốt thì không gì bằng. Một gia đình có địa vị cao sẽ giúp ông bà mở rộng giao thiệp, nâng cao giá của cô dâu lên, và trong đường dài, gia đình ông bà sẽ được bảo đảm, che chở vừa trên phương diện ngoại giao lẫn tài chánh. Tôi rất cảm kích sự tiếp đón nồng hậu và nhiệt tình của ông bà dành cho chúng tôi hôm nay. Cô con gái này sẽ cho ông bà một cơ hội. Nếu bà mẹ làm tròn bổn phận của mình, thì cô gái khiêm tốn này có rất nhiều hy vọng được gả vào một gia đình ở Cự Tống.

          Cự Tống! Không ai mà không biết đó là một vùng của những gia đình giàu sang, danh giá. Cha tôi cẩn trọng ngắt lời:

          - Những lời nói của bà là vàng ngọc! Nhưng thưa bà, gia đình chúng tôi đơn sơ quá! Chúng tôi không đủ phương tiện để bảo đảm thù lao của bà.

          - Người cha tội nghiệp ơi! - Bà Quảng trả lời với giọng ngọt ngào: nếu đôi chân con ông phát triển đúng như tôi tiên đoán, thì tôi cam đoan rằng gia đình chồng tương lai của cô ấy sẽ sẵn sàng hào phóng. Điều này cũng có nghĩa rằng ông bà có lợi thế hơn khi thương lượng số của hồi môn. Ông thấy không, mặt nào chúng ta cũng có lợi.

          Cha tôi im lặng. Ông không bao giờ nói chuyện về công việc đồng áng của ông, lại càng không bao giờ để ai đoán biết cảm xúc của ông. Nhưng tôi nhớ rất rõ một mùa đông, vào năm hạn hán, cả gia đình chẳng còn gì để ăn, cha phải lên núi săn bắn. Nhưng thú rừng cũng bị tàn sát hàng loạt vì nạn đói. Cha không săn được con gì cả, đành đem về ít rễ cây để mẹ và bà Nội nấu chút nước canh. Có lẽ cha đang nghĩ đến cái kỷ niệm xấu hổ ấy của chính cha, mà thầm nhẩm tính cái "giá của cô dâu" và sự dễ thở của cả gia đình nếu đúng như lời tiên đoán của bà mai.

          - Còn hơn thế nữa, - bà mai tiếp lời - tôi tin chắc rằng con gái của ông cũng sẽ tìm được một chị em kết nghĩa nữa kìa.

          Tôi hiểu bà ta đang nói gì. Cái liên hệ giữa chị em kết nghĩa nó khác xa cái liên hệ của một nhóm chị em nuôi. Chị em kết nghĩa hiếm hoi và chọn lọc hơn nhiều, kết hợp hai cô gái ở hai làng khác nhau trong suốt cuộc đời, trong khi nhóm chị em nuôi thường phải giải tán khi các cô đi lấy chồng. Chưa bao giờ trong cuộc đời, tôi gặp một người là chị em kết nghĩa, càng không tin đuợc là chính tôi lại có thể có một người chị em kết nghĩa. Khi còn trẻ, mẹ và thím tôi mỗi người đều có một nhóm chị em nuôi, chị hai của tôi cũng thế và bà Nội cũng chơi với một nhóm các bà góa, cùng làng với ông Nội. Tôi cũng chỉ nghĩ rằng một ngày nào đó, tôi cũng thế.

           Trở thành chị em kết nghĩa, thật là phi thường, khiến tôi háo hức. Nhưng tôi chỉ sững sờ, đứng im lặng . Không phải là đề tài có thể nói được trước mặt đàn ông. Tình hình thật bất ngờ khiến cha tôi cũng trở nên lúng túng:

          - Nhưng… trong làng chúng tôi… chưa từng có ai được trở thành chị em kết nghĩa…

          Bà Quảng dợm đứng lên, nói:

          - Đúng thế! Cho đến giờ phút này thì gia đình ông chẳng có gì đáng kể. Mọi người trong gia đình cứ bàn thảo đi, nhưng nhớ rằng số mệnh không gõ cửa nhà ông mỗi ngày. Tôi sẽ trở lại lần sau.

          Bà Quảng và ông Hứa chào chúng tôi rồi ra về, và hứa hẹn sẽ trở lại để theo dõi tình trạng của tôi. Tôi theo mẹ lên phòng. Vừa bước vào, mẹ nhìn chòng chọc vào mặt tôi y như lúc ban nãy ở dưới nhà. Rồi trước khi tôi có thể nói được gì, mẹ tát tôi một cái nảy lửa:

          - Con có thấy là con đã làm cho cha con bận tâm biết bao nhiêu không?

          Mẹ nói một cách cộc cằn, nhưng tôi hiểu rất rõ cái tát tai chẳng qua là muốn xua đi những sự mơ ước hão huyền qua lời nói của bà mai mối. Chẳng có gì bảo đảm là đôi chân của tôi một khi được bó lại thì sẽ đẹp đẽ như một búp huệ non mà mọi người mong đợi. Rất có thể là tới lúc bó chân tôi, mẹ cũng sẽ làm một sai lầm như bà ngoại đã làm cho mẹ. Cái lần bó chân cho chị hai, mẹ đã làm tốt, nhưng ai biết đấy? Nhỡ một cái thay vì được mọi người chiêm ngưỡng thì tôi lại trở thành một người đi khập khiễng trên đôi chân tàn tật xấu xí, phải dùng hai cánh tay để giữ thăng bằng cho khỏi té nhào xuống đất, như mẹ?

          Đôi má tôi bừng bừng, nhưng tôi thật sung sướng. Cái tát tai ấy là một cử chỉ thương yêu mà mẹ chưa bao giờ biểu lộ với tôi, và tôi đã phải cắn chặt đôi môi để giữ lại nụ cười.

          Cả ngày hôm ấy mẹ không nói với tôi tiếng nào nữa. Mẹ xuống nhà bàn chuyện với chú thím, cha tôi và bà Nội. Chú tôi là một người tốt bụng, tuy nhiên trong gia đình chú lại không có chút quyền hành gì. Cho nên thím cũng chẳng hơn gì, cộng thêm việc thím không sanh được con trai nối dõi, nên thím cũng chẳng có địa vị gì trong nhà. Địa vị của mẹ cũng không khá gì hơn, chỉ cần nhìn vẻ mặt của mẹ lúc bà mai tán tỉnh, tôi đã biết trong đầu mẹ nghĩ gì. Nhưng trong nhà này, phải nói là mọi quyết định đều nằm trong tay cha tôi và bà Nội, hay nói cho đúng hai người thường ảnh hưởng lẫn nhau. Lời hứa hẹn của bà mai dù là một điềm lành cho tôi nhưng đồng thời cũng có nghĩa là cha tôi sẽ phải làm lụng cực nhọc trong nhiều năm nữa để có thể để dành một món hồi môn xứng đáng nếu tôi được gả vào gia đình danh giá. Hoặc giả, nếu cha không nghe lời bà mai, thì cha cũng sẽ bị mất mặt, không phải chỉ với xóm giềng mà còn với làng xóm xa gần nữa.

          Tôi cũng chẳng cần biết cha sẽ quyết định thế nào về số phận của tôi, chỉ biết là tôi được tự do thêm một năm nữa trước khi phải bó chân. Số phận của Diễm Nguyệt cũng do đó mà thay đổi. Tôi lớn hơn Diễm Nguyệt vài tháng, nhưng mọi người đã lấy quyết định là tôi và Diễm Nguyệt sẽ được bó chân cùng một lúc với em gái út của tôi, sang năm. Tôi mừng lắm bởi vì nếu tôi tạm ngưng các công việc nhà, cũng có nghĩa là từ nay tôi không được theo anh cả đi dạo loanh quanh ngoài bờ sông nữa, và không còn cơ hội được thả lỏng đôi chân xuống giòng nước mát rượi.

          Từ trước đến giờ, mẹ chưa bao giờ ra tay đánh tôi, nhưng cái tát tai đầu tiên hôm nay là khởi đầu của bao nhiêu phiền nhiễu. Tệ hơn cả, là cha tôi không còn nhìn tôi như xưa, ông không còn ôm tôi vào lòng trong khi hút thuốc lào mỗi tối. Cái địa vị của tôi đã thay đổi hẳn kể từ hôm ấy: từ một con bé chẳng đáng để ý trở thành một người có thể đem lại vinh hoa cho cả gia đình.

          Các giải lụa đã được làm sẵn để bó chân cho tôi và Diễm Nguyệt cũng như những chiếc hài bé tí mẹ làm để sửa soạn đem ra đền Nữ thần cũng được tạm cất đi. Bà Quảng thăm viếng chúng tôi luôn. Mỗi lần đến bằng kiệu, bà quan sát tôi từ đầu đến chân và không ngừng hỏi tôi học công việc nhà đến đâu rồi? Tuy nhiên, tôi cũng thừa biết bà tử tế với tôi chẳng qua là chỉ vì bà nhìn thấy nơi tôi một mối lợi cho bà trong tương lai, nếu như bà kết hợp được cho tôi vào một gia đình hào môn. Ánh mắt của bà đã nói lên điều ấy.

         

          Suốt một năm trời, tôi được dạy dỗ không ngừng trong Nữ phòng. Đàn ông ít khi bước vào phòng này lắm, chỉ riêng chúng tôi thôi. Tôi không thoát được ra ngoài đạo đức Khổng Mạnh, dạy rằng đàn bà con gái phải lo việc nội trợ, và đàn ông con trai lo việc bên ngoài. Giàu hay nghèo, vua chúa hay cùng đinh, cũng bị ràng buộc vào cái qui luật ngàn năm ấy. Con gái không được ra khỏi nhà cũng vì lẽ đó. Muốn trở thành một người vợ đức hạnh sau này, tôi phải biết rõ Tam Tòng Tứ Đức.

          Tôi phải thực tập những điều học hỏi, phải biết cầm kim, chọn chỉ, thêu những mũi thêu thật đều đặn mịn màng. Chúng tôi ba đứa: tôi, em gái út và Diễm Nguyệt cùng nhau may trước những đôi hài để dùng ban ngày, những đôi giày để mang ban đêm cũng như những đôi vớ may thật chặt thật sát; tất cả để dùng đủ trong hai năm sắp tới, sau khi chân chúng tôi sẽ được bó lại.

          Nhưng quan trọng hơn cả là thím đã dạy tôi học Nữ tự. Dạo đó, tôi không hiểu sao thím lại đặc biệt quan tâm đến tôi. Tôi ngây thơ nghĩ rằng thím muốn tôi phải làm gương cho Diễm Nguyệt. Nếu may mắn mà Diễm Nguyệt được như tôi thì Diễm Nguyệt có thể có một cuộc hôn nhân khá hơn thím tôi. Thật ra, dụng ý của thím tôi là muốn cho tôi và Diễm Nguyệt mãi mãi liên hệ với nhau một khi chúng tôi học và viết được Nữ tự. Tôi không nhận ra được sự xung đột giữa một bên là thím tôi, và bên kia là mẹ và bà Nội đều không biết đọc biết viết Nữ tự, cũng như cha tôi và chú đều mù tịt Hoa ngữ.

          Lúc ấy, tôi cũng không biết một chữ Hoa nào cả, cho nên tôi không phân biệt được chữ viết của Hoa ngữ khác với Nữ tự thế nào. Nhưng bây giờ thì tôi biết là chữ viết của Hoa ngữ dầy dặn và vuông vức hơn, trong khi Nữ tự thì mảnh khảnh và dài, trông như những cái chân muỗi mỏng manh hay như những dấu chân chim để lại trên cát. Trái với Hoa ngữ, mỗi chữ trong Nữ tự không có một ý nghĩa duy nhất mà chỉ viết lên cái âm của nó mà thôi. Chẳng hạn chữ "ba" là người cha viết cũng giống chữ "ba" là con số ba. Do đó, phải xem chữ ấy viết trong câu hay trong bối cảnh như thế nào để xác định ý nghĩa của nó. Vì thế, phải hết sức cẩn thận để không lầm lẫn ý nghĩa của từng chữ. Nhiều người, chẳng hạn như mẹ tôi hay bà Nội, có biết viết đâu, nhưng lại hiểu thuộc lòng các câu truyện hay các bài hát, nhờ được truyền miệng.

          Thím dạy tôi các qui luật để viết Nữ tự, để sau này có thể viết thư, chép nhạc, truyện ngắn, tự thuật, dặn dò khuyên bảo hay những lời cầu nguyện gửi đến Nữ thần. Người ta thường viết bằng mực và cọ, trên giấy hoặc trên quạt; hay thêu chữ lên khăn tay, lên vải; hay hát cho nhau nghe. Nhưng phải nhớ giữ kín bí mật. Hai qui luật tối quan trọng phải tuân theo khi học Nữ tự là: không bao giờ cho đàn ông biết sự hiện hữu của Nữ tự, cũng như tìm mọi cách không cho họ nhìn thấy những gì đã viết ra.

          Việc học của chúng tôi càng ngày càng tiến bộ cho đến lúc chúng tôi được bảy tuổi. Ông thầy bói tướng lại được mời đến nhà để định ngày tốt để bó chân cho ba đứa chúng tôi, vì em gái út cũng đến tuổi bó chân rồi. Ông hỏi han hồi lâu ngày sanh tháng đẻ của tất cả chúng tôi, cuối cùng, ông chọn một ngày thường được dân làng chọn: đó là ngày 24 tháng 8 âm lịch; để làm lễ băng chân cho con gái và để các cô dâng lễ vật xin Nữ thần phù hộ.

          Mẹ và thím tôi lại tiếp tục dệt những băng vải mới cho chúng tôi. Chúng tôi phải ăn nhiều bánh đậu đỏ để làm mềm xương. Trước ngày đó, nhiều phụ nữ trong xóm đến nhà, lên phòng để thăm chúng tôi. Đám chị em nuôi của chị hai đến chúc chúng tôi may mắn, tặng bánh cho chúng tôi và chúc mừng chúng tôi được từ nay được gia nhập vào thế giới của phụ nữ. Trong phòng cứ như là ngày có hội. Mọi người vui vẻ, cười nói luôn miệng. Nhưng chẳng ai cho chúng tôi biết về những rủi ro có thể xảy ra khi bị băng chân. Chỉ mãi đến khi lấy chồng, mẹ chồng tôi mới cho tôi biết cứ mười đứa bé gái bị bó chân thì có một bé không qua khỏi; không phải chỉ riêng trong vùng của chúng tôi mà trên toàn cõi Trung quốc.

          Tất cả những gì mà tôi được biết là đôi chân được bó sẽ xinh xắn bé nhỏ khiến việc lập gia đình của tôi sẽ dễ dàng hơn, đem lại hạnh phúc cho người chồng sau này, và nếu chúng tôi sanh được con trai thì bảo đảm hạnh phúc dài lâu và có địa vị được trọng dụng trong gia đình nhà chồng. Một đôi bàn chân hoàn hảo sau khi băng chân phải là đôi bàn chân thật bé, thật thon, mảnh mà cao, nhọn, cong cong, đồng thời phải mềm mại và thơm tho. Trong tất cả bảy đặc tính kể trên thì kích thước đôi bàn chân là quan trọng nhất. Lý tưởng nhất là chỉ dài bảy phân thôi. Kế đó là hình thù: đôi bàn chân phải có hình búp sen, đầy đặn và tròn ở dưới gót, thon nhọn ở đầu và tất cả sức nặng của cơ thể được chịu đựng bởi ngón chân cái. Điều này có nghĩa là tất cả xương của các ngón chân khác và của bàn chân sẽ bị gẫy dập ra và gập lại về phía bên dưới, làm sao để có thể đụng được gót chân. Cái chỗ gập lại làm thành một cái rãnh phải đủ sâu để có thể để lọt một đồng xu. Nếu hội đủ các yếu tố kể trên thì tương lai của tôi sẽ được bảo đảm trăm phần trăm!

          Sáng sớm ngày 24 tháng 8 âm lịch, chúng tôi đem bánh gạo nếp đặt lên bàn thờ Nữ thần, trong khi mẹ và thím tôi đem những đôi hài bé tí xíu mà mẹ và thím đã khâu, đến đặt trước tượng thần. Rồi mẹ và thím đem những vật liệu cần thiết ra: phèn chua, chất làm se da, kéo, vật dụng cắt móng chân, kim chỉ. Sau đó, mẹ và thím lôi ra những băng vải bề ngang chừng năm phân, bề dài ba thước, rắc tí phấn bột lên cho thơm. Tất cả đàn bà trong nhà kéo nhau lên lầu. Chị hai của tôi đóng cửa phòng, đem vào một thau nước sôi có ngâm rễ cây tằm, hạt dẻ đã bóc vỏ, nước tiểu, cỏ thơm và các loại củ linh tinh.

          Trong ba đứa trẻ, tôi sanh trước nên phiên tôi đầu tiên, phải làm gương can đảm và ngoan ngoãn. Mẹ lau chân tôi một cách cẩn thận rồi xoa chút phèn lên để giúp cho da thịt săn chắc lại và tránh làm độc hoặc chảy máu. Mẹ cắt móng chân cho tôi thật ngắn, trong khi đó thì mẹ ngâm các băng vải trong thau nước nóng để khi quấn sẽ chặt hơn và khi vải khô sẽ bó chặt chân hơn. Mẹ cầm một đầu băng vải quấn vào cổ chân tôi, rồi quấn vòng ra bốn ngón chân nhỏ, rồi cứ xiết dần để cho các ngón chân cứ quặp dần xuống dưới. Mẹ quấn một vòng quanh gót chân, thắt nút quanh mắt cá chân, mục đích là để các ngón chân phải chạm được gót chân, làm thành một cái khe ở giữa. Chỉ có ngón cái là được thò ra ngoài và tôi phải đi đứng bằng ngón chân cái đó. Mẹ lấy thêm băng vải và cứ lập đi lập lại nhiều lần băng như thế, trong khi thím và bà Nội đứng nhìn qua vai mẹ để quan sát và để chắc chắn là các băng vải đủ chặt để xiết đôi bàn chân. Rồi mẹ khâu hai đầu vải lại với nhau cho khỏi bung ra.

          Mẹ làm nốt chân kia cho tôi trong khi thím tiếp tục làm đôi chân của Diễm Nguyệt. Trong khi đó, em gái út tôi chạy xuống nhà dưới tìm nước uống. Khi đến phiên em, mẹ gọi thì không thấy em đâu cả. Nếu chỉ một tiếng đồng hồ trước thì có lẽ mẹ đã bảo tôi xuống dưới nhà tìm em rồi. Nhưng kể từ giờ phút này và trong vòng suốt hai năm trời sắp tới, tôi không được quyền bước xuống cầu thang. Mẹ và thím hối hả xuống tìm em khắp nhà vẫn không thấy, nên chạy ra ngoài tìm em. Tôi thật muốn dòm qua khung cửa sổ để xem việc gì xảy ra nhưng khổ nỗi, đôi chân tôi bắt đầu đau nhức quá. Làn vải xiết chặt quá làm máu không lưu thông được nữa. Tôi nhìn Diễm Nguyệt, bộ mặt tái mét như ánh trăng, và nước mắt đã bắt đầu chảy trên má.

          Tiếng mẹ và thím tôi vọng từ ngoài vào:

          - Bé ơi! Bé!

          Chị hai và bà Nội lại gần cửa sổ nhìn qua chấn song:

          - Ái dà! Nội kêu lên.

          Chị hai quay lại phía chúng tôi:

          - Mẹ và thím đang sang nhà bên cạnh. Các em có nghe tiếng la của con bé út?

          Diễm Nguyệt và tôi lắc đầu. Chị hai lại nói tiếp:

          - Kìa mẹ đang kéo em về trên con đường nhỏ.

          Bây giờ thì chúng tôi nghe tiếng em la hét:

          - Không! Con không lên lầu! Con không muốn!

          Mẹ mắng em:

          - Con chẳng ra gì cả! Chỉ làm nhục tổ tiên.

          Đó là những tiếng trách mắng thật khủng khiếp, nhưng dường như chúng tôi nghe hàng ngày trong xóm.

          Mẹ lôi em xềnh xệch lên lầu, kéo vào phòng. Em vùng ra chạy quanh phòng từ góc này sang góc kia.

          - Con không tránh được. Mẹ nói.

          Em nhìn quanh quẩn tìm chỗ trốn, nhưng không có cách chi vãn hồi được. Mẹ và thím tiến thẳng đến chỗ em. Em chạy lung tung để thoát khỏi tay mẹ và thím, nhưng chị hai đã túm được em. Lúc ấy, tuy mới sáu tuổi nhưng em chống đối kịch liệt và dữ như con quỷ cái. Chị hai, thím, và bà Nội vật em xuống sàn để mẹ băng chân cho em. Em không ngừng kêu khóc thảm thiết, và vùng vẫy để vung tay ra, nhưng lại bị kẹp lại ngay.

          Trong khoảnh khắc, mẹ thả lỏng em ra một chút, chị hai cũng nới chân em ra, cái băng vải lại bị bung ra trông như một mớ bòng bong. Diễm Nguyệt và tôi chứng kiến màn trình diễn này mà chẳng làm được gì cả vì sự đau đớn làm chúng tôi không cử động gì được nữa, đau lên đến tận bắp chân, đến đùi. Cuối cùng, mẹ cũng làm xong phận sự, đặt chân em xuống sàn và đỡ em ngồi dậy. Bằng giọng không bằng lòng chút nào, mẹ gằn từng tiếng:

- Thật không ra gì cả!

Mẹ quay sang nhìn tôi:

- Đứng lên!

Cái lệnh này vượt ra ngoài lý trí của tôi. Đôi chân tôi đã đau quá rồi. Trước đó, tôi còn tưởng là tôi can đảm lắm, nhưng bây giờ, tôi cố hết sức để giữ nước mắt lại mà không được.

Thím tôi vỗ vai Diễm Nguyệt:

- Đứng dậy đi con. Bắt đầu đi lại…

Em út tôi vẫn không ngừng khóc, nằm lăn ra sàn.

Mẹ tôi bắt tôi ra khỏi ghế. Cái chữ "đau" tưởng hãy còn quá nhẹ để tả sự nhức nhối đang lan tỏa khắp người tôi. Những ngón chân bị băng cứng, quặp xuống gang bàn chân và cả người tôi đè nặng trên cái "cục u" ấy. Tôi cố giữ cân bằng bằng cách tựa trên gót chân. Mẹ tôi nhìn thấy, hét lên:

          - Đi!

          Tôi cố gắng tối đa loạng choạng đi về phía cửa sổ trong lúc mẹ cúi xuống đỡ em út dậy, đẩy em về phía chị hai và bảo:

          - Bắt nó đi hết chiều ngang và chiều dài căn phòng, tối thiểu mười lần.

Nghe thế, tôi biết là có một cái gì ghê gớm lắm đang chờ đợi chúng tôi. Thím tôi cũng biết thế, thím dắt tay Diễm Nguyệt, ra lệnh phải rời chiếc ghế.

          Nước mắt tràn ra trên mặt, tôi vừa đi quanh phòng, vừa nghe tiếng rên rỉ của chính tôi. Em út thì vẫn la khóc kịch liệt và cố vùng vẫy để thoát khỏi vòng tay của chị hai. Bà Nội, lẽ ra chỉ đóng vai trò quan sát để mọi việc trôi chảy đúng cách, thế mà cũng phải ra tay để phụ chị hai giữ chặt một bên tay của em út. Em bị hai người ghì chặt như thế nên chẳng còn cách chi vùng vẫy, đành nằm yên, nhưng vẫn không ngừng la hét. Chỉ có Diễm Nguyệt là dấu diếm được cảm giác, cố chứng tỏ là mình ngoan ngoãn biết vâng lời.

          Sau khi đi đủ 10 vòng căn phòng rồi thì bà Nội, mẹ tôi và thím mới chịu để cho chúng tôi yên thân. Cả ba đứa chúng tôi đều bị tê liệt, sự nhức nhối càng lúc càng gia tăng. Chưa hết, bụng đói cồn cào làm chúng tôi chỉ muốn ói. Cuối cùng, mọi người đi ngủ. Sung sướng làm sao khi được nằm dài trên giường! Chỉ nội cái việc cái chân được duỗi thẳng ra, nằm ngang với cơ thể, thì đã là một sự giải thoát rồi. Nhưng chỉ được một lúc thôi thì sự đau nhức lại tiếp tục hành hạ chúng tôi. Đôi chân nóng hừng hực như thể là đi trên một lò than. Đôi môi chúng tôi đánh lập cập, rít lên từng hồi. Tội nghiệp chị hai nằm chung phòng với chúng tôi phải tìm cách vỗ về chúng tôi bằng cách kể chuyện đời xưa và dịu dàng an ủi chúng tôi rằng tất cả mọi đứa bé gái trên toàn quốc đều phải qua giai đoạn đau khổ này để sau này được trở thành người vợ, người mẹ mẫu mực, xứng đáng.

          Đêm ấy, cả mấy đứa chúng tôi không tài nào ngủ được. Ngày đầu tiên đã đau đớn thế, không biết sang ngày hôm sau thì còn đến thế nào! Chúng tôi cố cựa quậy để tháo băng vải ra, nhưng chỉ có mỗi em út là rút được một chân ra, nhưng mẹ thấy thế lại băng lại cho em và bắt phạt em đi quanh phòng 10 vòng nữa! Mẹ không ngừng mắng chửi em:

          - Con không ra gì cả. Con chỉ muốn sau này đi làm đầy tớ cho người ta phải không? Nếu thế, thì vẫn chưa muộn, con có quyền lựa chọn…

          Chúng tôi đã nghe những lời đe dọa này từ tấm bé, nhưng nói thật, tôi cũng chưa nhìn thấy tận mắt thế nào là một người đầy tớ. Làng Phủ Quỳ của chúng tôi nghèo đến độ chẳng ai dư dả để mà có thể thuê một người đầy tớ chân to, một người mà người ta nói là trời phú cho đôi chân xấu xí. Thế nên những lời đe dọa của mẹ chẳng biết có đủ để em gái út của tôi nghe lời không?

          Đến ngày thứ tư thì đôi chân của chúng tôi được ngâm trong thau nước nóng trước khi tháo băng vải ra. Mẹ và thím tôi quan sát cẩn thận móng chân của chúng tôi, kỳ cọ lớp da chết đi và các chỗ da bị chai. Sau đó, mẹ và thím bôi lên chân chúng tôi một lớp phèn mới và phấn thơm, trước khi dùng băng vải mới để băng lại đôi chân, lần này lại siết chặt hơn lần trước một tí. Và cứ như thế, cứ bốn ngày một lần lại thay băng mới, mỗi lần lại chặt hơn trước. Cứ mỗi nửa tháng, chúng tôi lại được thay một đôi hài mới, mỗi lần đôi hài cũng nhỏ hơn đôi hài lần trước một chút đỉnh. Các bà hàng xóm tử tế thường sang thăm chúng tôi luôn, mang bánh đậu đỏ cho chúng tôi ăn để giúp xương chân mềm ra, hoặc cho chúng tôi ớt khô, hy vọng đôi chân chúng tôi mau được hình hài thon đẹp. Nhóm chị em nuôi của chị hai cũng thường mang quà bánh cho chúng tôi và ngậm ngùi chỉ cho chúng tôi những kinh nghiệm mà các chị ấy đã trải qua. Chẳng hạn như: “Đây là cái bút để viết chữ, khi nào đau thì các em cứ cắn nó, cái đầu bút rất nhọn, sẽ giúp đôi chân các em cũng trở nên thon thả như vậy…”, hay là: “ăn nhiều hạt dẻ vào, sẽ làm cho da se lại mau hơn…”.

          Căn phòng phụ nữ của gia đình tôi trở thành trại huấn luyện. Thay vì vào đó làm các công việc thường nhật thì chúng tôi phải đi hết chiều ngang chiều dài căn phòng, mỗi ngày mẹ và thím lại bắt chúng tôi tăng thêm 10 vòng căn phòng. Bà Nội cũng phải phụ vào để kiểm soát chúng tôi, khi mệt thì Nội nằm trên giường để trông chừng ra điều khiển cho chúng tôi làm nhiệm vụ. Khi trời bắt đầu trở lạnh thì bà Nội quấn thêm một chiếc mền, nằm đó canh chừng cho chúng tôi tập đi. Đến khi ngày bắt đầu ngắn hơn và nắng cũng tắt sớm hơn, thì Nội cũng hết hơi rồi, chẳng còn hơi để hò hét chúng tôi nữa, chỉ thoảng lắm phải ra lệnh thì cũng yếu ớt hơn và cộc lốc hơn. Đến lúc chán rồi thì Nội chẳng nói năng gì nữa, chỉ còn chú tâm vào em gái út của tôi, khuyến khích em cố gắng tập luyện.

          Đôi chân của chúng tôi vẫn không ngừng nhức nhối. Làm sao mà không đau được chứ? Nhưng chúng tôi học được một bài học đầu tiên mà phụ nữ cần học: là tuân lệnh thôi, chẳng có ích gì khi chống chọi. Ngay từ những tuần lễ đầu tiên, chúng tôi đã bắt đầu nhen nhúm nghĩ đến cái viễn ảnh tương lai đang chờ đón. Diễm Nguyệt thì lúc nào cũng rạng rỡ và kiên cường trong mọi tình huống rồi thì khỏi nói. Em gái tôi thì chắc chắn sẽ trở thành một bà vợ dễ cáu kỉnh, chẳng bao giờ hài lòng và sẽ làu bàu luôn miệng. Còn tôi? - Theo thầy tướng số  và bà mai mối, thì tôi sẽ có một tương lai khác thường. Tôi chấp nhận số phận, không bàn cãi lôi thôi gì cả.

          Một hôm, sau khi đi không biết là đến vòng thứ mấy trong căn phòng, tôi chợt nghe tiếng "crắc": một trong những ngón xương chân của tôi vừa bị gẫy! Tôi tưởng chỉ có một mình tôi cảm nhận được, hóa ra tiếng kêu lớn đến nỗi mọi người trong phòng đều nghe thấy. Mẹ vẫn dõi mắt nhìn theo tôi, kêu lên sung sướng:

          - Đừng ngừng lại! Cuối cùng, đã có kết quả rồi đấy!

          Tôi tiếp tục đi, mặc dù cả thân thể tôi bắt đầu run rẩy. Đêm đến, từng đốt xương của tám ngón chân của tôi cứ gãy hết cái nọ đến cái kia, đúng như sự mong muốn của mọi người lớn trong nhà. Chỉ riêng hai ngón chân cái là bắt buộc phải lành lặn. Nhưng tôi vẫn bị bắt đứng lên đi đi lại lại. Cứ mỗi bước đi, tôi lại cảm thấy các xương chân đã sai khớp của tôi như lềnh bềnh trong đôi hài lụa. Tôi có cảm tưởng là hai bàn chân tôi chỉ còn là một đống xương vụn bầy nhầy, đau nhức vô ngần. Cơn lạnh ngoài trời không làm giảm bớt sự đau đớn đang xoáy vào tận cơ thể. Thế mà mẹ tôi vẫn chưa hài lòng. Tối hôm ấy, mẹ sai anh cả chạy ra bờ sông kiếm cho mẹ một cây sậy vừa mềm vừa chắc. Rồi suốt hai ngày sau đó, mẹ cứ dùng cây sậy dài đó mà quất vào bắp chân của tôi để bắt tôi tiếp tục đi trong phòng, mặc sự đau đớn của tôi. Đến cái ngày phải thay băng, tôi cũng ngâm chân trong chậu nước nóng lâu hơn thường lệ trước khi bẻ gập lại những ngón chân gẫy của tôi. Tôi đau đớn tưởng chừng như không thể nào chịu đựng hơn được nữa. Mẹ đích tay xoa nắn, ép sát các ngón chân đã gẫy xương vào gang bàn chân của tôi. Chưa bao giờ tôi được mẹ ân cần trìu mến như hôm ấy.

          - Con gái! Một người đàn bà đúng nghĩa thì trước hết phải biết tự làm đẹp cho mình, mẹ nói một cách ngọt ngào như thể để tôi thấm thía từng lời nói của mẹ. Chỉ có trải qua sự đau đớn ngày hôm nay thì mới được đẹp đẽ mai sau. Hôm nay, mẹ bắt buộc phải bó chân cho con, nhưng mai sau, chính con là người được hưởng kết quả.

          Những ngón chân của Diễm Nguyệt cũng bị gẫy xương như tôi vài ngày sau đó. Nhưng ngón chân của em út thì vẫn trơ trơ ra. Mẹ giao cho anh cả một nhiệm vụ mới: đi tìm những viên sỏi nhỏ bỏ vào trong đôi hài của em để giúp xương chân của em dễ gẫy hơn. Như tôi đã nói, em út tôi đâu phải là hạng vừa để ai muốn làm gì thì làm. Lần này, em lại càng la hét dữ dội hơn làm điếc cả tai, khiến tôi và Diễm Nguyệt nghĩ rằng em làm như thế để mọi người phải chú ý đến em. Thế nhưng, mẹ đã dành hết thì giờ để săn sóc cho đôi chân của tôi. Nhưng đến ngày phải thay băng thì chúng tôi đã thấy rõ sự khác biệt tình trạng chân của chúng tôi và chân của em út. Dĩ nhiên là xương chân gẫy thì máu phải thấm qua lần băng vải, nhưng mà em chảy máu nhiều hơn. Trong khi chân tôi và chân Diễm Nguyệt trở nên tái mét, thì chân của em đỏ còn hơn đóa hoa mẫu đơn.

          Bà Quảng trở lại thăm chúng tôi lần nữa, xem xét cẩn thận sự cố gắng thi hành của mẹ tôi, bà khuyên mẹ nấu một loại thảo dược từ những cây dại, để làm giảm đau. Tôi phải uống cái liều thuốc đắng nghét đó vào những ngày đầu tiên có tuyết, lúc mà đến lượt xương cổ chân của tôi cũng bị gẫy dập. Đầu óc tôi xây xẩm vì đau đớn cũng có mà vì cái ý nghĩ phải uống cái vị thuốc kinh khủng đó cũng có. Trong khi đó, tình trạng của em út tôi càng lúc càng trầm trọng hơn. Da thịt em nóng bỏng. Đôi mắt bừng cơn sốt và kinh hãi; khuôn mặt tròn trịa của em hõm lại, tái mét. Lúc mẹ và thím tôi bỏ xuống nhà nấu cơm trưa, chị hai tội nghiệp em út nên đỡ em lại cho nằm trên giường. Tôi và Diễm Nguyệt cũng lợi dụng thời cơ, ngừng đi lại để nghỉ ngơi một lúc. Để khỏi bị bắt quả tang là chúng tôi đang nghỉ ngơi, cả hai đứa tôi phải đứng chực ở đầu giường của em út, nhìn chị hai vỗ vỗ vào chân em để an ủi. Lúc ấy mùa đông, chúng tôi đều mặc áo dầy và có lót. Chúng tôi phải giúp chị hai kéo thấp quần của em út xuống để chị hai có thể xoa nắn bắp chân của em. Nhờ thế, chúng tôi khám phá ra những vết tím bầm ngang dọc khắp trên chân em, từ chỗ chân bị bó lên đến suốt bắp đùi. Chúng tôi nhìn chằm chằm những vết tím đỏ ấy rồi kéo chân bên kia ra quan sát cũng những vết thâm như thế.

          Chị hai hấp tấp xuống nhà. Để giải thích sự việc mà chúng tôi vừa khám phá ra, chị đành phải thú tội đã không tuân lệnh mẹ. Trái với sự dự đoán của chúng tôi là chị sẽ phải ăn một cái tát tai của mẹ thì không có gì xảy ra cả, mà chỉ nghe tiếng chân của mẹ và thím chạy xầm xập lên cầu thang, để chứng kiến em gái tôi nằm dài trên giường, mắt trừng trừng nhìn lên trần nhà, tôi và Diễm Nguyệt đứng lấm la lấm lét nơi đầu giường; bà Nội thì đang vuốt ve cái bím tóc để dỗ dành em. Thím liếc qua em, rồi hối hả đi đun nước nóng.

          Mẹ đến bên giường em. Mẹ vội lên lầu không cầm theo cây gậy chống, nên mẹ đi hối hả khập khiễng như con chim bị gẫy cánh. Khi thím đem chậu nước nóng lên, mẹ bắt đầu cởi băng cho em. Một mùi hôi khó ngửi tỏa khắp phòng khiến chị hai phải đục thủng cái giấy dán cửa sổ ra cho bớt hôi. Cuối cùng đôi chân của em được thả lỏng, tím bầm và máu chảy chan hòa. Mẹ dựng em ngồi lên, và em đã kiệt sức vì đau đớn nên không còn la hét gì được nữa.

          Những ngày vừa qua, em đã kêu la những âm điệu lạ lùng. Có phải ngay từ ngày đầu, em đã cảm thấy được sự không lành sẽ đến với em? Có phải vì thế mà em đã kháng cự kịch liệt? Hay là trời đã xui khiến cho mẹ sai lầm trong sự hấp tấp của mẹ chỉ vì mong cho xương chân của em sớm bị dập gẫy? Hay là trong lúc bị chảy máu, chân của em đã bị nhiễm trùng lúc thay băng? Hoặc giả là em quá yếu sức vì thiếu dinh dưỡng như bà Quảng đã nói về tôi lúc năm ngoái? Kiếp trước em đã làm tội tình gì để chịu đựng sự quả báo này?

          Mẹ vỗ vỗ chân em và lau chùi sạch sẽ. Em út đã bất tỉnh. Mẹ gọi bà Nội:

          - Mẹ! Mẹ có kinh nghiệm hơn con. Xin mẹ lại đây giúp con.

          Nhưng bà Nội không trả lời, chỉ nằm ho sù sụ dưới lớp chăn bông. Mẹ bàn với thím:

          - Chắc phải để chân của nó thả lỏng trong không khí vậy.

          Thím lắc đầu:

          - Đó là giải pháp tệ hại nhất. Chị phải biết rằng các xương ngón chân đều đã gẫy. Nếu không băng lại ngay, thì các mẩu xương ấy không nằm đúng chỗ, nó sẽ bị tàn tật xuốt đời. Thế thì ai còn dám cưới nó nữa.

          - Nhưng tôi thà chịu nó sống không lấy chồng, còn hơn phải mất nó.

          Thím không đồng ý:

          - Nhưng như thế, nó chẳng còn giá trị gì nữa cả, cũng chẳng có tương lai nữa. Chị là mẹ nó, lại cam tâm muốn nó trở thành như vậy à?

          Trong khi đó, thì em gái út không cựa quậy gì nữa. Mẹ và thím lại thoa một lớp phèn trước khi bó chân em lại. Ngày hôm sau, tuyết vẫn rơi, tình trạng của em càng tệ hại hơn. Mặc dù không giàu có gì, cha tôi cũng cố gắng lội tuyết để đi vào làng kiếm thầy thuốc. Ông ta đến quan sát em gái tôi một lúc rồi lắc đầu. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy cử chỉ ấy, biểu lộ sự bất lực trước một sự đã rồi. Ông ta đề nghị một loại thuốc đắp và một vị thuốc sắc cho em uống, nhưng ông thành thật:

          - Tôi có thể kê toa, nhưng như thế thì ông bà phải tốn một số tiền, cho một hy vọng mong manh.

          Tin buồn không ngừng ở đó. Trong lúc chúng tôi kính cẩn cúi chào tiễn ông thầy thuốc, thì ông nhìn quanh quẩn và khám phá ra bà Nội nằm co ro trong chăn. Ông bước lại gần bà Nội, sờ trán, bắt mạch, rồi ngước mắt lên nhìn cha tôi:

          - Mẹ của ông bịnh nặng rồi. Sao nãy giờ không nói với tôi?

          Cha biết trả lời sao đây để không bị mất mặt? Cha là một người con tốt, nhưng chỉ là đàn ông thôi. Những chuyện xảy ra ở trên lầu này là việc nội trợ. Dù sao đi nữa, việc chăm sóc sức khỏe cho bà Nội là bổn phận làm con của cha tôi. Thế mà trong lúc cha và chú ở dưới nhà hút thuốc lào mỗi tối, thì trên căn gác này, hai người thân đã trải qua cơn ngặt nghèo.

          Một lần nữa, cả gia đình lại đặt câu hỏi. Có phải mọi người đã dành quá nhiều thì giờ cho đám con gái vô giá trị là chúng tôi mà quên hẳn đi chuyện phải săn sóc sức khỏe của người đàn bà đáng giá nhất trong gia đình, là bà Nội? Có phải việc Nội phải canh chừng em út đi qua đi lại mà làm Nội mất hẳn hơi sức còn lại? Có phải những tiếng  kêu la của em út đã kinh mạch của bà không chịu đựng nổi? Có phải vì thế mà bà Nội trở thành một nạn nhân thứ nhì?

          Căn bệnh của bà Nội đã khiến cho bao nhiêu lo lắng cho bệnh tình của em út đã đổ dồn sang sự lo lắng cho bà Nội. Cha tôi và chú không rời Nội, trừ những lúc phải xuống nhà ăn uống hay hút thuốc lào, hoặc tâm sự để an ủi nhau. Thím tôi lãnh lo hết công việc trong nhà, nấu nướng, giặt giũ cho cả nhà, chăm sóc từng li từng tí cho mọi người. Còn mẹ? Tôi không nhìn thấy mẹ chợp mắt một giây phút nào suốt trong thời gian ấy. Mẹ là dâu trưởng, nên có hai nhiệm vụ chính: sanh con trai nối dõi cho gia tộc, và săn sóc mẹ chồng. Thế mà thay vì để ý đến tình trạng sức khỏe của Nội, mẹ lại để tâm vào triển vọng tương lai của tôi nhiều hơn. Cho nên, để chuộc lỗi về sự chểnh mảng ấy, mẹ đã cố gắng đền bù bằng mọi nghi thức cần thiết. Mẹ thắp hương tụng kinh cầu Trời khấn Phật, và cầu tổ tiên phù hộ cho Nội, thậm chí không ngại trích máu của mình để làm tăng sinh lực cho bà Nội.

          Mọi người đều phải lo săn sóc cho bà Nội, nên giao cho tôi và Diễm Nguyệt chăm lo cho em gái út. Chúng tôi chỉ mới có bảy tuổi, nào biết làm gì hay nói gì để an ủi em. Sự chịu đựng đau đớn vô biên của em cũng không sao sánh được sự đau khổ mà tôi phải trải qua trong đời tôi khi bốn ngày sau đó, em đã lìa đời, vì đau đớn và nhức nhối quá sức chịu đựng của em ở tuổi đời còn quá nhỏ. Bà Nội tôi cũng qua đời ngay hôm sau. Không ai thấy bà phải chịu đựng đau đớn khi chết. Bà cứ từ từ co quắp, rút ngắn lại trong chiếc chăn bông, như con tằm trốn dưới chiếc thảm lá mùa thu.

          Vì trời lạnh cóng, đất còn cứng nên chưa chôn cất được. Hai cụ già là chị em nuôi của bà Nội tới canh chừng cho Nội, tụng kinh và mặc những quần áo bằng lụa cho Nội để lên trời. Nội già lại sống lâu nên bao nhiêu quần áo được đem ra quấn cho Nội để sửa soạn chuyến đi về bên kia thế giới. Em út tôi thì còn quá nhỏ, chỉ mới sáu tuổi, em có được bao nhiêu quần áo đâu? Bạn bè cũng thế, em chẳng có ai để gặp gỡ bên kia thế giới. Cho nên lúc mất em chỉ mặc có mỗi một bộ đồ mùa hè và một bộ mùa đông, khốn khổ thân em, lại là những bộ quần áo mà em phải mặc thừa của chị hai và của tôi. Bà Nội và em đã trải qua mùa đông như thế dưới làn tuyết lạnh.

          Trong thời gian chờ chôn cất bà Nội và em út của tôi thì biết bao nhiêu là chuyện xảy ra trong căn Nữ phòng của chúng tôi. Dĩ nhiên, chúng tôi vẫn phải lo mọi việc thường nhật là đi qua đi lại chung quanh căn phòng, là rửa chân và thay băng mỗi bốn ngày, là mỗi hai tuần thì phải thay hài một lần, mỗi lần thay thì đôi hài lại nhỏ hơn một tí. Nhưng bây giờ thì mẹ và thím tôi canh chừng chúng tôi nghiêm ngặt hơn. Phần chúng tôi cũng cố gắng chứng tỏ sự thận trọng và ngoan ngoãn hơn, không làu bàu cũng không dám phản đối gì nữa cả. Mỗi lần thay băng, mẹ và thím rửa chân cho chúng tôi một cách tỉ mỉ. Buổi tối trước khi đi ngủ, và mỗi buổi sáng, chị hai quan sát bắp chân và đùi của chúng tôi để yên trí là không có dấu hiệu làm độc.

          Ngày nay, thoảng có lúc nhớ lại những ngày đầu phải băng chân, tôi vẫn nhớ như in những lời nói của bà Nội, của mẹ và thím cũng như chị hai của tôi cũng thường nhắc nhở chúng tôi: "lấy con gà giò thì đời sống của ta sẽ thành con gà giò, lấy con gà trống thì đời ta sẽ thành con gà trống". Dạo ấy, cũng như bao nhiêu việc khác, tôi chỉ nghe mà có hiểu khỉ khô gì đâu. Chỉ biết rằng kích thước của đôi bàn chân sẽ quyết định vận mạng của chúng tôi. Đôi chân càng nhỏ bé bao nhiêu thì càng khiến cho gia đình nhà chồng tương lai tin tưởng ở sự ngoan ngoãn, và khả năng chịu đựng từ bé, đồng thời càng có cơ hội được gả vào những gia đình khá giả.

          Đôi chân bé nhỏ của tôi dưới mắt mọi người đã chứng tỏ sự vâng lời gia đình, nhất là nghe lời mẹ, điều này đã khiến mẹ chồng của tôi sau này không khỏi xúc động. Cũng như những đôi hài mà tôi thêu may chứng tỏ tài nữ công khéo léo và khả năng nội trợ của tôi. Hơn nữa, điều mà tôi không ngờ rằng chính đôi bàn chân bé bỏng ấy lại quyến rũ chồng tôi hơn cả, trong những giây phút thân mật lãng mạn nhất của vợ chồng. Suốt thời gian chung sống, chồng tôi không bao giờ chán nhìn ngắm, nâng niu đôi bàn chân của tôi trong tay, ngay cả sau khi tôi đã sanh năm đứa con, khi mà thân thể tôi đã không còn đủ sức quyến rũ nữa, thì đôi chân vẫn giữ nguyên vẹn nét đẹp thanh tú, gợi cảm.

 

Chương 4 - Chiếc qut la

         

          Đã sáu tháng trôi qua kể từ ngày chúng tôi bị bó chân lần đầu tiên, và hai tháng rồi kể từ ngày em gái út của tôi và bà Nội qua đời. Tuyết đã tan và đất cũng mềm ra, không còn cứng như đá nữa. Hai thi thể của em út và bà Nội cũng được sửa soạn để chôn cất. Trong Dao tộc của chúng tôi, hay nói cho đúng trong bất cứ một gia đình Trung Hoa nào, có ba dịp quan trọng trong đời mà người ta chi tiền không tiếc nuối: đó là lúc sinh con, lúc cưới gả và lúc ma chay. Ai ai cũng mong muốn được sinh ra và được cưới gả trong những hoàn cảnh tốt đẹp nhất, và lúc chết cũng được an táng một cách trang nghiêm nhất. Nhưng số phận và hoàn cảnh của mỗi người cũng ảnh hưởng không ít đến ba dịp quan trọng này. Bà Nội tôi là trưởng bối lại là khuôn mẫu trong gia đình, trong lúc em gái út thì chưa làm được gì cho cuộc đời cả. Cha và chú tôi tom góp hết tiền nong trong gia đình để đặt một người thợ mộc làm cho bà Nội một chiếc quan tài có phẩm chất tốt, và em út của tôi được một cái hòm bằng gỗ mộc. Hai bà cụ chị em nuôi của Nội cũng đến đưa tiễn trong buổi lễ hạ huyệt.

          Lần ấy, lại thêm một dịp cho tôi thấy rõ sự nghèo nàn của gia đình chúng tôi. Chỉ cần gia đình tôi giàu có thêm một tí thôi, chắc chắn cha tôi sẽ không quản ngại làm một bia mộ để tưởng niệm bà Nội. Lẽ ra, cha cũng phải thuê một thầy tướng số chọn nơi có phong thủy tốt để chôn bà, và thuê một chiếc kiệu để chở tôi và Diễm Nguyệt, đang gặp khó khăn về vấn đề đi đứng, không thể tự đi bộ ra chỗ chôn cất. Nhưng khốn nỗi, tiền đâu mà làm tất cả những thứ ấy, mẹ tôi phải cõng tôi trên lưng, còn thím tôi thì cõng Diễm Nguyệt. Đám tang đơn giản tiến hành ra đến chỗ được chọn để hạ huyệt, sát nơi bìa miếng đất mà gia đình tôi thuê để canh tác. Cha và chú tôi cứ thay phiên nhau dập đầu xuống đất để lạy. Mẹ nghiêng người kính cẩn vái lạy trước mộ. Chúng tôi đốt vàng mã và đặt vài thứ bánh trái để cúng bà.        Mặc dù bà Nội không được học Nữ Tự, nhưng bà còn giữ được vài quyển sách được các bạn bè của bà viết tặng vào ngày cưới của bà, từ nhiều năm về trước, và vài vật dụng cá nhân. Tất cả được các bà chị em nuôi của Nội đem ra đốt trước mộ để Nội đem theo về trời,     vừa đốt vừa hát: “chúng tôi mong bà gặp được các chị em khác trên trời, và được vui vẻ hạnh phúc với nhau. Đừng quên chúng tôi. Dù rễ cây hoa sen có bị xẻ ra, thì sợi dây kết nối chúng ta vẫn không sao tháo gỡ…”.

          Không có một lời nào được đọc cho em út của tôi. Anh cả của tôi cũng không biết phải nói gì. Em tôi chưa biết đọc biết viết Nữ Tự, nhưng tôi và Diễm Nguyệt cùng thím tôi cũng viết một lá thư cho em và đốt ngay sau đó, để giới thiệu em với vong hồn của tổ tiên.

          Đó là khởi đầu của ba năm để tang cho bà Nội, nhưng cuộc sống vẫn phải tiếp tục như thường. Những ngày đau đớn nhất của thời gian bó chân đã qua, mẹ không cần phải đánh mắng tôi nữa, và những sự nhức nhối cũng bớt đi. Việc tốt nhất hiện nay cho chúng tôi là đợi đến ngày đôi chân chúng tôi lành lặn và có hình thù nhất định.

Mỗi sáng sớm, dưới sự chỉ dẫn của chị hai, chúng tôi bắt đầu những mũi thêu may đầu tiên. Đến gần trưa, thì mẹ dạy chúng tôi se chỉ. Sau bữa ăn trưa thì tập dệt vải. Thím tôi cũng dạy Diễm Nguyệt những điều kể trên, nhưng theo một thời biểu ngược lại. Cuối chiều là giờ học Nữ Tự, mà thím tôi đã kiên nhẫn và trìu mến dạy cho chúng tôi những từ ngữ và qui luật.

          Giờ đây, không còn phải chăm nom em gái út nữa, chị hai của tôi, lúc này đã được mười một tuổi, lại tiếp tục học gia chánh. Bà Cựu, người mai mối trong làng chúng tôi, thường xuyên đến nhà để bàn việc tìm người phối ngẫu cho anh cả cũng như cho chị hai của tôi.

          Một cô gái của làng Gia Cầu, là nơi sanh đẻ của bà mai mối, trong một gia đình nghèo như gia đình tôi, được mai mối cho anh cả của tôi. Bà mai cứ qua qua lại lại giữa hai làng để đem những bức thư qua lại viết bằng Nữ Tự. Thím tôi cũng sanh đẻ nơi làng bên ấy, nhờ thế thím cũng nhờ đem thư từ qua lại với gia đình của thím. Những dịp như thế, mọi người lại được nhìn thấy nụ cười rạng rỡ của thím, không bận tâm đến cái việc khoe hàm răng nhấp nhô khấp khểnh của thím.

          Chị hai của tôi nhờ nhan sắc cũng dễ coi, được mai mối cho con trai của một gia đình khá giả hơn gia đình tôi một chút, ở làng Tân Nghệ, xa xôi hơn. Chúng tôi thật buồn khi nghĩ đến sau này không được gặp nhau nữa, mặc dù biết rằng chúng tôi còn được ở bên nhau trong sáu năm nữa trước khi chị chính thức xa rời chúng tôi. Trong làng chúng tôi, có phong tục là con gái lấy chồng rồi phải trở về nhà cha mẹ để chờ cho đến lúc có thai rồi mới được sang ở hẳn bên gia đình nhà chồng.

          Nói về hai bà mai mối thì bà Cựu và bà Quảng khác xa nhau một trời một vực. Trong khi bà Quảng lúc nào cũng quần là áo lượt, thì bà Cựu chỉ mặc quần vải áo thô. Làm mai mối trong một làng nghèo nàn như làng chúng tôi, cho những gia đình bần hàn như gia đình tôi, thì lấy đâu ra tiền thù lao hậu hĩ chứ? Lại nữa, bà Quảng nói ngọt ngào như mật rót vào tai bao nhiêu thì Bà Cựu ăn nói cứ cắn ca cắn cẩu làm sao ấy, chán chết. Lần nào bà đến nhà tôi là cứ leo tót lên lầu, ngồi chễm chệ trên chiếc ghế đẩu và đòi xem xét chân của tất cả con gái trong nhà. Khỏi phải nói thì cũng biết là Diễm Nguyệt tuân lời răm rắp rồi. Nhưng tôi, mặc dù duyên phận của tôi đã nằm trong tay bà Quảng rồi, thế mà mẹ tôi vẫn cứ bắt tôi tháo hài ra cho bà xem chân. Bà tấm tắc hết lời khen ngợi:

          - Ồ! Cái nếp gấp thật sâu, hiếm người có. Cô bé này chắc chắn sẽ đem lại hạnh phúc cho người chồng tương lai!

          Hay là:

          - Xem kìa! Gót chân thì tròn trĩnh, còn mũi chân thì thuôn dài về phía trước. Ông chồng nào có phước được nâng niu đôi bàn chân này thì sẽ tưởng tượng như là…

          Lúc ấy, tôi cũng không hiểu rõ những lời nói của bà, bây giờ nghĩ lại tôi thấy thật xấu hổ tại sao bà có thể nói những lời lẽ như thế trước mặt mẹ và thím tôi chứ. Và hai người lại còn cười ròn rã trước mặt bà mai. Chúng tôi cũng cười góp mà chẳng hiểu gì.

          Năm ấy, ngày mồng tám tháng tư âm lịch, chị hai và nhóm chị em nuôi của chị họp nhau trên phòng để mừng ngày hội Đấu Bò. Năm cô gái, mỗi người mang một món ăn đến: canh bún, củ cải với trứng, giò heo hầm sốt cay, đậu ướp mắm, bánh gạo. Rồi các chị cùng nhau nặn bột làm bánh hấp, chấm với xì dầu thêm vị cay của dầu và vài giọt chanh. Các chị vừa ăn vừa cười khúc khích cùng nhau kể chuyện cổ tích trong Nữ Tự, như Chuyện nàng San Nữ, trong đó cô gái con nhà giàu chung thủy với người chồng nghèo, cùng nhau chia ngọt xẻ bùi cho đến khi họ được trời đền bù, người chồng đỗ đạt, bảng hổ đề danh; hay chuyện Mỹ nhân Ngư, nàng cá biến thành cô gái đẹp yêu thương một thư sinh, cuối cùng bị lộ hình hài loài cá.

          Nhưng câu chuyện lý thú nhất của các chị là Chuyện Cô gái có ba người anh. Các chị không thuộc hết câu chuyện, nhưng không tìm mẹ tôi để hỏi han các lời đối thoại trong truyện mà lại nài nỉ thím tôi nhắc các chị trong mỗi đoạn của câu chuyện. Tôi và Diễm Nguyệt được dịp nhập cuộc, vì câu chuyện hấp dẫn tất cả mọi người, vừa bi thương, lại vừa có những ẩn ý hài hước.

          Ngày xưa, một trong những chị em nuôi của thím tôi đã tặng thím chiếc khăn thêu câu chuyện này. Thím nhớ ra, chạy đi tìm và trải chiếc khăn ra một cách cẩn trọng. Tôi và Diễm Nguyệt chạy lại ngồi bên cạnh thím để vừa có thể nhìn chữ thêu trên chiếc khăn trong lúc thím đọc ê a:

          - Một cô gái có ba người anh, - thím bắt đầu câu truyện- cô ta là một người đức hạnh, nhưng cô không lấy chồng, vì phải làm việc quần quật giúp gia đình. Nhưng ba người anh trai nhất định không dành dụm để gây vốn hồi môn cho cô. Thật là bất hạnh! Thế cô ta phải làm sao?

          Mẹ tôi tiếp lời:

          - Cô buồn và tuyệt vọng đến nỗi một hôm cô ra vườn và treo cổ trên một cành cây cao.

          Diễm Nguyệt, tôi và chị hai cùng nhóm chị em nuôi của chị đồng thanh cất giọng hát tiếp:

          - Người anh cả đi qua vườn và không nhìn thấy cô ta. Người anh hai đi qua vườn cũng không hay rằng cô ta đã chết. Người anh ba nhìn thấy cô, nước mắt hai hàng và đem xác cô về nhà.

          Từ góc phòng bên kia, mẹ ngước mắt nhìn lên và chạm vào mắt tôi đang nhìn mẹ. Mẹ cười, sung sướng có lẽ vì thấy tôi hát không vấp váp.

          Thím tôi tiếp tục câu chuyện:

          - Ngày xưa, có cô gái kia có ba người anh trai. Khi cô chết rồi, không ai muốn lo cho thi hài của cô ấy. Cô là người đức hạnh và làm việc vất vả, nhưng ba người anh không ai muốn lo cho cô ấy. Dã man thật! Rồi chuyện gì xảy đến nhỉ?

          Mẹ tôi lại ê a tiếp lời thím:

          - Họ mặc kệ cô ta lúc chết cũng y như họ đã mặc kệ cô lúc còn sống, nhưng thi thể cô ta bắt đầu rữa nát.

          Lại đến phiên chúng tôi cùng hát:

          - Người anh cả cho một mảnh vải để bọc thi thể cô. Người anh hai cho hai mảnh vải. Người anh ba dùng hết vải vóc có trong nhà để quấn cho cô khỏi lạnh lẽo khi lên trời.

          - Ngày xưa, có cô gái có ba người anh trai, - thím tôi lại hát tiếp. Bây giờ thì cô ta đã được mặc tử tế để về bên kia thế giới, nhưng ba người anh lại không muốn bỏ tiền ra mua hòm chôn cô ấy. Cô gái thật đức hạnh và làm việc sớm chiều, nhưng ba người anh thật bần tiện và bủn xỉn. Thật là bất công. Thế rồi cô ta có được yên nghỉ không?

          - Bị bỏ rơi, bị bỏ rơi! - Mẹ tôi hát tiếp, cô ta mơ mộng nghĩ đến những nơi sẽ đến.

          Thím tôi dùng ngón tay để hướng dẫn chúng tôi trên các dòng chữ, từng chữ từng chữ một, mặc dù chúng tôi chưa học hết các chữ được thêu trên chiếc khăn.

          - Người anh cả nói:Vô ích! Mua hòm làm chi? Cứ thế chôn nó được rồi”. Người anh hai đề nghị:Ta dùng cái rương cũ vất trong kho để chôn nó cũng được”. Người anh ba lúc đó mới nói: Đây là tất cả tiền em còn lại. Đi mua cho nó cái hòm”.

          Câu chuyện gần chấm dứt nên mọi người thay đổi nhịp điệu. Thím tôi tiếp tục:

          - Ngày xưa, cô gái kia có ba người anh. Câu chuyện đến đây thì người em gái kia ra sao? Người anh cả là một người keo kiệt. Người anh hai có trái tim bằng đá. Người anh ba có nghe được tiếng nói của tình thương?

          Các chị lớn nhường cho tôi và Diễm Nguyệt kết thúc câu chuyện:

          - Người anh cả tuyên bố:Hãy chôn nó dọc theo con đường mà đàn trâu vẫn đi qua, ngụ ý để nó vĩnh viễn bị chà đạp bởi những vết chân trâu”. Người anh thứ hai nói: “Hãy chôn nó dưới chân cầu, để dòng nước cuốn nó trôi xa”. Nhưng người anh thứ ba lại nói:Chôn nó sau nhà, để mọi người trong chúng ta nhớ đến nó”. Thế là cô gái bất hạnh suốt cuộc đời, thì đến lúc chết lại tìm được nguồn hạnh phúc vô biên, nhờ tấm lòng rộng mở và con tim nhân hòa của người anh trai.

          Tôi yêu câu chuyện đó. Thật là vui thích khi được ngồi chung nhau ê a hát. Nhưng từ lúc bà Nội và em gái út mất đi, thì tôi hiểu ngụ ý của câu chuyện hơn. Câu chuyện cho tôi biết giá trị của con người thay đổi như thế nào tùy theo đôi mắt nhìn của mỗi người, cũng như cho chúng ta biết cách cư xử ra sao đối với một người đã chết, từ cách thức ăn mặc tẩm liệm đến nơi chốn chôn cất. Gia đình tôi đã làm hết khả năng để tôn trọng các qui luật ngàn năm này và tôi cũng tâm niệm như thế nếu sau này tôi trở thành người vợ, người mẹ.

         

          Sáng hôm sau, bà Quảng lại xuất hiện. Tự nhiên tôi đâm ra có ác cảm với các cuộc thăm viếng của bà, có lẽ vì sự vồn vập quá đáng của gia đình tôi dành cho bà. Dĩ nhiên là mọi người trong nhà vui lắm khi chị hai có được một cuộc hôn nhân tốt; cũng như anh hai sắp đón được nàng dâu cả về cho gia đình. Nhưng gánh nặng tài chánh không phải là nhỏ. Gia đình vừa trải qua hai cái tang. Cứ để tình cảm sang một bên mà nói, thì những viễn cảnh vui vẻ đó, cộng với nỗi đau vừa trải qua đã khiến gia đình phải chi tiêu khá bộn. Sau hai đám tang, lại sắp hai đám cưới, cứ tiền là tiền.

          Cái áp lực đó còn đè nặng trên mình tôi hơn, bên trong cái triển vọng một tương lai rạng rỡ đang chờ đợi tôi, là sự tồn tại của cả gia đình trông cậy vào đó.

          Bà Quảng lên tận Nữ phòng của chúng tôi. Bà lịch sự xem xét và khen ngợi thủ công của chị hai tôi. Rồi bà ngồi vào chiếc ghế đẩu, quay lưng về phía cửa sổ. Bà nhìn về chỗ tôi. Mẹ tôi, đã biết địa vị của bà trong nhà này ra sao rồi, nên đưa mắt ra hiệu cho thím tôi đi pha trà. Trong khi chờ đợi, bà Quảng nói chuyện trời mua trời nắng, từ chuyện lễ lạc trong đình đến chuyện chuyến hàng vừa cập bến bằng đường thủy. Nhưng khi trà được rót ra mời thì bà đi vào câu chuyện:

          - Kính thưa bà, - bà Quảng bắt đầu, chúng tôi đã có cơ hội bàn về chuyện tương lai của cô con gái của bà. Một cuộc hôn nhân kết hợp vào một gia đình danh giá ở Cự Tống gần như là bảo đảm. Hiện nay, tôi đã có đánh tiếng một vài nơi. Chỉ vài năm nữa, tôi có thể quay lại thưa chuyện với bà và ông nhà để chính thức dạm hỏi.

          Bà dựa ngửa người ra sau, hắng giọng:

          - Nhưng hôm nay, vì nghĩ đến một cuộc kết hợp khác mà tôi đến đây. Chắc hẳn ông bà còn nhớ, lần đầu tiên chúng ta gặp mặt tại nhà này, tôi đã đề cập đến chuyện con gái của bà, Bạch Huệ, có thể trở thành chị em kết nghĩa?

          Bà Quảng ngừng lại một lúc, như thể muốn đo lường lời nói của bà có hiệu lực đến mức nào trước khi nói tiếp:

          - Làng Cự Tống nếu đi bộ thì chưa đầy một tiếng đồng hồ. Đa số gia đình tại đó thuộc giòng họ Lữ. Tôi đã tìm được một người có thể làm chị em kết nghĩa với Bạch Huệ. Tên cô ta là Tuyết Hoa.

          Phản ứng của mẹ cũng như của mọi người có mặt trong phòng chứng tỏ rằng không những chúng tôi đã quên mà chúng tôi cũng không hề bàn bạc thêm về chuyện ấy từ đó đến nay.

          - Nhưng còn tám đặc điểm cần thiết để kết nghĩa? - Mẹ tôi hỏi nhẹ nhàng nhưng không kém phần rắn rỏi: chúng có trùng hợp nhau không? Tôi không thấy có lý do gì để con gái tôi cần phải kết nghĩa, một khi chúng không phù hợp hoàn toàn.

          Bà Quảng trả lời cũng bằng giọng chắc nịch:

          - Tôi không đến đây gặp bà nếu không phải là tôi đã tìm được người có các đặc điểm hoàn toàn với con gái bà. Bạch Huệ và Tuyết Hoa cùng sinh năm Ngọ. Cả hai đều sinh cùng tháng, không những cùng ngày mà còn cùng giờ nữa kìa, nếu như những dữ kiện mà bà và mẹ cô ta cho tôi là đúng. Cả hai đều có số anh chị em bằng như nhau, và cả hai đều là con thứ ba trong gia đình.

          - Nhưng….

          Bà Quảng đưa tay chận mẹ lại:

          - Tôi trả lời câu hỏi của bà, trước khi bà hỏi tôi: đúng, cô con gái thứ ba của gia đình họ Lữ cũng đã đi theo tổ tiên rồi. Đó là một thảm cảnh, vì không ai muốn mất đi đứa con của mình, dù là con gái (ý bà muốn nhắc đến cái chết của em tôi cũng trùng hợp như cái chết của cô gái trong gia đình họ Lữ).

          Bà nhìn thẳng vào mắt mẹ tôi, như thách thức mẹ tôi trả lời. Khi thấy mẹ quay mặt đi, bà nói tiếp:

          - Bạch Huệ và Tuyết Hoa đều có cùng kích thước, cũng đẹp như nhau, và quan trọng hơn nữa là được bó chân vào cùng một ngày. Duy có điều là ông cố của Tuyết Hoa làm quan, ông ta đậu tiến sỹ, điều đó có nghĩa là hai cô gái không cùng một tầng lớp xã hội.

          Bà Quảng chẳng cần phải giải thích thì chúng tôi cũng hiểu rằng nếu tổ tiên của Tuyết Hoa đã có một người làm quan lớn như thế thì chắc chắn họ phải có một sự giao thiệp rộng rãi cũng như phải ung dung về tài chánh.

          - Nhưng mẹ của Tuyết Hoa thì lại không có vẻ gì bận tâm về sự chênh lệch ấy, vì bà ta thấy hai đứa nhỏ có quá nhiều điểm trùng hợp.

          Mẹ ngấm ngầm đồng ý, yên lặng một lúc để ngẫm nghĩ về lời đề nghị này. Nhưng tôi, tôi chỉ muốn đứng ngay dậy, được chạy ra bờ sông để thét lên vì sung sướng. Tôi thấy thật kích động. Tôi nhìn sang thím tôi, chờ đợi một nụ cười sáng rỡ trên khuôn mặt của thím, khoe hàm răng lởm chởm, nhưng trái lại, thím lại mím chặt môi, cố dấu sự hài lòng. Toàn thân thím hoàn toàn bất động, chỉ trừ những ngón tay cựa quậy một cách bối rối, như một đám cá mòi nhúc nhích dưới đáy sô nước. Hơn cả chúng tôi, thím đang lượng định tầm quan trọng của cuộc nói chuyện ngày hôm nay. Tôi ngấm ngầm đưa mắt nhìn chị hai, rồi lại nhìn Diễm Nguyệt, cả hai long lanh đôi mắt vui sướng. A, thế là tối nay khi mọi người ngủ hết, chúng tôi sẽ có cái gì đó để bàn với nhau rồi.

          Bà Quảng nói tiếp:

          - Tôi thường thực hiện chuyện này vào dịp tết Trung thu, khi các cô bé được chừng tám hay chín tuổi. Tuy nhiên trong trường hợp này, một cuộc kết hợp sớm sủa hơn có thể có lợi cho con của bà. Con gái bà có rất nhiều đức tính tốt, trên mọi phương diện. Tuy nhiên, cô ấy cần học thêm nữ công, đồng thời cũng cần học hỏi thêm về cung cách, phong thái thanh tao hơn, trước khi được gả vào một gia đình vọng tộc.

          - Con gái tôi không tránh được khuyết điểm, - mẹ tôi ngắt lời với giọng thờ ơ. Nó thường tỏ ra cứng đầu cứng cổ, hay cãi. Tôi không dám chắc là cuộc kết hợp này tốt cho nó. Thà làm một hạt nho không lành lặn trong cái chùm nho của đám chị em nuôi mà nó sẽ lập ra, còn hơn làm cho một cô gái cao sang hơn nó bị thất vọng.

          Niềm vui vừa bừng dậy trong tôi cách đây mấy phút chợt tan biến mất và tôi cảm thấy một nỗi buồn thăm thẳm. Tôi còn chưa đủ trưởng thành để hiểu rằng lời nói của mẹ làm mất lòng bà mai, cũng là một cách thương lượng, cũng y như sau này, cha tôi cũng đã thương lượng với bà mai về việc hôn nhân của tôi vậy. Cái chuyện mẹ đánh giá thấp con mình trước mặt bà mai là để tránh sau này cha mẹ không phải nghe những lời than phiền từ phía gia đình chị em kết nghĩa hay gia đình nhà chồng của tôi; cũng như để có thể hạ thấp thù lao của bà mai mối hay làm giảm bớt cái giá của hồi môn của tôi.

          Bà Quảng cũng đâu chịu thua:

          - Bà phản ứng như vậy cũng là tự nhiên thôi. Tôi thông cảm những sự bận tâm của bà. Nhưng hôm nay, chúng ta nói chuyện đến đấy đủ rồi…

          Bà yên lặng một lúc, như là vừa có một ý nghĩ nào đó chợt đến, mặc dù ai cũng hiểu rằng mỗi cử chỉ, mỗi lời nói của bà đều đã được tính toán cả rồi. Bà luồn tay vào cánh tay áo, rút ra một chiếc quạt lụa, rồi gọi tôi đến. Bà giơ chiếc quạt đưa tôi, và nói với mẹ:

          - Bà cần có chút thì giờ trước khi quyết định số phận của Bạch Huệ.

          Tôi mở cánh quạt ra, ngắm nghía dòng chữ viết dọc theo một nếp quạt, và giải lá tô điểm ở vành của cánh quạt.

          Mẹ tôi nhìn kỹ bà mai rồi lạnh lùng nói:

          - Bà cho con gái tôi chiếc quạt này trong khi chúng ta, tôi với bà, cũng chưa thảo luận gì về thù lao của bà…

          Bà Quảng xua tan ngay cái lời phê phán của mẹ tôi, bằng một cử chỉ dứt khoát:

          - Bà không phải bận tâm về chuyện đó. Bà không phải trả gì cho tôi cả. Gia đình cô bé Tuyết Hoa sẽ trả đầy đủ cho tôi. Và nếu con gái bà chấp nhận để tôi mai mối kết nghĩa với một cô gái danh giá hơn, thì sau này tiền thù lao mà gia đình nhà chồng tương lai của con bà trả cho tôi sẽ tăng gấp bội. Đối với tôi, thế là quá tốt.

          Bà đứng lên đi về phía cầu thang, nhưng đột nhiên lại quay lại, đặt tay lên vai thím tôi, nói:

          - Còn nữa, bà cần cân nhắc. Mẹ của Tuyết Hoa đã dạy dỗ cô ấy rất chu đáo và tôi cam đoan là Tuyết Hoa và Bạch Huệ sẽ rất khắn khít nhau. Nếu chúng ta có thể giúp Bạch Huệ kết nghĩa với Tuyết Hoa thì cũng có nghĩa là cơ hội được gả sang gia đình danh giá ở Cự Tống sẽ có nhiều triển vọng hơn. Khi đó, theo tôi nghĩ, may ra là tôi cũng có thể tìm cho Diễm Nguyệt một gia đình cùng trong làng Cự Tống.

          Lời đề nghị ấy làm chúng tôi chưng hửng. Quên cả ý tứ, tôi quay sang nhìn Diễm Nguyệt, lúc đó cũng đang thật kích động như tôi.

Bà Quảng đưa tay lên, cong bàn tay lại thành hình trăng lưỡi liềm rồi nói:

          - Dĩ nhiên, rất có thể là bà đã nhờ đến tài mai mối của Bà Cựu rồi. Như thế, tôi cũng không muốn xen vào công việc tại địa phận của bà ấy.

          Khi nói những chữ cuối cùng, bà Quảng muốn ngụ ý "thấp kém" hơn. Cho thấy là nếu cần phải mặc cả thì mẹ tôi không thể nào sánh được với bà Quảng rồi. Bà nói thẳng với mẹ tôi:

          - Tôi nghĩ, việc này cứ bàn luận giữa đàn bà với nhau thì hơn. Đó là một trong những việc hiếm hoi mà các bà có quyền quyết định cho con gái, cũng như sau này cho cháu gái của bà. Dĩ nhiên, cần phải có sự đồng ý của người cha trước khi chúng ta đi thêm những bước kế tiếp. Tôi xin để bà suy nghĩ nhưng tôi khuyên bà thêm một câu: những chuyện thế này, không gì hay hơn là bàn luận với ông nhà vào những lúc vợ chồng âu yếm thân mật.

          Trong khi mẹ và thím tôi tiễn bà mai lên kiệu thì trên phòng, tôi cùng chị hai và Diễm Nguyệt bàn cãi sôi nổi và thật hứng thú. Có thể nào ngần ấy sự việc thật tuyệt vời lại đến một lúc với tôi như vậy chứ? Ngày nào đó Diễm Nguyệt có thể cũng sẽ được gả vào một gia đình ở Cự Tống? Chúng tôi sẽ đời đời được ở cạnh nhau? Chị hai tôi, lẽ ra cũng tủi thân vì thân phận của chị, nhưng ngược lại thì chị lại biểu lộ sự vui sướng với lời đề nghị của bà mai, vì chị cũng biết rằng cả nhà sẽ được hưởng lợi sau này.

          Tuy còn nhỏ lắm, nhưng chúng tôi cũng biết giữ ý tứ. Tôi và Diễm Nguyệt ngồi xuống để đỡ mỏi chân. Chị hai hất hàm, chỉ vào chiếc quạt mà tôi vẫn cầm trên tay nãy giờ:

          - Xem xem trong ấy viết cái gì? Chị nói.

          - Em không hiểu hết ý nghĩa trong ấy, chị phải giúp em, - tôi nói.

          Chị hai và Diễm Nguyệt chồm qua vai tôi để cùng nhau đọc những chữ trên cánh quạt. Nhưng chúng tôi cũng chỉ hiểu được lờ mờ vài chữ trong đó như: cô gái trẻ, lịch thiệp, phái nữ, nhà, bạn, tôi….

          Tiễn bà mai xong, thím tôi lên lầu, vì thừa biết rằng thím là người duy nhất có thể giúp tôi đọc những dòng chữ đó. Thím dùng đầu ngón tay chỉ vào từng chữ, từng chữ một và đọc. Tôi ghi nhớ những lời lẽ trong đó: "Tôi biết có người con gái thật ngoan hiền, giỏi giang công việc nhà, sống trong căn nhà này. Chúng ta, tôi và bạn, đều sinh cùng ngày, cùng tháng, cùng năm. Chúng ta có thể nối liền vận mệnh của mình với nhau không? "

          Trước khi tôi có thể trả lời cô bé Tuyết Hoa này, thì biết bao nhiêu điều cần phải bàn cãi và cân nhắc trong gia đình. Mặc dù ba đứa chúng tôi không có quyền nói một lời gì trong chuyện này, nhưng chúng tôi cũng đã trải qua bao nhiêu thì giờ để nghe mẹ và thím tôi bàn cãi, tính toán về nhiều hậu quả khác nhau của việc kết nghĩa giữa tôi và Tuyết Hoa. Mẹ tôi cũng nhậy cảm và có tài tiên tri, nhưng thím tôi  thì được sinh trưởng trong một gia đình có trình độ cao hơn gia đình tôi, đương nhiên, sự hiểu biết của thím vượt trội hơn mẹ tôi. Dù sao, trong gia đình, mẹ tôi vẫn giữ địa vị dâu trưởng, nên thím cũng dè dặt lời nói, nhất là từ khi bà nội mất, mẹ trở thành người đàn bà cai quản cả gia đình.

          - Kết nghĩa! Cũng quan trọng như hôn nhân vậy. Thím tôi bắt đầu khơi mào câu chuyện.

          Thím thuật lại hầu hết những lý do được bà mai nêu lên, nhưng cuối cùng thím vẫn nhắc đến yếu tố mà thím cho là quan trọng nhất:

          - Kết nghĩa là một quyết định cá nhân, giữa hai chị em thề nguyền thương yêu và chung thủy với nhau đời đời, kiếp kiếp. Trong khi hôn nhân, ta không có quyền lựa chọn và chỉ có một mục đích duy nhất: sanh con trai nối dõi cho gia đình nhà chồng.

          Mẹ an ủi thím:

          - Thím cũng có Diễm Nguyệt, đừng quên điều đó. Nó là một đứa bé thật ngoan, ai ai cũng yêu thích.

          - Nhưng dù sao, khi đến tuổi lấy chồng, nó cũng sẽ xa tôi mãi mãi. Nhưng chị thì khác, hai con trai của chị sẽ ở gần chị cho đến hết cuộc đời.

          Hai người luôn luôn muốn tránh nói đến sự đau lòng đó, và mẹ đã khéo léo hướng câu chuyện trực tiếp vào đề tài:

          - Nếu Bạch Huệ sẽ kết nghĩa, - mẹ nói tiếp - điều đó cũng có nghĩa là sau này, nó không được quyền có chị em nuôi, mà tất cả đàn bà trong nhà…

          … "ai ai cũng đều có", ý mẹ muốn nói như thế. Nhưng thím tôi ngắt lời:

          - Khi cần có thì vẫn có thể có cách khác. Nếu như chị muốn lúc Bạch Huệ lấy chồng, mà cần có đám chị em nuôi quây quần thủ thỉ bên cạnh nó, thì chúng ta vẫn có thể gọi đám con gái độc thân bên hàng xóm sang với nó, có khó gì đâu.

- Như thế đâu có thân mật bằng nhóm chị em nuôi.

          - Nhưng ngược lại, nó sẽ có chị em kết nghĩa của nó bên cạnh. Khi cả hai đứa nó đến tuổi lấy chồng thì chúng sẽ có nhiều thân mật với nhau, mà trong chúng ta, chị và tôi chưa ai trải qua cả.

          Thím tôi ngừng một chút, là thói quen của thím khi cần nói chuyện gì quan trọng, rồi tiếp:

          - Bạch Huệ có quyền theo con đường khác con đường mà chúng ta đã đi qua. Cái việc nó kết nghĩa với một cô gái gia đình quí phái ở Cự Tống sẽ làm tăng giá trị của nó và khiến người làng bên đó thấy nó xứng đáng kết duyên với một gia đình trong làng của họ. Hơn nữa, tình chị em kết nghĩa không ngừng lại sau khi lấy chồng, như thế liên hệ giữa gia đình chúng ta và người làng Cự Tống sẽ tiếp nối mãi, điều đó há chẳng có lợi cho gia đình ta hay sao? Tất cả những thứ đó sẽ khiến cho địa vị của Bạch Huệ càng tăng thêm đối với những người đàn bà khác bên gia đình chồng tương lai. Nó sẽ không bị mặc cảm. Ngoài đôi chân hoàn hảo của Bạch Huệ, nó còn chứng tỏ được sự trung thành, tín cẩn, lại có cơ hội học hỏi thêm về Nữ Tự nếu như nó được kết nghĩa với cô gái có địa vị cao ngay trong làng của họ.

          Ngày nào tôi cũng nghe mẹ và thím bàn đi bàn lại những tình tiết ấy. Chỉ những khi mẹ bàn với bố thế nào trong những lúc thân mật của bố mẹ thì tôi không được biết. Tôi hiểu rằng sự kết hợp này sẽ tốn kém không ít cho gia đình chúng tôi. Từ những món quà trao đổi giữa hai chị em kết nghĩa, hay những bữa ăn khi gia đình chúng tôi tiếp đón Tuyết Hoa, đến những chi phí cho những lúc tôi phải sang làng Cự Tống để thăm gia đình Tuyết Hoa. Mà chúng tôi thì không tìm đâu ra phương tiện! Nhưng, như bà Quảng đã đề nghị, chính mẹ sẽ phải thuyết phục cha tôi những điều lợi của việc kết nghĩa. Thím tôi cũng góp sức bằng cách thuyết phục chú tôi rằng tương lai của Diễm Nguyệt cũng tùy thuộc vào tương lai của tôi. Ai bảo là đàn bà không ảnh hưởng đến những quyết định của đàn ông chứ? Lầm to đấy!

          Cuối cùng, gia đình tôi đã lấy quyết định như ý tôi mong muốn. Bước kế tiếp là tôi phải trả lời Tuyết Hoa ra sao đây? Mẹ giúp tôi bằng cách thêm vài mũi thêu vào đôi hài mà tôi sẽ may cho Tuyết Hoa để làm quà ra mắt, nhưng mẹ lại không thể giúp tôi làm sao viết thư trả lời. Thường thường, người ta phải trả lời trên một chiếc quạt khác. Thế nhưng, tôi lại có ý nghĩ khác, trái hẳn với thông lệ. Khi tôi nhìn những nét phác họa trên viền quạt, tôi lại nghĩ đến những câu ngạn ngữ như: "hạt đu đủ, cành cao, rễ sâu. Cây dừa nước sống trong vườn, rễ sâu, sống đến ngàn năm". Đó là những điều tôi muốn sự kết nghĩa của hai chúng tôi phải được như thế, là số mạng của chúng tôi sẽ gắn liền, không có gì chia cách. Và tôi muốn dùng chiếc quạt này tượng trưng cho sự kết hợp của tôi và Tuyết Hoa, sẽ chuyên chở ngàn lời bí mật.

          Quyết định như thế rồi, tôi nhờ thím tôi dạy tôi viết một câu bằng Nữ Tự. Chúng tôi bàn cãi cả bao nhiêu ngày trời. Tôi cũng cảm thấy hơi kỳ cục khi phải trả lại món quà mà chính Tuyết Hoa đã tặng cho tôi lần đầu. Cho nên tôi phải cố nghĩ ra câu gì hay ho nhất để viết lên đấy. Thím tôi viết lên giấy những câu mà chúng tôi đã bàn xong và đồng ý rồi bắt tôi viết đi viết lại nhiều lần cho đến khi chữ viết của tôi gần như đúng hoàn toàn. Khi ưng ý rồi, tôi cho chút mực vào nghiên, nhỏ vài giọt nước hòa mực cho đến khi thật đen quánh. Sau đó, tôi cầm chiếc cọ thật thẳng, thật chặt giữa ngón tay cái, ngón trỏ và ngón giữa, rồi thấm mực. Tôi bắt đầu bằng cách vẽ một cọng hoa tuyết nhỏ xíu sát viền quạt, ngay chính giữa nếp quạt. Tôi chọn nếp quạt ngay kế bên nếp quạt mà Tuyết Hoa viết cho tôi, và nắn nót viết:

          "Tôi viết cho bạn, vậy bạn hãy đọc cẩn thận những lời của tôi nhé. Mặc dù nghèo hèn và kém tài, không xứng đáng để nhận chiếc quạt quí giá của bạn, nhưng hôm nay tôi phải viết để nói với bạn rằng định mệnh đã muốn số phận của chúng ta phải gắn liền với nhau. Những lời của bạn thấm đầy tim tôi. Chúng ta là đôi thiên nga, là chiếc cầu soi bóng trên giòng sông. Người người khao khát sự kết hợp của đôi ta. Vâng, tim tôi rộn ràng với niềm vui đó…"

          Thật ra, tôi cũng không có những cảm xúc thật sự như thế đâu. Tôi chỉ mới có bảy tuổi thôi, biết gì về tình yêu chân thật, tình bạn vĩnh cửu. Chúng tôi còn chưa gặp mặt nhau, và nếu có gặp đi nữa, thì cũng còn xa lạ quá. Đó chỉ là những lời nói thôi, hy vọng ngày nào những lời nói đó trở thành sự thật.

Tôi dùng một mảnh vải bọc chiếc quạt và đôi giày tôi vừa làm xong. Bao nhiêu là câu hỏi cứ quay cuồng trong đầu tôi. Liệu gia đình Tuyết Hoa có chấp nhận một cô bé có thân phận thấp kém như tôi? Liệu khi đọc tuồng chữ nghuệch ngoạc của tôi, họ có để ý là tôi kém cỏi hơn Tuyết Hoa đến chừng nào? Hay là cái việc tôi không theo đúng thông lệ mà lại viết thư trả lời trên cùng chiếc quạt của Tuyết Hoa tặng cho tôi, có làm họ nghĩ là tôi thiếu giáo dục không? Họ có hồi lại lời hứa kết nghĩa không? Những ý nghĩ ma quái ấy không ngừng dằn vặt tôi. Nhưng tôi làm gì được bây giờ? Ngoài việc chờ! Làm công việc thường nhật trong nhà. Và để cho đôi chân nghỉ ngơi cho xương chân sớm lành lặn và lấy lại được hình dáng mong muốn.

          Khi bà Quảng trở lại và nhìn những gì tôi viết trên chiếc quạt, thoạt đầu, bà tỏ vẻ không mấy hài lòng. Nhưng, sau một lúc suy nghĩ, cuối cùng bà ưng thuận:

          - Thật đúng là một sự kết hợp hoàn hảo, bà nói. Không những hai cô gái này có tất cả những đặc điểm phù hợp nhau, mà cả tư tưởng cũng giống nhau nữa, do ảnh hưởng của tuổi Ngọ. Kết quả chắc chắn sẽ… khả quan.

          Bà nói những chữ cuối với một giọng ngập ngừng, khiến tôi không khỏi băn khoăn, thắc mắc về Tuyết Hoa.

          - Bây giờ đến lúc phải làm các thủ tục chính thức, - bà lại nói tiếp. Tôi đề nghị đem hai cô gái đến Cát An, vào dịp lễ Cầu Tự, để làm khế ước kết nghĩa cho hai cô. Tôi sẽ lo liệu hết việc chuyên chở hai cô gái, như thế hai cô không phải đi bộ nhiều đâu.

          Vừa nói, bà Quảng vừa cầm bốn góc của mảnh vải, gói trọn chiếc quạt và đôi giày và đem tất cả đi để giao cho người chị em kết nghĩa tương lai của tôi.

 

Chương 5 – Thương yêu

          Những ngày kế tiếp tôi không có cách nào ngồi yên cho đôi chân nghỉ ngơi được. Tôi không ngừng nhắc mọi người là tôi sẽ được làm quen với Tuyết Hoa. Mẹ và thím tôi cũng thế, cả hai cũng nghĩ nát óc để tìm những câu nào cho phù hợp với tờ khế ước mà tôi sẽ phải ký kết với Tuyết Hoa, vì chưa bao giờ mẹ và thím được nhìn thấy một tờ khế ước tương tự.

          Khi chiếc kiệu của bà Quảng ngừng trước cửa nhà, thì tôi đã ăn mặc chỉnh tề từ đầu đến chân, trong bộ quần áo tương đối đơn giản, mộc mạc. Mẹ tôi cõng tôi xuống nhà, rồi ra tận ngoài đường. Mười năm sau, vào ngày cưới của tôi, tôi cũng lại được cõng như thế ra một chiếc kiệu khác, lòng tràn đầy buồn lo đến một tương lai xa lạ đang chờ đón, ray rứt với ý nghĩ sẽ phải bỏ hết lại sau lưng những ngày tháng êm đềm. Lần gặp gỡ đầu tiên này thì tôi lại băn khoăn với ý nghĩ liệu Tuyết Hoa có thấy tôi  hợp “gu” với cô ấy không?

          Bà Quảng mở cửa kiệu và tôi ngồi vào khoảng trống chật hẹp bên trong chiếc kiệu. Tuyết Hoa thật đẹp nhiều hơn là tôi tưởng tượng. Đôi mắt là hai hạt dẻ toàn mỹ. Da trắng như tuyết, chứng tỏ rằng thưở nhỏ, cô ấy không phải ra ngoài trời dang nắng như tôi. Phía sau, tóc cô được buộc bằng một giải nơ đỏ, chiếu ánh lên mái tóc đen nhánh. Cô mặc một chiếc áo dài bằng lụa màu thiên thanh, có thêu những áng mây, và dưới chân là đôi giầy mà tôi đã thêu tặng cô. Cô lặng yên không nói gì cả. Có thể là cô ấy cũng đang thẹn thùng như tôi. Nhưng cô cũng nhìn tôi mỉm cười, tôi cũng cười lại.

          Chiếc kiệu chỉ có một ghế, nên ba người chúng tôi phải ngồi sát bào nhau. Để giữ thăng bằng cho chiếc kiệu, bà Quảng ngồi giữa, hai đứa tôi ngồi hai bên. Bốn người phu nhấc bổng chiếc kiệu lên và không chậm trễ, thoăn thoắt tiến lên chiếc cầu dẫn ra khỏi làng Phủ Quỳ. Lần đầu tiên tôi được ngồi kiệu. Tuy bốn người phu khuân kiệu đã chạy hết sức nhẹ nhàng để chúng tôi không bị lắc lư, thế nhưng chiếc màn vuông kín mít, không khí nóng nực, nhịp chân nhanh như chạy của họ, chưa kể là sự băn khoăn lo lắng của tôi, đã khiến tôi thấy thật cồn cào. Đây cũng là lần đầu tiên tôi được ra khỏi làng, mặc dù qua khung cửa sổ trên phòng tôi cũng đã được nhìn phong cảnh xa xa bên ngoài, cho nên tôi không biết giờ này mình đang ở đâu, lại càng không biết bao giờ sẽ đến nơi.

          Tôi cũng đã từng nghe nói qua về ngày lễ hội tại đền Cầu Tự. Phụ nữ đến đó hàng năm vào ngày mười tháng năm âm lịch để cầu nguyện, xin Trời ban cho được sanh con trai. Dễ thường phải có bao nhiêu ngàn người đến đấy vào dịp lễ, con số vượt quá sự hiểu biết của tôi. Qua tấm màn kiệu, chỉ cần nghe những tiếng động bên ngoài: tiếng leng keng của xe ngựa, tiếng của những người phu kiệu hò hét người đi đường tránh ra nhường đường, tiếng đon đả của những người bán hàng đang mời mọc khách mua vàng hương, nến, và những vật dụng thờ cúng khác; thì tôi hiểu là chúng tôi đã đến nơi rồi.

          Chiếc kiệu ngừng hẳn lại và phu kiệu hạ xuống nhẹ nhàng. Bà Quảng đẩy cửa bước xuống, sau khi bảo chúng tôi ngồi yên đấy. Tôi nhắm mắt lại, thở phào vì không còn bị lắc lư nữa, rồi dồn hết tâm trí vào cái bao tử của tôi, may thay, đã bớt quặn thắt rồi. Một giọng nói cắt đứt giòng tư tưởng của tôi:

          - Mừng quá, đến nơi rồi. Xém chút tôi cũng muốn bịnh luôn, thì không hiểu chị sẽ nghĩ về tôi thế nào?

          Tôi mở mắt nhìn Tuyết Hoa. Nước da cô đã trắng sẵn, bây giờ trở nên nhợt nhạt, chắc da tôi lúc này cũng thế. Cô ta đang nhìn tôi dò xét, không che dấu sự tò mò. Cuối cùng, Tuyết Hoa cười nhún vai và cười khẩy. Chẳng lâu sau, tôi khám phá ra ngay là cô hay có cái lối cười khẩy như thế mỗi khi có một ý tưởng ngộ nghĩnh kỳ cục nào đó thoáng qua đầu. Cô vỗ vỗ vào cái rèm cửa và nói:

          - Hãy nhìn ra ngoài kìa.

          Chúng tôi có đủ tám đặc điểm giống nhau, nhưng chính yếu là chúng tôi cùng cầm tinh con ngựa, lúc nào cũng hướng ngoại, thích phiêu lưu. Tuyết Hoa lại dò xét tôi lần nữa, để xem tôi gan dạ đến cỡ nào, thú thật, lúc ấy tôi còn nhát gan lắm. Tôi hít một hơi dài, ngồi xích lại gần trong lúc Tuyết Hoa đưa tay kéo cánh màn cửa sang một bên. Bây giờ tôi có thể nhìn thấy khung cảnh nhộn nhịp bên ngoài, với những hình ảnh thật lạ mắt. Khắp mọi chỗ, hàng quán bày bán la liệt đủ loại hàng óng ánh. Một nhóm nhạc công trong quần áo rực rỡ đang trình diễn ngoài trời. Một người đàn ông đi ngang qua sát chỗ chúng tôi, tay dắt một con heo bị xỏ mũi. Chưa bao giờ tôi tưởng tượng người ta lại có thể bán một con vật như thế tại nơi hội hè đình đám thế này. Bao nhiêu là kiệu cứ qua mặt chúng tôi nườm nượp, chở các bà đến đền Cầu Tự cúng bái. Những người khác cùng nhau tản bộ dưới đường. Họ là những người chị em nuôi, xa cách nhau vì lấy chồng xa, nhân dịp lễ này hẹn nhau tụ tập, trong những trang phục và nữ trang lộng lẫy nhất. Từng nhóm, từng nhóm nhỏ rón rén tiến lên nhẹ nhàng và duyên dáng trên những đôi “gót sen” bé nhỏ của họ. Biết bao nhiêu thứ lạ mắt và sang trọng để ngắm nhìn.

           - Chị đã đến đây bao giờ chưa? Tuyết Hoa hỏi tôi.

          Nhìn thấy tôi lắc đầu, cô ta nói tiếp:

          - Tôi ư? Tôi đã đến đây nhiều lần với mẹ tôi. Ở đây thật vui, lát nữa, chúng ta sẽ đi thăm đền… Chị có nghĩ rằng chúng ta sẽ được thăm đền hôm nay không? Chắc là không đâu, vì sẽ phải đi bộ quá lâu. Nhưng tôi hy vọng chúng ta sẽ được ghé quán hàng bánh khoai rán. Chị có ngửi thấy mùi thơm sực nức bay đến tận đây không? Ông già họ Vũ làm bánh đó thật tuyệt, ngon nhất vùng đấy.

          Tôi thầm hỏi không biết Tuyết Hoa đã đến đây bao nhiêu lần rồi mà rành thế? Tuyết Hoa vẫn say sưa:

          - Ổng làm như vầy nè: ổng cắt khoai sọ thành những ô vuông nhỏ, cho vào chảo chiên thế nào mà bên ngoài thì ròn tan mà bên trong vẫn phải mềm mại. Sau đó, ông làm cho đường tan ra trên một cái chảo lớn. Chị đã ăn đường rồi chứ Bạch Huệ? Thật trên đời không có gì ngon hơn. Khi đường đã cháy xém vàng ươm rồi, ông đổ khoai vừa chiên vào và quậy đều cho đến khi thấm, trước khi trút ra đĩa và dọn ra cho khách bên cạnh một ly nước đá lạnh. Chị có thể tưởng tượng miếng khoai chiên tẩm ca ra men này nó nóng kinh khủng đến thế nào? Do đó, phải lấy đầu đũa gắp từng miếng, nhúng vào ly nước đá lạnh, cho nó kêu đánh “xèo” một cái và cứng lại. Khi cắn vào, ta cảm thấy được lớp đường bọc ngoài ròn tan, đến lớp khoai chiên bên trong, và trong cùng là bột khoai mềm mại, thật bùi. Thể nào cũng phải đòi dì tôi đưa đến đó, chị nghĩ sao?

          - Dì của chị?

          - Ah! Chị chịu nói rồi. Tôi đang tự hỏi chị có thích viết những câu đẹp đẽ không?

          - Có thể tôi không nói được nhiều bằng chị, - tôi trả lời, hơi bị phật ý.

          Tuyết Hoa là cháu chắt của một vị tiến sỹ làm quan lớn tại triều đình, đương nhiên phải biết nhiều hiểu rộng hơn một cô bé con nhà nông dân như tôi.

          Tuyết Hoa cầm tay tôi. Bàn tay cô ta vừa khô lại vừa nóng, đang tỏa tràn đầy thân nhiệt:

          - Đừng có thắc mắc, chị im lặng cũng không sao. Chính tôi nói nhiều mới đôi khi lại gây phiền phức cho chính tôi, vì tôi không kịp suy nghĩ chín chắn những điều tôi định nói. Nhưng chị, chị sẽ là một người vợ lý tưởng, biết cân nhắc trước khi nói điều gì.

          Bạn đã thấy chưa? Ngay từ ngày đầu, chúng tôi đã thân thiết nhau đến thế. Có ai ngờ rằng sự chia ly cũng không tránh khỏi về sau…

          Ngay lúc đó, bà Quảng trở lại, mở cửa kiệu:

          - Xuống đi các cô. Mọi việc đã sửa soạn xong xuôi rồi. Chỉ mười bước nữa thôi, là số mạng các cô sẽ gắn liền với nhau. Tôi đã hứa với mẹ của các cô là sẽ không phải để hai cô phải đi bộ lâu.

          Chỗ chúng tôi đang đứng không xa một gian hàng bán giấy hoa và thiệp chúc đủ màu, trang điểm bằng những băng giấy đỏ và những tấm giấy có in những lời chúc tụng, và chữ song hỷ, hay hình vẽ Nữ thần của đền Cầu Tự. Trên một cái bàn nhỏ trước cửa hàng, bày nhiều món hàng màu sắc tươi tắn hơn. Gian hàng chia làm hai bên, mỗi bên bày ba chiếc bàn dài. Ngay giữa tiệm, có một chiếc bàn giấy, kèm với hai chiếc ghế. Trên bàn bày nghiên mực và cọ. Bà Quảng bảo chúng tôi chọn một mẫu giấy để viết tờ văn tự kết nghĩa của chúng tôi. Tôi cũng đã từng có dịp được chọn lựa, nhưng thường là những vật vô ý nghĩa, chẳng hạn như là chọn cọng rau nào để ăn sau khi cha tôi, chú tôi và anh cả và mọi người trong nhà đã lấy phần. Nhưng bây giờ, tôi phải cầm từng món, sờ nắn, đắn đo… Tuyết Hoa thì khác, chỉ mới bảy tuổi rưỡi mà coi bộ thành thạo chín chắn lắm, chứng tỏ trình độ giáo dục của cô hơn tôi nhiều.

          - Này các cô, nhớ là hôm nay tôi đãi. Bà Quảng nói: thế nhưng, các cô còn phải đi mua sắm thứ khác nữa, cho nên đừng chậm rãi nhé.

          - Được rồi, dì Quảng. Tuyết Hoa trả lời bà, trước khi quay sang hỏi tôi: chị thích loại giấy nào?

          Tôi chỉ một tấm giấy khổ lớn, mà theo tôi, có lẽ thích hợp trong hoàn cảnh này.

          Tuyết Hoa dùng ngón tay vuốt nhẹ viền kim nhũ trên tấm giấy:

          - Loại kim nhũ này không được tốt, cô nói trước khi đưa tấm giấy lên soi dưới ánh mặt trời. Cái giấy thì mỏng như cánh chuồn. Chị coi, nắng cũng rọi xuyên qua được.

          Cô ta đặt tấm giấy trở lại trên bàn, rồi nhìn thẳng vào mắt tôi, cái nhìn thành thật là cá tính của cô:

          - Chúng ta cần một loại giấy phải bền để làm chứng mãi mãi cho sự kết nghĩa bền vững và hiếm hoi của hai chúng ta.

          Tôi hơi bị bối rối vì không hiểu hết những gì mà Tuyết Hoa nói. Cô nói với giọng khác giọng nói của dân làng tôi. Nhưng đó không phải là lý do duy nhất khiến tôi không hiểu cô, mà còn vì sự chênh lệch trình độ của chúng tôi, do dòng dõi của Tuyết Hoa. Sự hiểu biết và thông thạo của cô vượt trội cả mẹ tôi, và ngay cả thím tôi nữa; dù cô chỉ mới hơn bảy tuổi đầu.

          Cô đẩy tôi vào trong tiệm và thì thầm:

          - Họ dấu những thứ tốt nhất ở bên trong kìa.

          Rồi cô lại nói thêm:

          - Eh! Chị em kết nghĩa của tôi, chị nghĩ sao về tấm giấy này?

          Lần đầu tiên tôi được hỏi ý kiến về một việc quan trọng. Tuy không có kinh nghiệm, tôi cũng thấy ngay được sự khác biệt giữa tấm giấy mà Tuyết Hoa vừa chọn với tấm giấy hồi nãy tôi chọn bên ngoài kia. Khổ giấy hẹp hơn, và những nét trang trí cũng nhã nhặn hơn.

          - Chị sờ thử xem, Tuyết Hoa bảo tôi.

          Tôi đặt ngón tay lên tờ giấy, mịn màng và có vẻ bền bỉ. Tôi cũng bắt chước Tuyết Hoa giơ tờ giấy lên. Đúng là Tuyết Hoa có kinh nghiệm. Tờ giấy dầy đến nỗi ánh nắng chỉ xuyên qua như một cái bóng mờ mờ.

          Chúng tôi cùng đồng ý mà không cần bàn cãi thêm, cùng đem ra quầy. Bà Quảng trả tiền giấy, và tiền thuê chiếc bàn giấy ở giữa phòng. Chúng tôi ra bàn, ngồi đối diện với nhau.

          Tuyết Hoa hỏi tôi:

          - Chị nghĩ xem đã có bao nhiêu bé gái đã ngồi đây để viết khế ước trước chúng ta rồi? Chúng ta phải ráng viết những lời đẹp đẽ nhất mà chưa ai viết hay được đến thế. Tuyết Hoa hỏi thêm, đôi mày hơi nhíu lại: thế chị nghĩ chúng ta phải viết thế nào?

          Tôi nghĩ đến những lời mà mẹ và thím tôi đã gợi ý:

          - Chúng tôi là những cô bé, chúng tôi phải tuân theo những điều lệ…

          - Được rồi, được rồi, - Tuyết Hoa ngắt lời tôi một cách thiếu kiên nhẫn. Nhưng chị nghĩ những câu đó có phải chỉ dành cho hai chúng ta không? Ý tôi muốn nói là tôi và chị?

          Tôi cũng không tự tin lắm ở tôi, khi mà Tuyết Hoa biết quá nhiều. Cô ta đã đến đây nhiều lần, trong khi tôi, chưa bao giờ được bước ra khỏi nhà. Cô ta dường như đã biết sẽ phải viết gì trong tờ khế ước, trong khi tôi thì tôi chỉ biết lập lại những gì mà mẹ và thím tôi đã tưởng tượng và dạy cho tôi.

          - Chúng tôi nguyện kết nghĩa với nhau đến cuối cuộc đời, - tôi hấp tấp hỏi: Chúng tôi sẽ trung thành với nhau mãi mãi. Chúng tôi sẽ ở cạnh nhau trong Nữ phòng?

          Tuyết Hoa nhìn thẳng vào mắt tôi như cô đã nhìn tôi lúc ngồi trong kiệu. Tôi không rõ cô nghĩ gì? Tôi có nói gì sai không? Hay có vụng về gì không?

          Một lúc sau, Tuyết Hoa cầm chiếc cọ và chấm mực. Khi nhận được chiếc quạt trả lời của tôi, thì cô thừa biết là chữ viết của tôi còn kém xa chữ viết của cô. Nhưng khi Tuyết Hoa bắt đầu viết thì tôi thấy cô cũng viết lại hầu hết những gì tôi vừa nói. Những câu của tôi hòa quyện với nét chữ bay bướm, ẻo lả của Tuyết Hoa đã hài hòa, nhập với nhau thành một.

          Chúng tôi cứ nghĩ rằng những tình cảm phô bày trên tờ giấy đó sẽ trở thành vĩnh cửu, nhưng có ai ngờ được những trắc trở trên đường đời. Tôi nhớ gần hết những lời viết ra hôm đó. Làm sao mà tôi không nhớ được cơ chứ? Vì những lời ngọt lịm đó đã in trong tâm khảm của tôi rồi:

          “Hai chúng tôi, cô bé Tuyết Hoa ở làng Cự Tống, và cô bé Bạch Huệ làng Phủ Quỳ, thề sẽ trung thành với nhau mãi mãi. Chúng tôi sẽ ăn nói ôn hòa với nhau, cùng nhau thêu may trong Nữ phòng. Chúng tôi nguyện giữ Tam tòng Tứ đức. Chúng tôi tuân theo Khổng đạo và cố gắng làm một phụ nữ xứng đáng. Hôm nay, chúng tôi thành khẩn kết nối tình chị em. Từ ngàn dặm, chúng tôi như hai giòng suối chảy cùng ra biển. Và ngàn năm sau, chúng tôi cũng vẫn là hai đóa hoa cùng mọc trong một vườn hoa. Không bao giờ xa cách, không bao giờ nặng lời với nhau. Chúng tôi nguyện làm chị em kết nghĩa đến ngày cuối cuộc đời, đôi tim vẫn luôn hòa nhịp…”

         

          Bà Quảng nói bằng giọng hài lòng, khi chúng tôi cùng ký tên vào tờ hợp đồng:

- Tôi thật vui khi hai cô kết hợp với nhau. Giữa hai chị em kết nghĩa, cũng như sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà trong một cuộc hôn nhân, sự nhẹ nhàng, dịu dàng phải đi chung với nhau, nhan sắc đi chung với nhan sắc, sáng dạ đi chung với thông minh. Nhưng khác với hôn nhân, sự kết nghĩa của hai cô là duy nhất, Không có chuyện sau này có nhân tình hay phản bội nhau, - Bà nói tiếp hơi cưởi mỉm: các cô nghe tôi nói chứ? Hai cô đã gắn liền với nhau. Đôi tim hòa nhập làm một, không có gì chia rẽ được: sự cô đơn, sự xa cách, hay hôn nhân của các cô sau này; cũng không thể có một cô bé nào khác, hay một người đàn bà nào khác sau này chen vào tình cảm của hai cô.

          Chúng tôi đi trở lại chiếc kiệu cách đó mười bước chân. Đã bao nhiêu ngày tháng dài đằng đẵng trôi qua, đi bộ đã trở thành cực hình từ khi tôi bị bó chân. Nhưng hôm nay, tôi có cảm tưởng như một cô nương, một đệ nhất phu nhân có đôi chân nhỏ xíu, thân hình tôi như uốn lượn trên một đóa sen vàng, khiến tôi có cảm tưởng mình đang trôi bồng bềnh trên một áng mây. Mỗi bước chân là một niềm hạnh phúc vô biên.

          Phu khiêng kiệu đem chúng tôi đến tận giữa hội chợ. Lần này, thì chúng tôi đã vào hẳn giữa đám đông. Trên đỉnh đồi thoai thoải, tôi thấy những mái đình cong cong màu xanh của đền thờ, và những vách tường chung quanh được sơn son thếp vàng. Bà Quảng dúi vào tay chúng tôi, mỗi đứa một đồng tiền và bảo chúng tôi tự ý mua quà để kỷ niệm ngày hôm nay. Trong đời tôi, chưa bao giờ có ai cho tôi tự lựa chọn một thứ gì, nói gì đến cho tiền để tự mua sắm. Tôi kính cẩn cầm chặt đồng tiền trong tay, tay kia nắm tay Tuyết Hoa. Tôi hỏi thầm tôi có làm cô vui thích khi được nắm tay nhau đi dạo như thế này không, nhưng bao nhiêu sự việc thật tuyệt vời đang bao quanh tôi khiến đầu óc tôi bồng bềnh không biết phải nghĩ gì nữa.

          May quá! Tuyết Hoa đã đề nghị:

          - À, tôi biết phải đi đâu rồi, cô ta nói.

          Cô dợm bước đi như muốn chạy, nhưng chỉ vài bước thì phải khựng lại, mặt tái đi vì đau:

          - Tôi cứ quên cái chân phải gió này, cô nhăn nhó.

          Đôi chân tôi lẽ ra phải làm lành nhanh hơn mới phải. Một ý tưởng thất vọng chợt xâm chiếm tâm hồn tôi khi nghĩ đến chuyện chúng tôi không thể đi thăm tất cả các nơi như sự mong đợi của tôi.

          - Đi chậm thôi Tuyết Hoa, lần này, chúng ta không cần phải thăm thú hết các nơi…

          - … đúng! Vì từ giờ đến sang năm, chúng ta còn có dịp trở lại nơi này nữa, Tuyết Hoa tiếp lời và xiết chặt tay tôi.

          Thật là một hoạt cảnh khôi hài: hai cô bé kết nghĩa, một cô tiểu thư đài các tung tăng bên cạnh một cô bé quê mùa mộc mạc, vào ngày đầu gặp gỡ, trên đôi chân vừa nhảy nhót vừa đau đớn, với một bà mai mối già ăn mặc diêm dúa lẽo đẽo vừa chạy theo sau vừa la bai bải:

          - Này, này, hai cô có đi đứng đàng hoàng, chững chạc không nào, không thì chúng ta về nhà đấy!

          May là chúng tôi không phải đi xa. Tuyết Hoa đẩy tôi vào một hiệu bán kim chỉ thêu thùa.

          - Chúng ta hãy còn con nít, Tuyết Hoa nói trong khi quan sát những kệ bày chỉ thêu đủ màu: cho đến lúc lấy chồng, chúng ta sẽ phải thu mình trong căn Nữ phòng, thêu may và nói chuyện cùng nhau. Nếu chọn mua cẩn thận, chúng ta có thể dùng để thêu những kỷ vật cho nhau trong nhiều năm.

          Vào tiệm rồi, tôi mới thấy là chúng tôi có cùng sở thích như nhau, cùng ưa thích những màu sắc như nhau. Chúng tôi cũng chọn những màu sắc mà chúng tôi ít thích hơn, nhưng để bổ khuyết một vài chi tiết trong bức thêu chẳng hạn như một nét gân lá, hay bóng của một chiếc hoa. Mua xong, chúng tôi trả tiền và tiến về chiếc kiệu, hai gói hàng trong tay. Vào kiệu rồi, Tuyết Hoa năn nỉ bà Quảng một ân huệ cuối cùng:

          - Dì ơi! Cho chúng con đến hàng bánh khoai rán dì nhé! Con xin dì…

          Bà Quảng ngần ngừ trước lời van xin đó, trong lúc chúng tôi mỗi đứa kéo một bên tay áo của bà nằn nì, nhưng cũng sẵn sàng lùi bước vì biết rằng chỉ có con trai mới được quyền đòi hỏi như thế thôi.

          Cuối cùng, bà Quảng nhượng bộ, dọa rằng chỉ lần này thôi, không có lần sau.

          - Tôi là bà già nghèo khổ, phải chi bao nhiêu là tiền nong để làm một dịch vụ cho hai người chẳng ra gì cả, chỉ làm mất uy tín của tôi trong vùng thôi. Các cô muốn tôi phải nằm trên rơm mà ngủ đấy hẳn? Muốn mọi người bỏ rơi tôi đấy hẳn?

          Bà nói với giọng làm như gắt gỏng và dứt khoát, nhưng thật ra khi chúng tôi đến hàng của ông Vũ thì mọi chuyện đã được sắp xếp xong từ trước để đón chúng tôi rồi! Một chiếc bàn con có trải khăn đẹp đẽ với ba chiếc ghế đẩu xếp chung quanh.

          Ông chủ tiệm đon đả ra chào, tay giơ cao con gà còn sống nhăn:

          - Chào bà Quảng, lúc nào tôi cũng chọn con gà ngon nhất để dành cho bà đây, ông vui vẻ giơ con gà lên khoe.

          Chỉ một lúc sau ông đã đặt lên bàn một chiếc thố to nóng hôi hổi, đựng thịt con gà vừa mới cắt tiết, cắt thành từng miếng to vừa phải, nước dùng chỉ xâm xấp ngang mặt thịt gà, trộn hành tỏi và gừng thơm lừng. Bên cạnh là một chén sốt sền sệt nóng, với hành tỏi và vài nhát gừng thái nhỏ, phi thơm với dầu mè. Thêm vào đó là một đĩa đậu tươi xào tỏi. Thật là một bữa ăn thịnh soạn, chúng tôi tận tình gắp những miếng gà ngon nhất bằng đầu đũa, chậm rãi nhai để tận hưởng hương vị trước khi nhả xương gà xuống đất. Nhưng tôi cũng không quên chừa chỗ trong bao tử cho món tráng miệng mà Tuyết Hoa đã nhiệt liệt quảng cáo. Quả tình Tuyết Hoa nói không sai, kể cả cái cách miếng khoai bọc ca ra men nóng hổi kêu đánh “xèo” khi nhúng vào ly nước đá lạnh.

          Tôi cầm bình trà, rót vào ba chén trà, như tôi vẫn làm ở nhà. Nhưng khi tôi đặt bình trà xuống, Tuyết Hoa tặc lưỡi một cái. Cô ta cầm tay tôi, đặt lên chiếc bình trà và xoay cái bình trà về hướng khác để cái vòi không chĩa về phía bà Quảng.

          - Không bao giờ được để cái vòi bình trà quay về phía người khác. Tuyết Hoa nhẹ nhàng bảo tôi.

          Lẽ ra tôi đỏ mặt vì xấu hổ. Nhưng thay vào đó, tôi lại cảm thấy thật thán phục sự giáo dục của Tuyết Hoa.

          Khi chúng tôi quay về kiệu thì mấy người phu đang ngồi ngủ dưới chân kiệu. Bà Quảng lay lay gọi họ dậy và chúng tôi lên đường không chậm trễ. Trên đường về, bà Quảng để cho tôi và Tuyết Hoa ngồi cạnh nhau mặc dù như thế làm cho chiếc kiệu lệch hẳn sang một bên, khiến mấy bác phu khiêng một cách khó khăn hơn. Bây giờ nhớ lại, mới thấy lúc ấy chúng tôi bé nhỏ đến thế nào, cả hai cộng lại cũng chẳng là gì cả. Cầm chặt hai gói chỉ thêu trong tay, chúng tôi cứ chờ lúc bà Quảng ngủ gà ngủ gật là lại len lén kéo chiếc màn cửa nhìn ra cảnh vật bên ngoài đang chạy giật lùi, và quên cả mệt nhọc vì chiếc kiệu cứ dằn lên dằn xuống trên con đường gập ghềnh.

          Từ nay về sau, mỗi dịp lễ Cầu Tự, bà Quảng sẽ lại dẫn chúng tôi trở lại đền để tế lễ, cho đến khi chúng tôi trưởng thành và lập gia đình. Và nếu như sau khi lập gia đình mà hoàn cảnh cho phép thì hàng năm, vào dịp đó cũng là lúc tôi và Tuyết Hoa có thể hẹn gặp nhau, cùng tế để cầu trời và thần linh cho chúng tôi có được con trai. Và chắc chắn, chúng tôi sẽ không quên ghé mua thêm chỉ mầu để thêu thùa, cũng như không quên ghé qua quán hàng của ông Vũ để thưởng thức món bánh khoai rán bọc đường ca ra men.

          Chúng tôi về đến Phủ Quỳ vào lúc hoàng hôn. Hôm ấy, không phải tôi chỉ tìm được một tình bạn bên ngoài phạm vi gia đình, mà hơn thế, tôi còn ký hợp đồng để kết nghĩa với một cô bé khác. Tôi muốn ngày hôm ấy dài vô tận, dù biết rằng về đến nhà thì cũng phải chia tay. Tôi tưởng tượng lúc về đến nhà thì phải rời kiệu để dõi mắt nhìn theo đôi bàn tay nhỏ xíu của Tuyết Hoa thò ra ngoài cửa sổ vẫy chào tôi lần cuối, trước khi chiếc kiệu khuất sau khúc rẽ của con đường. Hạnh phúc của tôi sẽ tan nhanh như một ngày qua rất vội.

          Thế nhưng, khi chiếc kiệu ngừng trước cửa nhà, tôi bước chân xuống đất thì không ngờ bà Quảng lại bảo Tuyết Hoa xuống theo và nói:

          - Chào các cô, vài hôm nữa tôi sẽ quay lại đón Tuyết Hoa.

          Trước sự bỡ ngỡ và vui mừng khôn tả của tôi, bà mai thò cổ ra ngoài cửa kiệu, bẹo má Tuyết Hoa một cái và nói thêm:

          - Cô phải đàng hoàng đấy. Không được hư. Hãy mở mắt và lắng tai để mẹ cô hãnh diện vì cô đấy.

          Làm sao tả hết được sự sung sướng của tôi lúc ấy, khi chúng tôi sánh vai nhau trước thềm nhà. Nếu chỉ dùng chữ Hạnh Phúc để diễn tả thì cũng không thể nào đủ. Thế nhưng, vào đến nhà thì tôi không thể nào không nghĩ đến thực tế. Dĩ nhiên là tôi thương yêu mái gia đình của tôi lắm, nhưng tôi cũng biết là Tuyết Hoa đã quen sống trong khung cảnh nhung lụa rồi. Hôm ấy, cô lại không mang theo quần áo hay vật dụng cá nhân nào.

          Mẹ tôi ra ngoài thềm đón chúng tôi. Mẹ ôm tôi và quay sang Tuyết Hoa, quàng tay qua vai cô và ra dấu mời vào nhà. Trong lúc tôi vắng mặt, mẹ và thím, cùng chị hai của tôi đã dọn dẹp gian nhà chính để dễ coi hơn. Mẹ đã đem rác ra ngoài đổ, nhặt nhạnh quần áo khô và bát đĩa đem cất. Sàn nhà cũng được quét dọn và dội nước nên trông cũng mát mẻ.

          Tuyết Hoa được giới thiệu với mọi người trong nhà, kể cả anh cả của tôi. Đến giờ ăn tối, Tuyết Hoa nhúng đôi đũa vào tách trà để rửa trước khi ăn. Ngoài cử chỉ ấy thì cô cũng cố gắng hòa nhập và che dấu cảm giác của cô. Nhưng trong thâm tâm tôi biết rất rõ là Tuyết Hoa chỉ cố gượng vui. Theo tôi nghĩ thì cô không khỏi ái ngại vì hoàn cảnh sống của gia đình tôi.

          Cả một ngày dài hôm ấy khiến chúng tôi thật mệt mỏi. Khi đến giờ lên lầu, tim tôi lại thắt lại. Nhưng một lần nữa, mẹ cùng thím và chị hai cũng đã tỏ ra thật chu đáo. Giường nệm cũng được trải tươm tất, và mọi hỗn độn thường nhật đã được dọn dẹp sạch sẽ: thứ nào cũng được xếp đúng nơi đúng chỗ, chồng lên nhau gọn ghẽ. Mẹ chỉ một thau nước cho chúng tôi lau rửa, và ba bộ quần áo: hai bộ của tôi và một bộ của chị hai, tất cả đã được ủi thẳng thớm và dành cho Tuyết Hoa thay đổi trong thời gian ở lại nhà tôi. Tôi nhường cho Tuyết Hoa rửa mặt trước, nhưng cô chỉ dùng nước vỗ vỗ lên mặt cho có lệ. Tôi nghĩ có lẽ Tuyết Hoa cho rằng nước không được hoàn toàn sạch nên cô ngại. Rồi cô nhón hai ngón tay cầm lấy bộ đồ mà tôi đưa để cô thay, làm như là cô đang cầm cái lưới đánh cá rách rưới chứ không phải là đang cầm bộ đồ ngủ mới nhất của chị hai tôi. Cô nhìn chung quanh và chợt thấy mọi người đang chăm chú nhìn cô. Thấy thế, Tuyết Hoa thay vội quần áo không nói một lời. Rồi chúng tôi nằm bên nhau. Đêm hôm ấy và suốt trong thời gian Tuyết Hoa ở lại nhà tôi, chị hai tôi phải sang nằm cùng giường với Diễm Nguyệt.

          Mẹ tôi lên chúc chúng tôi ngủ ngon. Bà ghé tai tôi thì thầm:

          - Bà Quảng đã dặn dò mẹ phải làm gì rồi. Yên trí, ngủ ngon nhé, con gái.

          Tôi và Tuyết Hoa nằm bên nhau, đắp chung chiếc chăn bằng vải. Dù mệt lắm, chúng tôi cũng nằm thì thầm với nhau mãi, không dám lớn tiếng. Tuyết Hoa hỏi về gia đình tôi, và tôi cũng hỏi về gia đình cô. Tôi kể lý do khiến em út tôi đã mất như thế nào. Tuyết Hoa cũng kể là em cô cũng mất vì chứng viêm cổ họng.

          Ánh trăng xiên xiên luồn qua song cửa sổ, chiếu sáng khuôn mặt thật đẹp của Tuyết Hoa. Ở giường bên kia, chị hai và Diễm Nguyệt đã ngủ từ đời nào rồi mà chúng tôi vẫn còn rì rầm nói chuyện.

Là phụ nữ, chúng tôi được dạy rằng đừng nên có ảo tưởng về đôi chân được bó chặt. Chẳng phải để chúng tôi có đôi chân đẹp đẽ đâu. Đó chỉ là một sự bất công đối với phụ nữ mà thôi. Chỉ để phục vụ cho sự đam mê của đàn ông. Nói không phải để kể lể lại những kỷ niệm buồn đau, như tôi đang làm hôm nay, nhưng sự đau đớn mà chúng tôi đã trải qua đã khiến chúng tôi không thể nào không kể.

          Tuyết Hoa kể cho tôi nghe lúc vắng mặt mẹ, cô đã lên nài nỉ xin cha cô thương hại. Xém chút thì cha cô cũng xiêu lòng rồi, mà không nghĩ rằng điều đó có thể khiến Tuyết Hoa trở thành cô gái già trong nhà hay phải đi làm tôi tớ cho gia đình khác.

          - Nhưng khi mà ông đã đốt ống điếu của ông lên rồi, thì lời hứa cũng chỉ tan theo mây khói thôi. Lúc ông đã chìm đắm, mơ mơ mộng mộng trong khói thuốc huyền ảo rồi thì mẹ và dì tôi mắng cho tôi một trận, lôi lên lầu cột chặt tôi vào ghế. Do đó mà chân tôi cũng bị băng trễ một năm, như chị.

          Tuy số phận đã được an bài như thế rồi, nhưng Tuyết Hoa vẫn không vui. Trái lại, cô vẫn tranh đấu đến cùng trong những tháng đầu tiên, thậm chí một ngày kia, cô còn xé rách cả các vải băng chân ra.

          - Mẹ tôi lại bắt tôi băng lại và lần này cột tôi vào ghế còn chặt hơn lần trước nữa.

          - Không nên cãi lại số mệnh, tôi nói. Tất cả đã được xếp đặt từ trước rồi.

          - Thì mẹ tôi cũng không ngừng nói như thế, Tuyết Hoa nói. Khi mẹ tôi cởi trói cho tôi thì chỉ là để bắt tôi đi cho xương ngón chân phải gẫy dập ra, hay để tôi đi nhà vệ sinh. Suốt trong thời gian đó, tôi cứ nhìn qua song cửa sổ, nhìn từng cánh chim bay, nhìn mây lơ lửng trên nền trời, nhìn từng ánh trăng lên, rồi lại trăng tàn. Biết bao sự việc xảy ra trên nền trời khiến tôi quên cả những gì đang xảy ra cho tôi trong căn phòng này.

          Những tư tưởng ấy làm tôi ớn lạnh. Tuyết Hoa quả thật có tư tưởntg độc lập, dấu hiệu của tuổi Ngọ, như con ngựa có cánh đem cô thật xa trái đất này, trong khi con ngựa của tôi thì vụng về hơn. Nhưng cái ý tưởng phóng khoáng của Tuyết Hoa hay sự nhẫn nại chịu đứng nép trong song cửa khép kín đời tôi đã làm tôi rung động đến tận cùng tâm khảm.

          Tuyết Hoa quay nghiêng sang phía tôi và chúng tôi nằm đối mặt với nhau. Cô đưa tay vuốt má tôi và nói:

          - Tôi thật sung sướng vì chúng ta đã kết nghĩa với nhau.

          Rồi cô nhắm mắt và ngủ thật nhanh.

          Nằm cạnh Tuyết Hoa, tôi ngắm nhìn khuôn mặt cô dưới ánh trăng và hồi tưởng lại cảm giác êm ái của bàn tay Tuyết Hoa khi cô vuốt lên má tôi, nghe hơi thở êm đềm của cô, tôi tự hỏi sao tôi lại được cái tình thương yêu này, tình thương mà tôi hằng mơ ước.

Chương 6 – Tình yêu

Đàn bà chúng tôi được dạy là khi sanh con cái ra, chúng ta phải thương yêu chúng. Nhưng có bao nhiêu người đàn bà không cảm thấy thất vọng ê chề khi cho ra đời một cô con gái? Thậm chí còn có thể bị hoảng sợ khi bồng đứa bé trên tay trước đôi mắt không tán thành của bà mẹ chồng. Cho dù chúng ta có thương yêu con gái bằng tất cả tấm lòng, thì chúng ta cũng phải dạy chúng tập chịu đựng. Chúng tôi thương yêu con trai hơn bất kỳ thứ gì khác trên đời, nhưng chính chúng tôi lại bị loại bỏ ra khỏi thế giới của đàn ông. Chúng tôi phải yêu thương người chồng của mình ngay từ lúc hai bên đính ước, và có khi phải đợi nhiều năm sau mới biết mặt chồng mình. Chúng tôi cũng được dạy dỗ phải kính yêu cha mẹ chồng, nhưng chúng tôi lại vào nhà họ với địa vị thấp kém nhất, có lẽ chỉ “cao cấp” hơn con sen một tí. Chúng tôi cũng phải thờ phụng tổ tiên nhà chồng, và phải tuân theo mọi qui luật của gia đình chồng, cho dù là trong thâm tâm, chúng tôi cũng có tổ tiên của chúng tôi chứ. Chúng tôi yêu cha mẹ đã nuôi nấng, dạy dỗ chúng tôi, nhưng cha mẹ thì chỉ coi chúng tôi như những nhánh cây vô dụng trong gia đình, làm hao tốn cơm gạo và mong cho chúng tôi được gả sang nhà khác càng sớm càng tốt. Dù chúng tôi có hạnh phúc trong gia đình của chính mình bao nhiêu chăng nữa, thì chúng tôi đều biết rất rõ rằng sự chia ly ấy không thể nào tránh được. Chúng tôi chỉ mong muốn gia đình hiểu là tình yêu chúng tôi dành cho gia đình sẽ chấm dứt trong một chuyến ra đi buồn bã. Tất cả những thứ tình yêu ấy phát xuất từ bổn phận, từ lòng biết ơn hay từ sự tôn kính. Đáng buồn thay, trong làng tôi, những tình yêu này lại bắt nguồn cho những đau buồn, bất hòa hay bạo lực.

          Nhưng tình yêu kết nối hai chị em kết nghĩa lại có một sắc thái khác hẳn. Như bà Quảng đã nói, sự kết hợp này là kết quả của một sự lựa chọn có cân nhắc. Đúng là chúng tôi, tôi và Tuyết Hoa, chưa trao đổi hết tất cả tình cảm mà chúng tôi dành cho nhau trên những dòng chữ đầu tiên trao đổi trên tấm quạt lụa, nhưng ngay lần đầu nhìn nhau bên trong chiếc kiệu, tôi đã cảm thấy có một luồng điện thật lạ lùng đã lan truyền giữa chúng tôi, như một tia lửa lóe lên. Tuy nhiên, một tia lửa không đủ soi sáng cả một căn phòng, cũng như một hạt gạo đơn chiếc không làm được một vụ mùa. Tình yêu chân thật, sâu đậm cần phải có thời gian phát triển. Dạo ấy, tôi chỉ biết so sánh tình yêu của hai đứa tôi như những hạt gạo non mà tôi gặp trên đường khi cùng anh cả dạo chơi dọc bên bờ sông, lúc tôi chưa bị bó chân. Tôi có thể nào nuôi dưỡng tình yêu đó như nhà nông chăm bón vụ mùa? nghĩa là phải làm việc đầu tắt mặt tối, không chán nản, với sự giúp sức của thiên nhiên? Thật là khôi hài khi ngày hôm nay, ngồi viết lại, tôi còn nhớ rõ mồn một sự so sánh ấy. Dạo ấy, tôi chẳng biết gì cả, nhưng lại biết lý luận như một nhà nông! Thế là, cô bé tôi ấy, xin cha một mảnh giấy, xin chị hai mảnh vải lấy từ trong rương của chị ra, tôi bắt đầu sửa soạn mảnh đất của chính tôi để vun xới những hạt mầm tình yêu, bằng Nữ tự. Mỗi lần bà Quảng ghé qua nhà tôi để xem xét tình trạng diễn tiến của đôi bàn chân của tôi, thì tôi lại nhờ bà làm cánh nhạn đưa tin. Khi thì một lá thư, khi thì một chiếc khăn thêu, để nhờ bà trao cho Tuyết Hoa.

          Không có hạt nào nẩy mầm được nếu thiếu tia nắng mặt trời, đó là yếu tố tối cần cho người nông dân. Với tôi, tia nắng mặt trời đến mỗi khi có thư trả lời của Tuyết Hoa. Mỗi lần như thế, tất cả chúng tôi tụ tập lại với nhau để cố đọc và giải nghĩa những chữ trong đó, vì Tuyết Hoa lúc ấy đã biết dùng một số Nữ tự và hình ảnh vượt quá sự hiểu biết của thím tôi.

          Khi tôi viết cho Tuyết Hoa những câu tầm thường mà một đứa bé ở tuổi tôi có thể viết, như: “tôi khoẻ lắm, còn chị thế nào?”, thì Tuyết Hoa trả lời bằng những lời hoa mỹ: “chúng ta là đôi chim cùng nhau làm tổ trên cành cây cao, cùng nhau bay lượn trên nền trời cao”. Hay nếu tôi viết: “Hôm nay, mẹ dạy tôi làm bánh chưng, gói bằng lá khoai”, thì rất có thể là Tuyết Hoa sẽ trả lời: “Hôm nay, tôi nhìn ra ngoài song cửa sổ, nghĩ đến con chim phượng hoàng đang cất cánh tìm bạn, chị biết gì không? Tôi nghĩ đến chị đấy”. Hoặc giả nếu tôi viết: “ngày đám cưới của chị hai của tôi đã được định rồi”, thì Tuyết Hoa trả lời: “Chị hai của chị vừa bước vào bước thứ hai của chiếc thang cao dẫn đến hôn nhân. Chắc chắn chị ấy còn sống sung sướng bên cạnh chị thêm vài năm nữa”. Khi tôi hỏi: “Tôi muốn học hỏi mọi thứ nơi chị, chị hiểu biết thật nhiều. Tôi có thể trở thành học trò của chị không?”, Tuyết Hoa đã viết lại: “Tôi cũng học hỏi được nhiều nơi chị, chính vì thế mà chúng ta trở thành đôi thiên nga, cùng nhau xây tổ” và nếu tôi đã trả lời Tuyết Hoa như sau: “Kiến thức của tôi còn thô thiển và nông cạn lắm, chữ viết của tôi cũng thật là thô, nhưng tôi thật mong có chị ở gần để có thể trò chuyện hàng đêm”, Tuyết Hoa lại trả lời: “như hai con chim sơn ca hót trong đêm tối”.

          Những lời lẽ ấy làm tôi vui thú nhưng cũng không kém phần thắc mắc. Tuyết Hoa rất thông minh và học thức hơn tôi nhiều quá. Nhưng đó không phải là điều mà tôi bận tâm, mà chính vì trong mỗi câu trả lời, Tuyết Hoa luôn ám chỉ bóng gió đến những cánh chim, đến sự bay lượn, trốn lánh ra khỏi cuộc đời tầm thường. Ngay từ dạo ấy mà Tuyết Hoa đã muốn thoát khỏi ràng buộc và bay vào vũ trụ dành cho cô. Còn tôi, tuy rằng e sợ, nhưng tôi vẫn ao ước được chắp cánh với Tuyết Hoa cùng bay bổng lên nền trời.

          Ngoại trừ chiếc quạt mà Tuyết Hoa gửi tặng tôi ngày đầu tiên, Tuyết Hoa không gửi thêm gì cho tôi nữa và chỉ trả lời những mẩu thư ngắn của tôi. Chuyện đó không làm tôi buồn gì hết. Tôi vun tưới, săn sóc, và nuôi dưỡng tình yêu với những lá thư gửi đi, và Tuyết Hoa luôn luôn gửi lại tôi mỗi lần một nụ tươi mới. Chỉ có mỗi chuyện làm tôi băn khoăn. Tôi muốn gặp lại Tuyết Hoa. Lẽ ra, đến phiên Tuyết Hoa phải mời lại tôi đến nhà mới phải, nhưng không thấy cô nói gì cả.

          Một hôm, bà Quảng lại đến thăm, lần này với chiếc quạt của Tuyết Hoa. Tôi không mở hết quạt ra, mà chỉ mở ba nếp quạt đầu tiên, để đọc những câu tôi viết cho Tuyết Hoa, và câu trả lời của cô:

          “Nếu gia đình chị đồng ý, tôi có thể trở lại vào tháng mười một. Chúng ta lại có thể ngồi bên nhau để thêu thùa, cùng nhau chọn màu chỉ thêu, và trò chuyện”.

          Ở phía trên của nếp quạt, chỗ có hình khóm lá, Tuyết Hoa đã vẽ thêm vào một cánh hoa nhỏ xíu, mong manh.

           Đến ngày hẹn, tôi hồi hộp ngồi sau song cửa sổ chờ chiếc kiệu xuất hiện ở góc đường. Lúc chiếc kiệu ngừng lại trước cửa nhà, tôi chỉ chực nhảy xổ xuống nhà chạy ra đón Tuyết Hoa. Nhưng đôi chân tôi không cho phép. Mẹ tôi bước xuống thềm, và chiếc cửa kiệu mở ra cho Tuyết Hoa bước xuống. Cô mặc chiếc áo lụa màu thiên thanh lần trước, có thêu những áng mây. Tôi đoán rằng đó là bộ đồ của Tuyết Hoa mặc khi đi ra ngoài, mà cô sẽ mặc mỗi lần đến nhà tôi để gia đình tôi không ngượng ngùng vì sự chênh lệch với gia đình cô.

          Theo truyền thống, Tuyết Hoa không mang theo lương thực hay quần áo để thay đổi. Cũng như lần trước, bà Quảng lại dặn dò Tuyết Hoa phải ngoan ngoãn và không được cằn nhằn đòi hỏi gì cả, để mẹ cô được hài lòng. Đứng trên lề đường, Tuyết Hoa trả lời bà Quảng: “được rồi, dì…”, nhưng tôi biết là cô đâu có nghe bà Quảng nói gì đâu, vì mắt cô còn mải nhìn lên phía cửa sổ tìm kiếm khuôn mặt của tôi đàng sau chấn song.

          Mẹ tôi cõng Tuyết Hoa lên lầu. Vừa đặt chân xuống sàn, Tuyết Hoa đã nói một thôi một hồi, không ai ngăn được. Cô lên giọng, rồi lại thì thầm, bằng giọng nói lúc thì tự tin, lúc thì mai mỉa, lúc thì ngưỡng mộ. Thật không giống cô bé phóng khoáng thích trốn chạy như tôi thường tưởng tượng mỗi lúc nghĩ đến cô. Tuyết Hoa lúc này chỉ là cô bé ham chơi, mải vui, đãng trí, và nhất là thích nói, nói không nghỉ, như mọi cô bé ở tuổi cô.

          Tôi nói rằng tôi muốn trở thành học trò của Tuyết Hoa, và tôi muốn bắt đầu ngay hôm nay, xin Tuyết Hoa dạy tôi những qui luật trong Nữ Thư: khi cười không hở răng, khi nói chuyện với đàn ông phải nhỏ nhẹ, không bao giờ được lên giọng… Nhưng Tuyết Hoa cũng muốn tôi phải dạy cô làm bánh chưng gói bằng lá khoai môn. Tuyết Hoa hỏi tôi những câu ngớ ngẩn như làm sao múc nước dưới giếng lên, làm sao nuôi heo, làm tôi phì cười, vì có đứa bé nào mà không biết các chuyện ấy chứ! Nhưng Tuyết Hoa thề rằng cô không hề biết các việc ấy. Tôi nghĩ, cô đang tìm cách chế nhạo tôi thì có! Tuyết Hoa ngập ngừng, nói rằng cô không biết thật. Đến phiên những người khác chế nhạo tôi.

          - Chắc là em cũng quên làm sao múc nước giếng chứ gì? Chị hai của tôi trêu.

          - Hay làm sao cho heo ăn. Thím tôi thêm vào.

          Quá lắm rồi! Tôi đứng thẳng người lên, khuỳnh tay chống nạnh hai bên hông, mặt đỏ bừng bừng, thế nhưng khi thấy mọi người nhìn tôi một cách thích thú, cơn giận của tôi lại tan biến đi mất và tôi chỉ muốn làm mọi người cười cho đã thôi.

          Thật là một cảnh tượng buồn cười trong căn Nữ phòng của chúng tôi, khi tôi loạng choạng đi trong phòng trên đôi chân hãy còn đau của tôi, làm điệu bộ như đang kéo nước từ giếng lên, hay giả vờ cúi xuống nhặt cỏ, rồi trộn với vỏ khoai, vỏ sắn cho heo ăn. Em họ Diễm Nguyệt của tôi cười như nắc nẻ đến nỗi xém đi tiểu ra quần. Chị hai của tôi, ngày thường nghiêm nghị và chăm chú thêu thùa, hôm nay cũng đưa tay áo lên che miệng cười. Khi tôi quay lại nhìn Tuyết Hoa, tôi thấy mắt cô sáng long lanh, đang vỗ tay thích thú. Chỉ mỗi sự hiện diện của Tuyết Hoa mà làm cho căn phòng, thường ngày kín mít đầy bí mật, đau đớn, và khổ sở, đã trở thành vui nhộn, dễ chịu thoải mái hẳn lên.

          Mặc dù Tuyết Hoa vừa dạy tôi bài học phải nói chuyện với đàn ông bằng giọng nói nhún nhường, thế mà Tuyết Hoa không ngừng nói huyên thuyên với cha và chú tôi, đem lại những trận cười suốt bữa cơm. Em trai út của tôi thì không ngừng níu áo Tuyết Hoa, hoặc trèo lên ngồi trên lòng cô, như con khỉ con. Nó cứ bám chặt lấy Tuyết Hoa. Đi đến đâu, Tuyết Hoa cũng mang lại sự vui vẻ cho mọi người chung quanh. Cô hơn hẳn chúng tôi, điều đó ai cũng biết, nhưng ai cũng cố gắng giúp cô hòa hợp với chúng tôi. Dưới mắt chúng tôi, Tuyết Hoa như con chim quý, lìa chuồng và đậu vào sân nhà tôi. Chúng tôi vui sướng không kém gì cô.

          Chưa gì đã đến giờ thay rửa để đi ngủ. Tôi nhớ cái lần đầu tiên Tuyết Hoa ở lại nhà tôi, nên nhường cho Tuyết Hoa lau rửa trước, nhưng cô từ chối. Nếu tôi rửa mặt trước, sẽ làm dơ nước. Nhưng khi Tuyết Hoa nói: “thế thì chúng ta rửa chung”, thì tôi biết là cái việc tôi đóng tuồng cô bé nhà nông ban nãy đã có kết quả. Chúng tôi cùng cúi mặt xuống chậu nước, cùng nhau vẩy nước trong mát lên rửa mặt. Tuyết Hoa lấy cùi chỏ thúc tôi một cái. Tôi nhìn trong thau nước, hai khuôn mặt của chúng tôi hiện ra trên mặt nước sóng sánh làm thành những vết nhăn. Tuyết Hoa mỉm cười, lấy ngón tay búng nước lên má tôi. Trong giây phút mặt đối mặt, cùng nhau chia xẻ chậu nước mát, tôi biết Tuyết Hoa cũng đã thương yêu tôi rồi.

Chương 7 – Hc hành

          Suốt ba năm trời sau đó, Tuyết Hoa đến nhà chúng tôi thường xuyên hơn, gần như cứ hai tháng một lần. Chiếc áo dài màu thiên thanh đã được thay bằng một chiếc áo lụa màu tím nhạt, viền trắng, một sự pha trộn mầu sắc khá lạ lùng ở tuổi một bé gái như cô. Nhưng khi lên đến Nữ phòng thì Tuyết Hoa thay áo ra ngay, mặc những quần áo mà mẹ tôi đã may riêng cho cô. Như thế, tức là dưới mắt mọi người, hai chị em kết nghĩa không còn là riêng trong lòng chúng tôi nữa.

          Tôi vẫn chưa được đến Cự Tống, nơi chôn rau cắt rốn của Tuyết Hoa. Tôi cũng không thắc mắc về chuyện ấy, và cũng không thấy người trong nhà nói gì về tình trạng bất thường ấy. Tuy nhiên một hôm, năm ấy tôi chín tuổi, tôi ngạc nhiên về một mẩu đối thoại giữa mẹ tôi và bà Quảng. Lúc ấy, hai người đứng ngoài sân, trên thềm nhà, và tôi nghe mẹ nói:

          - Chồng tôi nói rằng lúc nào cũng là gia đình chúng tôi phải tiếp đón Tuyết Hoa, mẹ thì thầm như không muốn ai nghe. Mỗi lần cô ấy đến ở, ngoài chi phí ăn uống, chúng tôi phải gánh thêm nước để nấu nướng và cho cô ấy tắm rửa. Chồng tôi muốn biết khi nào thì đến phiên Bạch Huệ được sang Cự Tống, tại vì lẽ ra là phải như thế mà, phải không?

          - Đúng thế, nếu như tám đặc điểm của hai cô gái trùng hợp với nhau hoàn toàn. Nhưng trường hợp này thì không phải như thế. Tuyết Hoa đã kết nghĩa với một cô bé ở giai cấp thấp hơn.

          Bà Quảng ngừng lại một lúc, rồi nói tiếp:

          - Tôi không muốn ông bà nói thêm về chuyện này, trong khi mà tôi đang tìm cách tiến hành mọi việc cho xuông xẻ.

          - Không, nhưng…

          - Rõ ràng là bà không hiểu tình trạng hiện nay. Bà Quảng nói với giọng khinh khỉnh. Tôi đã nói từ đầu rằng sẽ mai mối Bạch Huệ cho một gia đình ở Cự Tống. Sự kết hợp đó sẽ không thể nào thành tựu nếu như nhà trai đoán thấy tình cảnh gia đình của con gái bà trước ngày cưới. Cũng vậy, gia đình Tuyết Hoa không được hoàn toàn đồng ý cho lắm về sự chênh lệch giai cấp của hai đứa trẻ. Bà cần phải cho ông nhà biết không nên đòi hỏi gì để phải đưa đến việc chấm dứt tình kết nghĩa của con bà và Tuyết Hoa. Dĩ nhiên, bây giờ vẫn chưa muộn nếu chồng bà thật sự muốn thay đổi, nhưng hậu quả sau đó thì chỉ có tôi là lãnh đủ thôi.

          Mẹ tôi còn cãi gì được nữa?

          - Tôi ăn nói vụng về, - mẹ tôi nói: xin lỗi bà. Xin bà vui lòng vào nhà. Bà uống chút trà nhé?

          Tôi thấy rõ hôm ấy mẹ tôi xấu hổ và băn khoăn đến thế nào. Trong bất cứ trường hợp nào, mẹ cũng không nên mạo hiểm đề nghị với bà Quảng như thế, cho dù là gia đình chúng tôi có phải gánh thêm chút gánh nặng trên vai.

          Chắc các bạn tự hỏi rằng tôi phản ứng ra sao khi biết rằng gia đình Tuyết Hoa coi thường tôi? Điều đó, không làm tôi nổi nóng cũng không làm tôi lạnh hơn, tại vì tôi biết rằng người chị em kết nghĩa của tôi không coi thường tôi, thế là đủ rồi. Tôi đã làm tất cả những cố gắng để Tuyết Hoa thương yêu tôi như tình yêu tôi dành cho cô. Tôi cảm thấy thẹn dùm cho mẹ. Mẹ đã bị mất mặt với bà Quảng. Thật ra mà nói, sự băn khoăn của cha tôi, sự bối rối của mẹ, và thái độ thiếu mềm dẻo của bà Quảng, chẳng ảnh hưởng gì đến tôi. Tôi có thể đến Cự Tống, nhưng ai biết được rủi mà gia đình nhà chồng tương lai của tôi lại chẳng bắt gặp tôi và khám phá ra sự nghèo khổ của gia đình tôi. Lại nữa, phong tục trong vùng của chúng tôi không cho phép chồng tương lai của tôi được nhìn mặt cô dâu trước ngày cưới. Tôi sang Cự Tống, há chẳng phải là mạo hiểm lắm sao? Tôi cũng chẳng cần phải xuất hiện bằng xương, bằng thịt để tìm hiểu gia đình của Tuyết Hoa. Cô đã kể cho tôi nghe biết bao nhiêu lần về làng của cô, gia đình và nhà cửa của cô dù tôi chưa được nhìn tận mắt.

Câu chuyện không ngừng ở đó. Hai bà mai mối, bà Cựu và bà Quảng từ dạo ấy vẫn không ngừng gấu ó nhau về việc tranh giành địa phận. Bà Cựu là bà mai chính thức của làng tôi, hiện giờ bà đã kết hợp được một cuộc hôn nhân tốt đẹp cho chị hai của tôi, cũng như đã làm mai được một đám ở làng kế cận cho anh cả. Dĩ nhiên là bà cũng mong muốn làm việc đó cho tôi và em họ Diễm Nguyệt. Nhưng trớ trêu thay, bà Quảng đã xen vào việc định liệu tương lai cho tôi, bà không những đã thay đổi định mệnh của tôi và Diễm Nguyệt, mà còn thay đổi luôn số mạng của bà Cựu nữa. Nghĩa là tiền thù lao sẽ không rơi vào túi bà Cựu. Và ai cũng biết rồi đấy, người đàn bà nhỏ mọn thì luôn tìm cách trả thù.

          Thế là bà Cựu sang tận làng Cự Tống để xin làm mai mối cho Tuyết Hoa. Chẳng bao lâu, tin này đã đến tai bà Quảng. Dù sự tranh cãi này chẳng ăn nhậu trực tiếp gì đến gia đình tôi, nhưng hai bên đã chạm trán ngay trong nhà tôi, vào hôm mà bà Quảng đến để đón Tuyết Hoa về. Bà Quảng thấy “đối thủ” đang ngồi trong gian phòng chính, đang cắn hạt bí và bàn thảo với cha tôi về việc tổ chức lễ cưới cho chị hai. Hai bà không nói gì trước mặt cha tôi, ít ra về điểm này, họ cũng cố giữ lễ độ. Nếu như muốn tránh đương đầu, bà Cựu có thể khéo léo cáo từ với lý do bàn xong việc rồi. Nhưng thay vì làm thế, bà lại lên thẳng trên lầu, ngồi xuống ghế và ba hoa về tài mai mối của mình. Dĩ nhiên, bà Quảng đời nào chịu nhường!

          - Chỉ có con chó điên mới dám lần mò sang làng của tôi để hy vọng lấy đi đứa cháu của tôi. Bà Quảng tấn công.

          - Thưa bà chị, Cự Tống chẳng phải là làng của riêng chị, bà Cựu trả đũa với giọng nhẹ nhàng. Nếu bà chị nói thế, thì tại sao lại bén mảng sang Phủ Quỳ của chúng tôi? Theo đúng nguyên tắc của bà chị, thì lẽ ra Bạch Huệ và Diễm Nguyệt phải thuộc địa phận của tôi chớ. Theo bà chị thì tôi có nên khóc nhè như đứa bé lên ba vì mất cái mối nho nhỏ ấy không?

          - Tôi có ý định tìm hai nơi thật tốt cho Bạch Huệ và Diễm Nguyệt, cũng như cho Tuyết Hoa. Tôi không nghĩ là bà làm được như thế.

          - Đừng có chắc ăn quá. Nếu bà giỏi thế thì sao đã không tìm được đám khá cho chị của cả của Tuyết Hoa? Trong tình trạng như thế, tôi thấy để tôi lo liệu cho Tuyết Hoa thì khá hơn.

          Tôi quên nói là lúc ấy Tuyết Hoa cũng đang có mặt trong phòng và đã nghe hết các lời đối thoại lịch sự ấy, mà cô và chị của cô đang bị coi như hai bịch gạo do hai người lái buôn tranh giành. Tuyết Hoa ra đứng cạnh bà Quảng, chờ bà mang cô về. Trong tay cô, là mảnh vải vừa thêu ban nãy, mân mê giữa những ngón tay. Cô không ngẩng mặt lên, nhưng tôi thấy cô đang đỏ mặt tía tai. Lúc ấy, tôi tưởng là trận chiến sắp bùng nổ rồi, nhưng bà Quảng đặt bàn tay nhăn nhúm lên vai của Tuyết Hoa. Tôi không nhận ra cái cử chỉ đó của bà như là đang tội nghiệp ai hay đang muốn an ủi ai.

          - Tôi không muốn nói chuyện với những người đàn bà chỉ đáng đầm mình trong bùn, bà Quảng nói một cách lạnh lùng. Đi, Tuyết Hoa. Đường còn dài, chúng ta về.

          Cái tai nạn hôm ấy vẫn chưa chấm dứt. Cứ mỗi lần bà Cựu nhìn thấy chiếc kiệu của “kẻ địch” rẽ vào Phủ Quỳ, thì bà ta diện những bộ quần áo chói chang nhất, thoa phấn hồng đỏ chót, và cứ lượn đi lượn lại trong nhà tôi như… nói thật nghe, tôi thấy như một… con chó điên.

          Lúc chúng tôi được mười một tuổi thì chân chúng tôi gần như đã hoàn toàn lành lặn. Chân tôi thật săn chắc và kích thước gần như toàn hảo, chỉ dài đúng bảy phân. Chân Tuyết Hoa thì dài hơn một tí, và Diễm Nguyệt thì dài hơn một tí nữa, tất cả đều thon đẹp, thanh nhã, cộng thêm sự tài giỏi về nữ công gia chánh của Diễm Nguyệt, khiến em càng được yêu chuộng.

          Bây giờ thì cái giai đoạn bó chân đã xong, bà Quảng ráo riết lo việc tìm nơi nương tựa cho chúng tôi, cũng như định ngày đám cưới. Ngày sanh tháng đẻ và tám đặc điểm của chúng tôi được bà đem so với người chồng tương lai để định ngày.

          Như bà Quảng đã tiên đoán từ cách đây đã lâu, đôi chân đẹp như đóa sen của tôi đã giúp tôi được chấp thuận trong một gia đình danh giá không khó khăn gì. Bà đã kết hợp được tôi với gia đình họ Lữ, một gia đình đáng kính nhất tại Cự Tống. Chồng tương lai của tôi có người bác ruột đã đỗ tiến sỹ và làm quan trong triều, đã được vua cấp thưởng nhiều đất đai, điền thổ. Ông sống ở kinh thành, và giao hết cho người em trai, là cha chồng tương lai của tôi, cai quản đất đai rộng lớn của ông. Cha chồng tôi là trưởng làng, chính ông là người cho tá điền thuê điền thổ, và thu thuế. Chồng tôi là con trưởng, đương nhiên là sẽ thừa kế sự nghiệp của cha.

          Diễm Nguyệt thì được kết hợp với một gia đình cùng làng Cự Tống, nhưng địa vị thấp hơn. Chồng tương lai của Diễm Nguyệt là con trai của một nông dân, canh tác trên một miếng đất rộng gấp bốn lần miếng đất nuôi sống gia đình tôi. Đối với chúng tôi, thì như thế là to lớn lắm rồi, mặc dù là so với địa sản của gia đình chồng tương lai của tôi thì không thấm thía vào đâu.

          - Bạch Huệ, Diễm Nguyệt! Bà Quảng nói: hai cô thân nhau như hai chị em ruột, gần giống như tôi và chị tôi, đều được gả chung vào làng Cự Tống. Chúng tôi đã trải qua biết bao gian khổ, nhưng rất may mắn là chúng tôi được sống gần nhau.

          Thật là một hạnh phúc cho tôi và em họ Diễm Nguyệt, có thể chia xẻ những tháng năm gạo muối một mai khi sẽ làm vợ, làm mẹ, cho đến khi trở thành góa bụa, sống những ngày trầm mặc.

          Tuyết Hoa thì sẽ lấy chồng ở một làng kế cận, thuộc Quảng Tây, miền đồng bằng. Bà Quảng trấn an chúng tôi rằng, từ khung cửa sổ nhà chồng, tôi và Diễm Nguyệt có thể nhìn thấy làng mạc, thậm chí nhìn thấy nhà chồng của Tuyết Hoa. Nhưng bà không nói gì thêm về gia đình chồng tương lai của Tuyết Hoa, ngoài chi tiết là chồng cô tuổi con Gà, khiến chúng tôi băn khoăn: người ta nói rằng hai tuổi này không lý tưởng để kết duyên, con Gà có khuynh hướng nhảy lên lưng con Ngựa.

          - Các cô đừng thắc mắc nhiều quá, bà Quảng trấn an chúng tôi. Ông thầy tướng đã coi kỹ kim, mộc, thủy, hỏa, thổ rồi. Tôi cam đoan không phải trường hợp lửa với nước phải sống chung nhau. Tất cả sẽ tốt đẹp.

          Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng nơi bà Quảng.

          Gia đình vị hôn phu của tôi gửi lễ vật đầu tiên sang cho cha mẹ tôi, gồm tiền mặt, bánh, và một con heo quay. Cha mẹ tôi xẻ ra để đem biếu họ hàng gần xa trong làng. Cha mẹ tôi gửi biếu lại gạo và trứng, tượng trưng cho sự mầu mỡ.

          Bên gia đình vị hôn phu của Diễm Nguyệt thì gửi sang một cái đùi heo quay.

          Sau đó, thì chỉ còn chờ để định ngày đám cưới. Hãy tưởng tượng chúng tôi hạnh phúc dường nào. Tương lai của chúng tôi được bảo đảm. Gia đình nhà chồng của chúng tôi có địa vị khá giả hơn gia đình tôi nhiều. Chúng tôi còn quá trẻ nên tin rằng lòng tốt của chúng tôi sẽ thu phục được cảm tình của mẹ chồng tương lai. Chúng tôi chắc chắn sẽ no ấm. Nhưng trên hết, chúng tôi sung sướng vì được ở gần nhau.

          Thím tôi tiếp tục dạy chúng tôi Nữ tự, và chúng tôi tiếp tục học hỏi thêm bằng những trao đổi với Tuyết Hoa. Mỗi lần đến thăm tôi, Tuyết Hoa không quên dạy chúng tôi những từ ngữ mới, một số được lục lọi ra từ những sách vở của anh trai cô, vì một số từ ngữ trong Nữ tự được lấy ra từ Hoa ngữ rồi được đơn giản hóa. Một số chữ khác được mẹ cô dạy, là những bí quyết của Nữ tự, một tuồng chữ bí mật của đàn bà. Chúng tôi ngồi hàng giờ bên nhau để viết lại, dùng đầu ngón tay cầm cọ thảo từng nét một. Thím tôi dặn kỹ là phải hết sức chú trọng đến cách dùng chữ, vì đặc tính “đồng âm dị nghĩa” của những từ ngữ dùng trong Nữ tự, khiến đôi khi chúng tôi bị lẫn lộn.

          - Mỗi chữ phải được đặt trong bối cảnh của câu văn, thím thường nhắc sau mỗi buổi học. Biết bao thảm kịch có thể xảy ra chỉ vì một sai lầm nhỏ trong việc giải thích câu văn.

          Để khích lệ chúng tôi, sau mỗi học, thím kể một câu truyện mới, thật trữ tình. Câu truyện của người đàn bà trong vùng chúng tôi, người đã khai sanh ra tuồng chữ bí mật này:

          - Ngày xưa, vào đời Tống, chắc chắn là hơn một nghìn năm rồi, vua Chân Tông muốn tìm một phi tần. Nhà vua đi mãi đi mãi cho đến khi đến vùng của chúng ta, vì ngài nghe đồn về gia đình một người nông dân họ Hứa, sống trong làng mà hiện nay là nơi gia đình nhà chồng tương lai của Tuyết Hoa cư ngụ. Ông Hứa tuy là nông dân, nhưng lại học thức, ông có người con trai thi đỗ trạng nguyên. Nhưng người mà hoàng đế tò mò muốn gặp là con gái của ông Hứa, cô tên là Tiểu Vũ. Không thể nói rằng cô là một nhánh cây thừa thãi, vì cha cô đã chăm chú dạy dỗ cô từ bé. Cô học Hoa ngữ và có thể đọc cổ thi vanh vách. Thêu thùa, cầm kỳ thi họa cô đều giỏi giang, khiến nhà vua say đắm, nghĩ rằng cô là một người lý tưởng có thể chọn làm phi tần. Chẳng bao lâu sau, nhà vua quay trở lại, xin đón Tiểu Vũ về triều. Một câu truyện có hậu, các cháu nghĩ thế chứ? Dưới một khía cạnh nào đó, thì đúng thế. Ông Hứa được bao nhiêu là quà các trọng hậu, và Tiểu Vũ cũng được làm quen với cuộc sống trong cung, thế giới nhung lụa. Nhưng các cháu ơi, dù người con gái ấy có hiền ngoan, cao quý đến thế nào thì cũng không tránh khỏi đau lòng khi phải lìa xa gia đình. Dù nước mắt có tuôn trên đôi má của người mẹ, dù chị em cô có khóc lóc, tràn ngập thương cảm, thì cũng không sao bằng sự đau khổ của chính Tiểu Vũ.

          Đó chỉ là khởi đầu của câu chuyện. Sự chia ly của Tiểu Vũ với gia đình cô chỉ là bắt đầu của chuỗi ngày bất hạnh và sầu não triền miên. Trên thực tế, Tiểu Vũ không quyến rũ nhà vua được lâu. Chỉ một thời gian ngắn thôi, khuôn mặt xinh đẹp tròn như trăng rằm, đôi mắt màu hạt dẻ, đôi môi đỏ như quả anh đào của cô đã không còn thu hút hoàng đế được nữa. Tài nghệ tuyệt vời xuất chúng của cô khi còn ở quê nhà, bây giờ không còn nghĩa lý gì cả so với hàng trăm hàng ngàn phi tần mỹ nữ trong cung. Tội nghiệp Tiểu Vũ! Dưới mắt những phi tần khác, nàng chỉ là một cô gái nhà quê! Bị giày vò bởi cô đơn và buồn bã, nàng không có cách gì liên lạc với mẹ và chị em mà không bị người khác nhìn vào và đọc được tâm sự của nàng. Một lời nói hớ hênh, cũng có thể bị xử trảm như chơi, hay bị ném xuống giếng sâu, vĩnh viễn trong lòng đất lạnh hoàng cung.

          - Ngày cũng như đêm, - Thím tôi kể tiếp, Tiểu Vũ giữ kín những tâm sự của nàng. Những người đàn bà ác độc trong hoàng cung, kể cả thái giám,  khinh khỉnh nhìn nàng thêu thùa, đan áo, hay viết chữ và không ngớt chế giễu nàng: “xem kìa, làm việc cẩu thả chưa”, hay “Nhìn cái con khỉ nhà quê kia, đang bắt chước tập viết Hoa ngữ kìa”. Những lời độc địa đó càng chứng tỏ sự dữ tợn của họ. Nhưng họ đâu có biết rằng nàng không hề bắt chước Hoa ngữ, chữ viết của đàn ông. Trái lại, nàng đang biến đổi nó, gạn lọc nó, và nữ hóa chữ viết của nam giới, thậm chí nàng còn sáng chế ra những chữ mới, không liên hệ gì đến Hoa ngữ cả. Trông thì như không có gì, nhưng nàng đang phát minh ra một mật mã để viết cho mẹ và chị em nàng.

          Tôi và Tuyết Hoa luôn luôn tự hỏi làm sao thư từ của Tiểu Vũ đến tay gia đình nàng, và làm sao mà mẹ và chị em của nàng hiểu được những chữ, những hình ảnh mà nàng sáng tạo ra? Hôm ấy, thím tôi đã giải thích như sau:

          - Rất có thể là một vị thái giám đã cố tình giúp nàng trao lá thư cho gia đình nàng, trong đó nàng có chỉ cách cho họ khám phá ra cách đọc những mật mã đó. Hoặc là các chị em của Tiểu Vũ, có thể lúc đầu chẳng hiểu gì cả, nhưng dần dần hiểu được những chữ đã được Tiểu Vũ đơn giản hóa. Tóm lại, sau một thời gian, thì phụ nữ trong gia đình cô lại sáng chế ra những âm ngữ khác, mà họ phải giải thích theo bối cảnh của câu văn, y như các cháu đang phải học bây giờ. Câu chuyện của Tiểu Vũ là chính nàng đã tìm ra cách để trao đổi, chuyển đạt tình cảm của nàng, và phương pháp bí mật ấy đã lan truyền đến chúng ta hôm nay, qua biết bao nhiêu thế hệ.

          Chúng tôi yên lặng giây lâu, mơ màng nghĩ đến thân phận của nàng phi tần cô quạnh ấy. Rồi thím tôi cất tiếng hát cho cả ba đứa chúng tôi nhái theo, trong lúc mẹ yên lặng nghe chúng tôi hát. Đó là một bản nhạc thật buồn, được truyền tụng rằng bài hát đó đã được viết lên bằng chính nước mắt của nàng Tiểu Vũ. Tiếng hát của chúng tôi hòa nhập và vang vọng nỗi buồn xa xưa của người con gái:

          Những lời từ đáy lòng tôi thấm đầy nước mắt,

          Một sự nổi dậy vô hình, không có người đàn ông nào nhìn thấy được.

          Nhưng đời ta phải mang một cái mặt nạ bi thảm,

          Hỡi mẹ, hỡi chị, hỡi em, hãy lắng nghe tôi…

 Những nốt nhạc cuối cùng bay bổng một lúc trên không, trước khi thoát ra khỏi song cửa sổ để tan biến vào không trung.

Thím tôi lại nói:

- Nhớ đây, các cháu, đàn ông không phải ai cũng là hoàng đế, nhưng tất cả phụ nữ chúng ta thì một ngày nào đó đều phải lìa xa gia đình để đi lấy chồng. Tiểu Vũ đã đặt ra Nữ tự, để tất cả phụ nữ trong vùng của chúng ta có thể liên lạc với gia đình của chính mình.

************

          Vào năm chúng tôi lên mười ba tuổi, thì việc học của chúng tôi đổi hướng rõ rệt. Tuyết Hoa được gia đình giáo dục kỹ càng về ngành nghệ thuật. Nhưng nữ công gia chánh thì cô còn vụng về lắm, cho nên cô theo tôi để chuyên chú thêm về mặt này. Chúng tôi dậy từ lúc rạng đông để nhuốm lửa bếp. Sau khi rửa chén xong, thì sửa soạn nấu cám heo. Trưa đến, hai đứa tôi ra ngoài một lúc để hái ít rau trong vườn, sửa soạn cho cơm chiều. Trước kia, việc này do mẹ và thím tôi làm, bây giờ thì mẹ và thím chỉ trông chừng cho chúng tôi tập làm mà thôi. Cả buổi chiều, chúng tôi lên Nữ phòng để thêu thùa, gần đến giờ cơm thì xuống nhà phụ dọn cơm tối.

          Mỗi ngày là một bài học khác nhau. Mỗi người con gái trong gia đình chúng tôi, kể cả Tuyết Hoa, đều phải gánh vác một phần việc nhà. Diễm Nguyệt thì lo may vá, tôi và Tuyết Hoa thì không có kiên nhẫn để làm việc đó. Tôi thích làm bếp, nhưng dệt vải và thêu thùa thì tôi không hứng thú mấy. Chúng tôi, chẳng ai thích dọn dẹp nhà cửa hết, nhưng Tuyết Hoa thì đặc biệt vụng về hết sức. Nhưng mẹ và thím tôi không hề la mắng mỗi khi Tuyết Hoa quét nhà không sạch hay ủi quần áo không thẳng. Tôi nghĩ rằng mẹ và thím cũng thừa biết rằng sau này, Tuyết Hoa chắc hẳn phải có người giúp việc trong nhà chứ cô đâu cần làm những việc này. Tôi thì tôi suy diễn sự vụng về của Tuyết Hoa một cách khác. Cô sẽ không bao giờ làm công việc nhà cho đàng hoàng được, chỉ vì đầu óc cô còn bay bổng đâu đâu, không chú tâm đến cuộc đời trước mặt.

          Chúng tôi cũng học hỏi cách giao tiếp với đàn ông trong gia đình, mặc dù đó không phải là điều chúng tôi được quyền học. Không bao giờ cha hoặc chú tôi trực tiếp dạy dỗ chúng tôi điều gì, họ cho là khó coi lắm. Nhưng tôi khám phá ra bản tính của đàn ông khi quan sát cung cách đối xử của Tuyết Hoa và cách thức mà cha và chú tôi đáp lại. Trong nhà tôi, món cháo là món dễ làm nhất. Chỉ cần bỏ một nhúm gạo nhỏ vào nồi nước sôi và cứ vừa nấu vừa khuyấy liên tục một hồi là có nồi cháo ngon nóng hổi. Chúng tôi giao việc nấu cháo buổi sáng cho Tuyết Hoa. Từ lúc biết rằng cha tôi thích ăn hành lá, Tuyết Hoa không bao giờ quên rắc thêm ít hành xắt nhỏ vào chén cháo của cha. Bữa ăn trưa thì mẹ và thím trải bàn rồi dọn thức ăn lên để đàn ông tự lấy phần của mình. Nhưng Tuyết Hoa lại đi quanh bàn, bưng từng đĩa thức ăn nghiêng người mời mọc, bắt đầu từ cha tôi, rồi đến chú, anh cả, và cuối cùng là em trai út của tôi. Cô giữ đúng khoảng cách để không quá thân mật, gần gũi, mà vẫn thanh nhã, tế nhị. Và tôi biết rất rõ chính nhờ sự ân cần ấy của Tuyết Hoa mà đàn ông trong nhà cũng phải cẩn thận hơn khi ăn uống, không nhai nhồm nhoàm, không khạc nhổ dưới đất, và nhất là không gãi bụng rồn rột sau bữa ăn; mà trái lại thì họ lịch sự mỉm cười hoặc trao đổi vài câu với cô.

          Sự khao khát học hỏi của tôi vượt quá những gì mà tôi được dạy dỗ trong gian phòng Phụ nữ của gia đình, kể cả việc học Nữ tự. Tôi thèm muốn được học thật nhiều, cho tương lai của chính tôi. May mắn thay, Tuyết Hoa thích nói nhiều và cô thường nói bóng gió về làng Cự Tống của cô. Tuyết Hoa đã đi đi lại lại giữa hai làng và cô gần như đã thuộc lòng đường lối.

          - Khi chị sang gia đình nhà chồng, - Tuyết Hoa giải thích, chị phải đi qua con sông và đi qua nhiều ruộng lúa, theo hướng ngọn đồi mà ta nhìn thấy ở lối ra khỏi làng Phủ Quỳ. Cự Tống nằm lọt vào lòng những ngọn đồi, do đó, theo dân làng, Cự Tống chịu được hết mọi thời tiết. Ít nhất là cha tôi cũng nói như thế. Ở Cự Tống, chúng tôi tránh được động đất, đói kém hay cướp bóc. Nơi đó, phong thủy gần như toàn hảo.

          Khi nghe Tuyết Hoa kể, hình ảnh của làng Cự Tống cứ lớn dần trong trí tưởng tượng của tôi. Nhưng cũng không làm tôi giao động bằng lúc được nghe Tuyết Hoa kể về gia đình nhà chồng của tôi. Tôi và Diễm Nguyệt đều không có mặt khi cha và chú tôi bàn chuyện cưới hỏi với bà Quảng, nhưng chúng tôi đều biết sơ qua bối cảnh của làng bên đó. Tất cả mọi gia đình sống  ở Cự Tống đều thuộc giòng họ Lữ, và gia đình nhà chồng của chúng tôi đều sung túc. Đó là những điều cần thiết mà cha mẹ chúng tôi cần biết. Nhưng chúng tôi? Tôi và Diễm Nguyệt còn muốn biết thêm nhiều nữa cơ, về người chồng, mẹ chồng và những người đàn bà khác bên gia đình nhà chồng ra sao? Điều đó, chỉ có Tuyết Hoa là có thể cho chúng tôi biết được thôi, vì cô là người làng Cự Tống.

          Một hôm Tuyết Hoa bảo tôi:

          - Chị thật may mắn, tôi đã gặp con trai của ông Lữ, người sẽ cưới chị sau này, anh ta là một người anh họ xa của tôi. Tóc anh ta xanh mướt và anh rất tử tế với con gái. Anh ta đã chia chiếc bánh trung thu của anh cho tôi, mặc dù chả ai bắt anh làm thế cả.

          Tuyết Hoa nói rằng chồng tương lai của tôi tuổi con Cọp, tượng trung cho sự dũng cảm và hăng hái, như tuổi con Ngựa của tôi, rất hợp để kết duyên. Tuyết Hoa còn cho tôi biết thêm vài điều mà tôi cần biết trước khi sang nhà họ Lữ.

          - Đó là một căn nhà mà người ta ra vào nườm nượp. Ông Lữ là trưởng làng nên khách khứa luôn luôn, có người đến từ rất xa nữa. Trong nhà có nhiều người lắm, Ông Lữ không có con gái, nhưng sau này thì sẽ có con dâu về sống chung. Chị sẽ là con dâu trưởng đấy, như thế là khi bước vào nhà, địa vị của chị sẽ hơn những nàng dâu khác. Nếu chị lại sanh ngay được con trai thì khỏi nói, địa vị ấy lại càng bảo đảm. Cũng có nghĩa là chị sẽ không gặp tình cảnh như nàng Tiểu Vũ, phi tần của vua, mà thím của chị đã kể cho chúng ta nghe. Lữ phu nhân ư? Mặc dù sanh được bốn người con trai, nhưng ông Lữ vẫn có ba người thiếp. Làm sao hơn được? Ông ấy là trưởng làng mà, lấy thêm thê thiếp là cách chứng tỏ uy quyền của ông dưới con mắt của dân làng.

          Lẽ ra, điều đó phải làm tôi nghĩ ngợi lung lắm chứ. Nếu ông bố đã thế, thì chắc gì ông con không có thê thiếp chứ? Thế nhưng tôi còn trẻ quá, còn thơ ngây quá, nên cũng chẳng biết nghĩ đến điều đó. Mà cho dù điều đó có xảy ra đi chăng nữa, thì tôi cũng chưa đủ trí khôn để đo lường hậu quả. Thế giới của tôi thu gọn vào cha mẹ, chú thím và anh chị em, tôi không nhìn xa hơn thế.

          Tuyết Hoa quay sang nhìn Diễm Nguyệt, đang nóng lòng chờ chúng tôi để ý đến em, rồi nói:

- Tôi cũng mừng cho em nữa, Diễm Nguyệt. Tôi quen biết rất rõ gia đình nhà chồng tương lai của em. Chồng tương lai của em, như em đã biết đó, anh ta tuổi con Dê. Anh ta cao lớn vạm vỡ, rất dễ thương và cẩn trọng. Với cá tính đằm thắm của em, thì sẽ hợp với anh ta một cách tuyệt vời. Một cuộc nhân duyên toàn hảo.

          - Thế còn mẹ chồng tương lai của em thì sao hở chị? Diễm Nguyệt thẹn thùng hỏi.

          - Cái bà Lữ đó vẫn qua nhà thăm mẹ tôi luôn. Bà ta tốt bụng, rộng rãi, mà có những điều tôi cũng không thể nói cho em biết.

          Kìa, sao đôi mắt của Tuyết Hoa lại long lanh ngấn lệ? Có gì làm cô không vui chăng? Thật là bất thường, khiến tôi và Diễm Nguyệt còn tưởng đó là trò đùa. Nhưng người chị em kết nghĩa của tôi lấy lại bình tĩnh ngay:

          - Có con ma nó làm ngứa mắt tôi! Cô nói tỉnh bơ trước khi cười với chúng tôi và tiếp tục câu chuyện đang nói dở dang: Em thật may mắn đó Diễm Nguyệt ạ, mọi người bên đó sẽ thật lòng thương yêu em. Hơn nữa, em lại còn có thể sang nhà của Bạch Huệ bất cứ lúc nào em muốn, vì hai người ở gần nhau lắm.

          Tuyết Hoa lại quay sang nhìn tôi:

          - Mẹ chồng của chị thì cổ hủ lắm. Bà ta rất nghiêm nghị và tuân theo qui luật ràng buộc đàn bà. Lữ phu nhân lúc nào cũng ăn mặc chau chuốt. Và khi có khách, lúc nào cũng phải có trà nóng để mời.

          Như thế tức là Tuyết Hoa đã cho tôi biết một cách gián tiếp làm sao xử thế trong một khung cảnh gia đình như vậy.

          - Trong nhà đó kẻ ăn người làm nhiều lắm, chưa bao giờ nhà tôi lại có nhiều người làm đến như thế. Nghĩa là chị sẽ không phải đụng tay tới bếp nước, trừ khi phải làm một món đặc biệt nào cho mẹ chồng. Khi sanh con ra, chị cũng không phải săn sóc chúng, dĩ nhiên trừ khi chính chị muốn.

          Khi nghe nói thế, tôi cũng không biết Tuyết Hoa nói có đúng không. Nhưng tôi vẫn hỏi thêm về cha chồng tương lai của tôi. Tuyết Hoa nhíu mày một lúc rồi nói:

          - Ông Lữ là một người hào phóng và nhân từ. Điều đó không có nghĩa là ông ta không mưu mẹo, nếu không thì ông đã chẳng trở thành trưởng làng. Mọi người đều kính trọng ông, kể cả các con trai và các con dâu sau này. Chị thật có phước! Tuyết Hoa nói và nhìn thẳng tôi bằng đôi mắt sắc sảo.

          Với những gì mà Tuyết Hoa tả thì tôi làm sao mà không nghĩ rằng tương lai tôi sẽ được ở cạnh người chồng ân cần, với đàn con ngoan quây quần, trìu mến, một cuộc sống gần như là toàn mỹ?

            Sự hiểu biết của tôi đã bắt đầu vượt ra khỏi làng xóm. Tuyết Hoa và tôi đã được bà Quảng dắt đến Cát An năm lần rồi. Chúng tôi đã trèo lên những bậc thang của đền Cầu Tự để thắp hương và dâng lễ trước bàn thờ. Rồi lang thang ra chợ để ghé hàng bán kim chỉ thêu thùa, không quên ghé thăm tiệm bánh khoai rán tẩm ca ra men của ông già họ Vũ. Trên đường đi cũng như bận về, chúng tôi cứ chờ bà Quảng ngủ gật là lại lén mở hé màn cửa sổ để chúi mũi nhìn ngắm phong cảnh bên ngoài. Chúng tôi nhận ra những đường mòn bắt đầu từ con đường chính, dẫn đến những làng mạc xa xa. Kiệu của chúng tôi đi dọc theo những con sông và những bờ kinh. Những bác phu kiệu nói rằng nhờ những nhánh sông này đã nối liền làng xóm chúng tôi với những phần còn lại của đất nước. Tối ngày nhốt mình trong Nữ phòng, thật khó mà tưởng tượng những gì xảy ra bên ngoài bốn bức tường. Đàn ông trong làng thì khác, nếu họ muốn thì họ có thể dùng thuyền đi bất cứ nơi nào họ muốn, không bị ràng buộc như chúng tôi.

          Dạo ấy bà Quảng và bà Cựu cứ rình rập cấu xé nhau như hai con gà chọi. Bạn có nghĩ rằng nếu hôn nhân của chúng tôi được hứa chắc rồi thì hai bà ấy có để cho chúng tôi yên không? Chưa chắc đâu! Hai bà ấy sẽ còn kiểm soát, nịnh hót và hại chúng tôi là đằng khác, làm sao để không làm tổn hại đến sự đầu tư của các bà ấy trên mình của chúng tôi. Tất cả đều có thể thay đổi bất cứ lúc nào. Một điều rõ ràng là các bà ấy đã làm cho gia đình tôi lo lắng không ít về chuyện bốn đám cưới trong cùng một gia đình. Không biết rồi cha tôi đào đâu ra tiền mà cho nhà gái để cưới vợ cho anh cả của tôi. Lại còn hồi môn của ba đứa con gái? và quan trọng hơn cả, là tiền thù lao của hai bà mai. Vào mùa hè lúc tôi mười ba tuổi thì cuộc chiến giữa hai bà ấy lại càng tệ hại và tiến thêm một bước nữa.

          Tất cả bắt đầu vào một hôm chúng tôi đang ở trên lầu, thì bà Cựu, muốn nói ngầm cho gia đình tôi biết rằng dân trong làng thường không trả tiền thù lao cho bà đúng hạn.

          - Gần đây, cuộc nổi dậy của nông dân trên vùng đồi núi lân cận đã khiến tình trạng trở nên khó khăn cho tất cả mọi người. Hàng hóa không đến và cũng không đi nhiều như trước. Chẳng ai còn tiền. Tôi nghe nói rằng nhiều cô gái trẻ đã hứa hôn đã bị từ hôn vì nhà gái không lo được của hồi môn cho con. Do đó, nhiều cô gái đành phải đi làm tôi tớ hoặc tì thiếp.

          Cái tình trạng khó khăn chung trong vùng thì ai mà chả biết. Thế nhưng, điều mà bà Cựu nói sau đây khiến chúng tôi không khỏi ngạc nhiên đến tột độ:

          - Cô bé Tuyết Hoa cũng khó tránh khỏi cái rủi ro ấy. Bây giờ vẫn còn đủ thì giờ để tôi kiếm cho cô ta một nơi nào thích hợp hơn.

          Tôi thật mừng là Tuyết Hoa không có ở đó để nghe những lời miệt thị đó.

          - Bà đang nói về một gia đình được coi là lịch sự, ưu tú nhất vùng đấy, bà Quảng đáp lời với giọng không ngọt ngào chút nào, mà sắc bén như nhát dao.

          - Thưa bà chị! Bà cũng vừa nói «được coi là» đấy. Ông chủ của gia đình đó đã mất biết bao nhiêu tiền vì cờ bạc. Chưa kể đến tiền để nuôi thê thiếp.

          - Điều đó là do nếp sống và địa vị xã hội của ông ta đòi hỏi như thế. Bà không biết cũng không có gì đáng trách cả. Những điều đó đối với bà quả là xa lạ.

          - Ah! Bà làm tôi buồn cười. Thật là trơ trẽn, nói cứ như thật ấy. Cả làng cả tỉnh ai mà không biết tình trạng của gia đình đó chứ. Thêm vào đó là những cuộc nổi loạn trong vùng, mất mùa, ôi thôi, và bao nhiêu chuyện bê bối khác. Chẳng cần làm thầy bói cũng đoán được là chuyện gì sẽ xảy ra mà…

          Mẹ tôi đứng bật dậy:

          - Bà Cựu! Mẹ nói: chúng tôi cám ơn công của bà đối với các con tôi. Nhưng chúng còn nhỏ, không nên nghe những chuyện như thế. Chúng tôi không dám giữ bà lâu hơn, tôi tin là còn nhiều khách khác đang đợi bà.

          Mẹ tôi kéo bà Cựu ra khỏi chiếc ghế bà đang ngồi và đẩy bà ra cầu thang. Khi bà đã đi khuất rồi, thím tôi mới rót trà mời bà Quảng, lúc ấy đang ngồi sững ra trên ghế, mắt nhìn xa vắng đâu đâu, chìm đắm trong suy tư. Rồi bà chớp mắt, đảo một vòng chung quanh phòng rồi gọi tôi lại gần. Tuy đã mười ba tuổi rồi mà tôi vẫn thấy sợ bà như thường. Tuy tôi đã phải gọi bà là «dì», nhưng trong thâm tâm, tôi vẫn thấy bà là một người đáng nghi ngờ. Khi tôi lại gần, bà kéo tôi vào lòng, giống như cái lần đầu tiên khi bà đến đây.

          - Con không bao giờ kể lại cho Tuyết Hoa nghe những gì con vừa nghe hôm nay, - bà dặn tôi. Con hiểu không: không bao giờ! Nó là một đứa bé ngây thơ, không nên để những lời dơ bẩn của cái mụ già lố bịch ấy đầu độc tư tưởng của nó.

          - Thưa dì, dạ.

          - Không bao giờ! Bà nhắc lại và rung đùi lắc lư tôi như lắc cái cây mận.

          - Vâng, cháu hứa.

Lúc ấy, tôi chỉ hiểu được phân nửa những lời cãi cọ giữa hai bà mai. Mà cho dù tôi có hiểu hết chăng nữa thì tôi cũng chẳng thuật lại cho Tuyết Hoa nghe làm gì. Tôi yêu thích cô, và không muốn làm tổn thương đến cô với những lời nói tàm xàm ấy.

Tôi cũng muốn kể thêm rằng: chắc là mẹ đã nói với cha tôi chuyện này, cho nên kể từ hôm ấy, bà Cựu không được phép bước chân vào nhà tôi nữa. Những cuộc mặc cả, mai mối được diễn ra ngoài đường, vài chiếc ghế được xếp trước nhà để nói chuyện. Điều đó chứng tỏ rằng cha mẹ tôi quí trọng Tuyết Hoa đến thế nào. Cô là chị em kết nghĩa của tôi, nhưng cha mẹ đã thương yêu cô như thương tôi, xem cô như là con ruột.

         Tháng thứ mười của năm tôi lên mười ba tuổi. Bên ngoài song cửa sổ, bầu trời ấm áp sáng sủa mùa hè đã nhường chỗ cho một mầu xanh thăm thẳm của trời thu.

Chỉ còn một tháng nữa thôi là đến ngày đám cưới của chị hai tôi. Gia đình chồng tương lai của chị đã cho mang lễ vật đến. Đám chị em nuôi của chị đã bán đi hai mươi lăm cân gạo tích trữ để mua quà cho chị. Các chị ấy đến nhà tôi, ở ngay trên Nữ phòng để được gần chị tôi vào những ngày trước đám cưới. Các bà trong xóm thỉnh thoảng cũng tạt qua để thăm hỏi đôi câu, cho vài lời khuyên hay chúc tụng. Suốt hai mươi tám ngày trời, chúng tôi ê a ca hát và đọc truyện cổ. Nhóm chị em nuôi giúp chị hai tôi may những thứ phải mang theo và gói những đôi hài mà chị tôi đã thêu cho tất cả các bà bên phía nhà chồng. Chúng tôi cùng nhau soạn và viết cuốn sách kỷ niệm sẽ phải trao cho chị hai vào ngày thứ ba sau khi cưới. Cuốn sách đó cũng sẽ phải trình cho các bà khác bên gia đình nhà chồng. Chúng tôi phải nặn óc viết những câu hay ho nhất, đúng lúc nhất để cuốn sách có giá trị.

Ba ngày trước khi chị tôi đi lấy chồng, là ngày “Nuối tiếc”. Mẹ tôi ngồi ở bậc thang thứ tư, duỗi chân trên bậc thang cất giọng ê a hát:

- Con gái! Con là hạt ngọc trong lòng bàn tay của mẹ. Mắt mẹ ướt đẫm nước mắt, chảy dài xuống mặt mẹ. Không bao lâu, căn nhà này sẽ có một chỗ trống.

Để đáp lại nỗi buồn ray rứt của mẹ, chị hai tôi và các chị em nuôi của chị, cùng các bà trong xóm cũng ê a một bài hát sầu thảm: ku… ku… ku…

Kế đó là thím tôi, hát cùng điệu hát như mẹ. Như thói quen, thím cố gắng lạc quan, trong bầu không khí buồn thảm của căn phòng:

- Thím vừa không đẹp lại bất tài, thế mà thím vẫn tìm được hạnh phúc. Thím yêu chồng thím, và chú cũng yêu thím. Chú thím là một cặp uyên ương xấu xí, nhưng chúng tôi thật là hạnh phúc, và thím hy vọng là cháu cũng được như vậy.

Đến phiên tôi, tôi cất cao giọng:

- Chị hai! Tim em rỉ máu với ý nghĩ sẽ xa chị. Phải chi chúng ta là hai anh em, thì chẳng có gì chia cách chúng ta được. Chúng ta sẽ được bên nhau mãi mãi, như cha và chú của chúng ta, như anh trai và em trai của chúng ta. Căn nhà sẽ trống vắng biết bao khi thiếu chị.

Tôi tiếp tục nghêu ngao một đoạn mà tôi đã được học từ Tuyết Hoa trong Nữ Thư, nói về bổn phận làm vợ:

- Mọi người đều phải mặc quần áo, cho dù là giá lạnh mùa đông hay nắng ấm mùa hè. Hãy may áo cho mọi người trong gia đình cho dù họ không đòi hỏi. Cho dù trên bàn có đầy thức ăn, phải để cha mẹ chồng gắp trước. Hãy làm việc không ngừng, và giữ trong đầu ba nguyên tắc sau: đối với cha mẹ chồng, phải kính trọng và ân cần; đối với chồng, phải săn sóc và hòa thuận; đối với con cái, phải trìu mến và gương mẫu. Nếu chị biết tôn trọng các nguyên tắc ấy, chị sẽ được nhà chồng đối xử tốt. Và sẽ được bình thản trong tim.

Sau hết là đến lượt các chị em nuôi của chị hai. Các chị ấy rất thương chị hai, vì chị luôn luôn đối xử tử tế với họ. Khi mọi người trong nhóm chị em nuôi lấy chồng hết, thì sẽ giải tán nhóm. Những ngày quây quần bên nhau thêu thùa hay dệt tơ dệt vải sẽ chỉ còn là kỷ niệm. Và những gì viết bên trong quyển sổ tay kỷ niệm sẽ là một nguồn an ủi trong những tháng năm dài sắp tới. Khi một người trong nhóm chết đi, thì những người khác sẽ đưa tiễn, và đốt đi những gì đã viết ngày xưa, để người chết vĩnh viễn mang theo.

Dù là sự chia tay với chị tôi làm đau lòng cả nhóm, nhưng họ thành thật mong cho chị được hạnh phúc.

Khi tất cả mọi người đã hát và đã khóc mùi mẫn rồi, Tuyết Hoa mới chen vào:

          - Chị hai! Thay vì hát cho chị, em sẽ cho chị coi một thứ mà em và Bạch Huệ đã tìm ra, để chị lúc nào cũng ở bên cạnh chúng em.

          Nói đến đấy, Tuyết Hoa rút trong tay áo ra chiếc quạt của chúng tôi, và đọc dòng chữ mà chúng tôi đã viết trên đó: «Chị hai, người bạn dịu dàng, bao dung và ngọt ngào, những kỷ niệm của chị sẽ luôn luôn rực sáng trong lòng chúng em». Rồi Tuyết Hoa chỉ cho chị hai xem cánh hoa hồng nhỏ xíu, tượng trưng cho chị hai, mà Tuyết Hoa đã vẽ thêm vào viền quạt.

          Ngày hôm sau, mọi người đi nhặt đầy lá tre và xách nước đầy sô. Khi nhà trai tới, chúng tôi ném lá tre vào họ, ý chúc sự thương yêu của đôi vợ chồng mới sẽ bền vững mãi như sự tươi mát của những chiếc lá tre. Rồi chúng tôi tạt nước lên không trung, để nhắn với nhà trai rằng cô dâu trong sạch như những nguồn nước mát. Những tiếng cười, tiếng la hét kèm theo rộn rã.

          Ngày vui trôi qua, với tiệc tùng và những giọt lệ. Chiếc rương của cô dâu được phô bày ra và ai ai cũng trầm trồ về phẩm chất của những món đồ thêu do chị tôi làm. Suốt ngày hôm ấy và cả đêm đó, tôi thấy chị thật là đẹp mặc dù đôi mắt lúc nào cũng đẫm lệ. Hôm sau, chị bước lên kiệu hoa để về nhà chồng. Đám người đưa dâu kêu: « gả con gái, như là đổ sô nước đi ». Chúng tôi tiễn đưa ra đến tận cổng làng, đứng nhìn chị qua cầu và rời xa Phủ Quỳ.

          Ba ngày hôm sau, chúng tôi gửi sang nhà chị quà và bánh chưng, cùng với những cuốn sổ lưu niệm, mà chị sẽ phải đọc lớn cho mọi người bên chồng nghe. Ngày kế đó, theo phong tục, anh cả của tôi sẽ phải sang làng bên ấy đón chị về nhà. Trong năm, ngoại trừ vài lần chị được đón về nhà chồng để làm bổn phận người vợ, thì chị vẫn ở với gia đình chúng tôi, cho đến khi có được đứa con đầu lòng.

          Kỷ niệm rõ rệt nhất khi chị tôi đi lấy chồng là chuyến trở về nhà của chị vào mùa xuân sau đó, sau chuyến đi thăm gia đình nhà chồng. Chị tôi, ngày thường lặng lẽ thế nào, chỉ biết ngồi thêu thùa may vá, không to tiếng hay cằn nhằn ai bao giờ; thế mà hôm ấy chị đột nhiên quỳ gối xuống đất, khóc nức nở, ôm mẹ tôi trong tay và dụi mặt vào nếp áo của mẹ. Mẹ chồng của chị thật là tai ngược, cứ tìm cách phàn nàn, phê bình chị luôn. Chồng chị thì ít học lại thô bỉ. Chị phải đi xách nước và giặt giũ cho cả nhà. Đôi bàn tay của chị trông vẫn còn nứt nẻ. Họ từ chối nuôi ăn chị, tệ hơn nữa bảo chị phải mang thức ăn từ nhà sang mà ăn, viện cớ rằng gia đình tôi không cho chị đầy đủ thức ăn đem theo mỗi lần chị sang thăm gia đình chồng.

          Tôi, Tuyết Hoa và Diễm Nguyệt đứng khép nép trong góc nhà, rít lên nho nhỏ để tỏ lòng trắc ẩn với chị. Nhưng chúng tôi biết rằng không thể nào xoa dịu được sự đau khổ mà chị đã gánh chịu. Chúng tôi tin chắc rằng điều đó không thể nào xảy đến cho chúng tôi.

          Mẹ tôi vuốt tóc chị, vỗ vào lưng chị, lúc ấy đang nức nở khóc. Tôi chỉ muốn an ủi chị đừng quá lo lắng, sự bận tâm đó chỉ là nhất thời thôi. Thế nhưng, tôi lại không thốt nên lời. Chị bối rối, quay sang thím tôi cầu cứu.

          - Thím năm nay đã ba mươi tám tuổi, thím nói với giọng nhẫn nhục chịu đựng. Thím đã trải qua cuộc sống khốn khổ. Thím sinh ra trong gia đình khá giả, nhưng khuôn mặt khó coi, và đôi chân xấu xí đã đặt để số phận của thím. Tuy nhiên, một người đàn bà dù ngu đần hay xấu xí đến đâu, thậm chí câm hay tàn tật, rồi cuối cùng cũng tìm được một người chồng, bởi vì người đàn ông thế nào cũng phải sanh con trai, cho dù là anh ta không lanh lợi cho lắm. Cha của thím đã tìm cho thím được một gia đình tốt nhất mà ông có thể tìm được. Thím cũng đã khóc lóc như cháu hôm nay. Nhưng số phận vẫn bám riết theo thím, không cho thím có được đứa con trai. Thím trở thành một gánh nặng cho gia đình nhà chồng. Thím cũng muốn có đứa con trai để có một cuộc sống sung sướng hơn chứ. Thím cũng muốn con gái của thím không phải lấy chồng, để nó ở cạnh thím mãi mãi chứ. Nhưng số phận đàn bà là vậy cháu ơi! Tất cả đã được an bài cả rồi.

          Lời tuyên bố ấy làm chúng tôi sững sờ, nhất là lại phát xuất từ thím tôi, người duy nhất trong gia đình mà chúng tôi thường tìm đến để làm xoa dịu không khí gia đình trong những lúc căng thẳng, người lúc nào cũng cho chúng tôi những sự hỗ trợ dịu dàng và cần thiết, suốt trong thời kỳ học tập của chúng tôi. Diễm Nguyệt xiết chặt tay tôi trong tay em. Đôi mắt em đẫm nước mắt trước những lời lẽ của mẹ em, đã nói ra sự thật phũ phàng, những lời mà cho đến nay mẹ em chưa bao giờ thốt lên. Trước đây, tôi chưa bao giờ thắc mắc về cuộc đời bạc bẽo của thím. Nhưng bây giờ, sau nhiều năm trôi qua, tôi hiểu rằng đằng sau bộ mặt tươi cười vui vẻ ấy, chắc chắn đã che dấu để vượt qua những dằn vặt nội tâm.

          Dĩ nhiên những lời nói của thím không an ủi được chị hai của tôi. Thím càng nức nở, thì chị càng bịt tai lại không muốn nghe. Nhất định là mẹ phải can thiệp rồi. Nhưng khi mẹ bắt đầu nói, thì cũng lại toàn là những lời sâu sắc, khó hiểu về luật âm dương, về bổn phận của đàn bà.

          - Con đã có chồng rồi, mẹ nói bằng giọng bình thản lạ lùng. Con sẽ phải sang sống ở một làng mạc khác. Mẹ chồng con dữ dằn. Chồng của con không lo cho con. Chúng tôi muốn không bao giờ con phải ra khỏi nhà này chứ. Nhưng con gái ai cũng phải đến lúc lấy chồng và rồi cũng phải thích nghi thôi. Con có thể khóc lóc, cầu xin trở về với gia đình. Chúng tôi cũng phải chịu đựng sự ra đi của con. Nhưng chúng ta, con cũng như gia đình, đều không có lựa chọn. Một câu thành ngữ đã nói rõ ràng rồi: «một người con gái không lấy chồng thì chẳng có giá trị gì cả, nếu lửa không san bằng ngọn núi, thì đất chẳng bao giờ mầu mỡ».

 

Chương 8 – Lễ Đợi Mùa

Năm ấy, tôi và Tuyết Hoa lên mười lăm tuổi, cái tuổi đời như trăng mới mọc, như hoa mới nở, lòng còn dịu dàng chưa nhuốm bụi trần gian. Chúng tôi phải để tóc dài và búi lên theo kiểu con phượng hoàng, điều đó có nghĩa là sắp đến tuổi phải lấy chồng đấy, nếu không muốn bị làm “gái già”. Chúng tôi phải làm việc ráo riết để sửa soạn trước những thứ cần thiết xếp vào rương để mai mốt đem theo sang nhà chồng. Ăn nói phải nhẹ nhàng và bước những bước đi rón rén trên đôi chân bé xíu hình búp sen.

Dạo ấy chúng tôi đã thông thạo Nữ Tự lắm rồi. Lúc xa nhau, chúng tôi viết cho nhau gần như mỗi ngày. Cơ thể đã bắt đầu chớm nét dậy thì. Chúng tôi cũng phải phụ làm việc nhà, nào là rửa chén, giặt giũ, thêu thùa, may vá, quét nhà và hái rau trong vườn. Dưới mắt mọi người, chúng tôi đã là những người đàn bà thực thụ, đang tập tành nghĩa vụ làm vợ. Tôi và Tuyết Hoa vẫn còn được tự do gặp nhau khi chúng tôi muốn, và từng ngồi hàng giờ trên căn gác nhỏ, vừa thêu thùa vừa thì thầm tâm sự những chuyện bí mật. Chúng tôi chia xẻ cho nhau tình thương yêu mà tôi hằng mơ ước khi còn thơ ấu.

Năm ấy, Tuyết Hoa đến nhà tôi ở suốt dịp lễ Đợi Mùa, tức là khoảng thời gian nóng nhất trong năm, khi thóc lúa dự trữ từ mùa gặt trước vừa cạn, và mùa gặt mới thì chưa đến. Đó là dịp để các cô đã lấy chồng, theo truyền thống là những người có địa vị thấp kém nhất trong mọi gia đình, được trở về xum họp với cha mẹ, anh chị em trong vòng vài ngày, thậm chí có thể vài tuần. Họ gọi đó là “ngày lễ”, thực ra, là dịp để nhà chồng tạm thời tống cổ bớt một miệng ăn thừa thãi ra khỏi nhà.

Chị hai của tôi vừa được sang ở hẳn bên nhà chồng, và chị sắp sanh con đầu lòng. Do đó, chị không tiện di chuyển để về nhà cha mẹ vào dịp lễ ấy. Mẹ tôi về bên ngoại, mang theo em trai út của tôi. Thím tôi cũng được về quê thăm gia đình. Em họ Diễm Nguyệt không đi theo thím mà xin sang ở nhà của nhóm chị em nuôi của em, ở tận đầu làng. Chị dâu của tôi thì bế con gái đầu lòng về nhà cha mẹ ruột.

Do đó, nhà chỉ còn toàn đàn ông. Tôi và Tuyết Hoa phải lãnh việc cơm nước. Cha và chú tôi cùng anh cả hiếm khi được ở chung với nhau mà không bị phiền nhiễu bởi đàn bà!

Cơm tối xong, sau khi rót trà nóng, mời thuốc lào, và một khoanh dưa hấu cho mọi người, thì chúng tôi được trả tự do. Như thế là ba ngày liên tiếp, tôi và Tuyết Hoa hoàn toàn được ở một mình trên Nữ phòng, muốn làm gì thì làm.

Đêm đầu tiên, trời nóng kinh khủng, chúng tôi thay quần áo mỏng, chân vẫn phải băng, và mang giầy lụa, nằm bên nhau. Chúng tôi đẩy chiếc giường lại gần cửa sổ cho thoáng khí một chút, nhưng cũng không làm sao giảm bớt được cái oi nóng của mùa hè. Ánh trăng thanh tỏa ánh sáng dìu dịu qua chấn song cửa sổ, soi lên khuôn mặt của hai đứa tôi ướt đẫm mồ hôi.

          Đêm thứ nhì, trời còn nóng tợn hơn nữa, Tuyết Hoa đề nghị chúng tôi bỏ bớt áo ngoài để ngủ, cô nói:

- Không ai biết đâu.

Cũng đỡ được một chút, nhưng căn phòng vẫn cứ hừng hực nóng. Đêm hôm sau, trăng tròn vành vạnh tỏa ánh sáng xanh mờ mờ vào tận chỗ nằm. Nóng không sao ngủ được. Khi biết chắc rằng mọi người dưới nhà say ngủ cả rồi, tôi và Tuyết Hoa đành bỏ hết y phục, chỉ giữ lại băng vải chân và đôi giầy lụa, hy vọng bớt nóng một chút. Từng làn gió nhẹ lùa qua song mơn man thân thể, nhưng không có chút mát lạnh nào mà chỉ cảm thấy nóng ran chẳng khác gì lúc còn mặc quần áo. Ngủ không được, Tuyết Hoa ngồi nhỏm dậy:

- Thế cũng không đủ mát! Tuyết Hoa cao giọng nói đúng cái ý nghĩ cũng vừa thoáng qua trong đầu tôi.

          Cô với tay lấy chiếc quạt của hai chúng tôi, mở ra và phe phẩy nhẹ nhàng, quạt cho tôi. Làn không khí nhè nhẹ vuốt ve trên da thịt, tuy không làm cho mát hơn nhưng rất dễ chịu. Song, Tuyết Hoa ngừng lại, nhíu mày và gấp chiếc quạt lại, cất vào chỗ cũ. Đôi mắt cô chăm chú nhìn trên cổ tôi, rồi nhìn dần xuống bụng, xuống chân. Lẽ ra tôi xấu hổ chết đi được khi thấy cái cách mà cô nhìn tôi như thế, nhưng tôi tự nhủ Tuyết Hoa là chị em kết nghĩa của tôi mà, có gì để xấu hổ đâu.

          Ngước mắt lên, tôi thấy Tuyết Hoa đặt ngón tay trỏ lên đôi môi đỏ như son, chạm vào đầu lưỡi hồng hồng và bóng ướt dưới ánh trăng mờ. Rồi bằng một cử chỉ thật nhẹ nhàng, cô thấm nước bọt vào đầu ngón tay, và đặt ngón tay lên bụng tôi, vẽ một nét bên trái, rồi một nét bên phải, tiếp theo một dấu hiệu hình thù như là hai dấu thập. Sự tiếp xúc ướt lạnh man mát ấy làm tôi nổi da gà. Tôi nhắm mắt lại để cho từng luồng điện tỏa lan khắp cơ thể. Bất chợt, cái cảm giác ươn ướt ấy biến mất. Khi tôi mở mắt ra, đôi mắt Tuyết Hoa đắm chìm trong mắt tôi.

          - Sao? Tuyết Hoa hỏi và tiếp ngay, không chờ tôi trả lời: đó là chữ gì?

          Tôi chợt hiểu ra Tuyết Hoa vừa làm gì: cô vừa viết trên bụng tôi một chữ trong Nữ Tự. Chúng tôi đã làm chuyện ấy từ bao nhiêu năm nay rồi, dùng cây gậy để viết trên bụi, hoặc dùng đầu ngón tay viết trong lòng bàn tay.

          - Tôi viết lại nghe. Nhưng lần này, chị phải chăm chú.

          Tuyết Hoa lại thấm nước miếng, lần này, vẫn với cử chỉ duyên dáng, thanh nhã như lần đầu. Ngay lúc tôi cảm được ngón tay ươn ướt của cô bắt đầu đặt trên bụng, tôi không thể nào không nhắm mắt lại. Hơi thở tôi đứt đoạn và một cảm giác nặng nề lan tỏa khắp cơ thể tôi. Một nét về phía trái để bắt đầu chữ, một nét theo chiều ngược lại. Kế đó là hai nét bên phải và hai nét bên trái, làm thành chữ thập kép. Lần này, tôi nhắm mắt cho đến lúc cơn run rẩy tan đi hết mới mở mắt ra, nhìn vào đôi mắt đầy dấu chấm hỏi của Tuyết Hoa.

- Chữ «giường», tôi trả lời.

          - Đúng! Tuyết Hoa nói trước khi hạ thấp giọng xuống: nhắm mắt lại đi, tôi viết thêm một chữ nữa.

          Tuyết Hoa viết một chữ giản dị hơn lên phía hông bên trái của tôi. Lần này, đã chú tâm, tôi hiểu ngay ra động từ «soi sáng».

          Khi tôi trả lời, Tuyết Hoa cúi mặt xuống gần mặt tôi, thì thầm:

          - Giỏi lắm!

          Chữ kế tiếp chỉ một nét thôi, vẽ từ bụng tôi sang phía hông bên kia.

          - Ánh trăng, tôi nói.

          Rồi tôi mở mắt đọc:

          - «Ánh trăng chiếu tỏ  qua giường».

          Tuyết Hoa mỉm cười, khi thấy tôi đã nhận ra câu đầu của bài Đường thi mà cô đã dạy cho tôi hôm nọ. Rồi chúng tôi đổi phiên. Tôi nhìn Tuyết Hoa như cô đã nhìn tôi lúc nãy, ngắm nghía chiêm ngưỡng, bắt đầu từ chiếc cổ cao xuống đến đôi chân thon nhỏ bó gọn trong đôi hài bằng lụa đỏ. Da cô trắng như một mảnh lụa phẳng phiu, sẵn sàng để thêu hoa lên đó.

          Lúc ấy, chúng tôi còn nhỏ, còn thơ ngây quá, không hiểu gì chuyện trai gái. Mãi về sau tôi mới biết rằng không có gì riêng tư hơn là nhìn đôi hài mang ban đêm, cũng như không có gì khiêu gợi hơn là làn da trắng ngần nơi cổ chân nhỏ bé, trên làn lụa đỏ. Lúc ấy, tuy chưa hiểu gì nhưng đôi mắt tôi vẫn dừng lại thật lâu trên đôi hài lụa đỏ của Tuyết Hoa. Đôi hài đó, Tuyết Hoa đã thêu lấy, pha trộn vào những nét thêu các hình ảnh của Ngũ quỷ: con thú ngàn chân, con cóc, con bọ cạp, con rắn, và con thằn lằn. Theo truyền thuyết, đó là những biểu tượng được dùng để xua đuổi tà ma, bệnh hoạn vào mùa hè: bệnh dịch hạch, dịch tả, thương hàn, bệnh sốt chấy rận và sốt rét. Tôi nhận thấy nét thêu của Tuyết Hoa trên đôi hài thật toàn hảo, tuyệt vời như toàn thân của cô.

          Tôi thấm nước miếng vào đầu ngón tay, mắt vẫn không rời màu da trắng như tuyết của Tuyết Hoa. Khi tôi đặt ngón tay lên bụng của Tuyết Hoa, tôi cảm thấy cô nín thở, và toàn thân như run lên.

          - Chữ «tôi», Tuyết Hoa trả lời.

          Đúng thế. Đặt ngón tay thấp hơn một chút, tôi viết chữ kế tiếp.

          - Chữ «tưởng», cô nói.

          Rồi làm như Tuyết Hoa ban nãy, tôi viết chữ «sáng» lên hông bên phải, và kế đó là chữ «tuyết»lên hông bên trái của Tuyết Hoa. Dĩ nhiên là Tuyết Hoa nhận ra ngay những chữ tôi vừa viết, cũng như câu thơ kế tiếp của bài Đường thi. Từ nãy giờ, tôi viết chữ vào đúng những chỗ mà Tuyết Hoa viết vào người tôi ban nãy. Nhưng bây giờ, tôi phải chọn một chỗ khác, mới mẻ hơn. Thật nhẹ nhàng, ngón tay tôi kéo một nét trên bụng của Tuyết Hoa, ngay phía trên của bao tử. Tôi biết đó là nơi nhạy cảm nhất, dù là cử chỉ mạnh bạo hay dịu dàng. Tuyết Hoa rùng mình khi ngón tay tôi kẻ nét chữ «rạng đông».

          Tôi còn hai chữ nữa để viết xong câu thơ. Tôi có chủ ý rồi, nhưng lại ngần ngừ, ngón tay cứ để mãi trên môi. Rồi trong ánh trăng mờ ảo, sự mềm mại của làn da trắng như ánh trăng, hơi nóng lùa vào phòng làm tôi mạnh dạn hơn. Tôi đặt ngón tay lên ngực của Tuyết Hoa. Cô hé môi và thốt lên một tiếng rên nho nhỏ. Tuyết Hoa không nói đó là chữ gì, và tôi cũng không hỏi. Nhưng trước khi viết chữ cuối, tôi nằm dài xuống cạnh Tuyết Hoa, để cảm nhận cho rõ hơn phản ứng của thân thể cô khi tôi đặt ngón tay vào. Tôi thấm nước miếng, viết nốt chữ cuối lên phía ngực bên kia của Tuyết Hoa. Chúng tôi nằm yên gần như bất động trong giây lát. Rồi, với đôi mi vẫn khép, Tuyết Hoa thì thầm đọc toàn câu thơ:

          - «Tưởng là tuyết trắng ngày hừng sớm đông»

          Tuyết Hoa nằm nghiêng người, quay mặt về phía tôi và nhẹ đưa tay vuốt má tôi, y như cái đêm đầu tiên chúng tôi nằm bên nhau trong căn phòng này, cách đây bao nhiêu năm rồi. Rồi bàn tay cô đặt lên cổ tôi, xoa nhẹ.

          - Chúng ta còn hai câu thơ, Tuyết Hoa nói.

          Cô ngồi lên, đặt tôi nằm xấp xuống. Mấy đêm trước, tôi thấy nóng kinh khủng, nhưng đêm nay, dưới ánh trăng thanh, tôi thấy như cả người tôi rực cháy, nóng hơn cả những ngọn lửa như thiêu như đốt của mùa hè.

          Tôi cố gắng tập trung, và tôi nhận ra ngay Tuyết Hoa định viết chữ đầu tiên vào đâu. Cô ngồi lùi ra góc giường, nhấc chân tôi lên để tựa lên đầu gối của cô. Tuyết Hoa bắt đầu viết chữ đầu tiên lên mắt cá chân của tôi, ngay phía trên của đôi hài bằng lụa đỏ tôi mang trên chân. Rồi cô lại chuyển sang mắt cá chân bên kia, cứ thế chân nọ sang chân kia, nhưng không bao giờ thấp hơn lớp vải băng chân của tôi. Đôi chân đã trải qua bao đớn đau nhục hình, nhưng cũng bao nhiêu thanh tao và hãnh diện, giờ đây đang lành lại một cách thú vị, đẹp đẽ thon búp như một đóa sen. Đã tám năm rồi, kể từ ngày chúng tôi trở thành chị em kết nghĩa, chưa bao giờ chúng tôi gần gũi thân mật như đêm nay.

          Khi Tuyết Hoa viết xong, tôi đọc một lèo:

          - «Ngước nhìn trăng chiếu thinh không»

          Tôi ước sao Tuyết Hoa cũng có cảm giác như tôi vừa rồi. Tôi nhấc chân Tuyết Hoa đặt lên đùi tôi, rồi viết vào chỗ trũng giữa cục xương nơi mắt cá chân và sợi gân phía mặt sau chân, chữ «nghiêng», cũng đồng nghĩa với chữ «cúi xuống đất». Trên mắt cá chân bên kia, tôi viết chữ «tôi».

          Tôi đặt chân Tuyết Hoa xuống, viết một chữ khác lên bắp chân, rồi một chữ nữa ngay đùi, phía trên đầu gối. Còn hai chữ cuối cùng, tôi ngập ngừng, không dùng tay viết mà thổi nhè nhẹ từng nét, từng nét, thật cẩn thận, thật nhẹ nhàng để nét chữ phải thật hoàn toàn. Tuyết Hoa rùng mình, phản ứng bằng cách khép hai chân lại.

          Xong, cả hai chúng tôi nằm bên nhau cùng đọc:

          «Ánh trăng chiếu tỏ qua giường,

Tưởng là tuyết trắng ngày hừng sớm đông

Ngước nhìn trăng chiếu thinh không,

Nghiêng đầu thấy nỗi  mênh mông nhớ nhà»

 

          Cả hai chúng tôi đều biết rõ bài thơ ấy nói về một chàng thư sinh trong lúc xa quê, bày tỏ nỗi nhớ nhà tha thiết. Nhưng đêm ấy, tôi có cảm tưởng bài Đường thi ấy viết cho chúng tôi. Tuyết Hoa là quê nhà của tôi, và tôi đã là quê nhà của cô rồi. Để gần nhau thì thương, mà xa nhau thì nhớ.

          Ánh trăng đêm ấy cho đến nay, lòng tôi vẫn ghi, thời gian không xoá mờ.

 

Chương 9 – Diễm Nguyệt

Ngày hôm sau thì Diễm Nguyệt về tới nhà, và chúng tôi bắt tay vào việc ngay. Từ nhiều tháng trước, gia đình bên nhà chồng tương lai của mấy đứa chúng tôi đã định ngày cưới, và sính lễ đầu tiên cũng đã được gửi sang cho chúng tôi, những món chính là bánh và thịt heo quay, cùng những rương gỗ dùng để đựng quần áo và vật dụng cá nhân mà chúng tôi phải may và làm ngay từ bây giờ; và vải vóc cần thiết cũng được gửi đầy đủ.

          Trong gia đình, từ trước đến nay mẹ và thím tôi may quần áo cho cả nhà. Gần đây thì tôi và Diễm Nguyệt bắt đầu tập tành dệt vải. Dùng chữ “thủ công nghệ” thì đúng nghĩa hơn, vì công việc của chúng tôi đơn sơ lắm. Cha và chú tôi trồng bông gòn và đàn bà trong nhà phải đi hái gòn về dệt vải. Ngay cả sáp ong để in hình trên vải, chúng tôi cũng phải dùng dè xẻn lắm.

          Thật là ngược đời, khi tôi nhận ra sự khác biệt giữa những quần áo cưới của tôi và những quần áo hay những trang sức cài tóc mà Tuyết Hoa thường mặc. Những món sính lễ nhà chồng tương lai của tôi gửi sang được may cắt khéo léo bằng những loại lụa là thanh lịch nhất; trong khi những bộ quần áo mà tôi hằng chiêm ngưỡng Tuyết Hoa mặc từ trước đến giờ thì lại may bằng loại lụa chàm, với những nét thêu vẽ phức tạp và đường nét may cắt có một không hai, so với trang phục của những người đàn bà có chồng ở Phủ Quỳ. Thế mà Tuyết Hoa vẫn mặc một cách nâng niu, quý hoá cho đến khi cũ. Điều mà tôi muốn nói là những quần áo của Tuyết Hoa đã gợi ý để tôi may cho chính tôi những bộ áo mà tôi sẽ mặc thường ngày khi tôi sẽ sang sống với bên nhà chồng ở làng Cự Tống.

          Loại vải bông mà nhà chồng tôi gửi sang cũng là loại thượng hảo hạng mà tôi chưa từng thấy, sờ vào thật mịn màng, sợi dệt dầy mà mịn, màu nhuộm thấm sâu vào vải rất được yêu chuộng. Khi nhận được món quà như vậy, tôi hiểu là tôi còn nhiều thứ phải học hỏi thêm nữa. Nhưng các xấp vải bông này vẫn chưa thấm thía gì so với các xấp tơ lụa đi kèm, đẹp toàn hảo độc nhất vô nhị về cả mầu sắc lẫn phẩm chất. Nào là lụa đỏ, để may áo cưới nhưng cũng có thể may áo dùng vào dịp lễ Tết, hay sinh nhật; rồi lụa tím nhạt và xanh lá cây, rất thích hợp cho vợ chồng son; màu xanh xám của nền trời trước khi có bão; màu xanh hồ thủy của mặt hồ êm ả mùa hè, dùng để mặc sau này khi tôi sẽ trở thành gia trưởng; hay trở thành goá phụ. Những xấp khác màu đen hay xanh dương xậm để may cắt cho đàn ông bên nhà chồng tương lai. Có xấp trơn, có xấp thì có vân như mây, hoặc dệt hình bông mẫu đơn, hay chữ Song Hỷ.

          Nhưng còn khuya mà tôi mới được toàn quyền sử dụng các xấp vải bông hay lụa là đó; mà tôi phải dùng để thêu may trang phục và các vật dụng cá nhân để mang về nhà chồng; cũng y như Tuyết Hoa và Diễm Nguyệt cũng nhận được những sính lễ của họ. Chúng tôi phải may thành những tấm chăn bông, áo gối, hài, và những trang phục linh tinh đủ dùng cho đến hết cuộc đời. Theo truyền thống trong vùng của chúng tôi, thì sau khi lấy chồng rồi, nhà chồng sẽ không cho chúng tôi cái gì nữa.

          Cái việc khó nhọc nhất và mất nhiều thì giờ nhất là làm những chiếc chăn bông dày xù xụ. Lâu ơi là lâu! Thế nhưng, theo ngạn ngữ thì càng mang sang nhà chồng nhiều chăn bông bao nhiêu thì càng hy vọng sanh con nhiều bấy nhiêu. Thế nên, chúng tôi cứ phải ra sức mà may!

          Thích nhất là may những đôi hài. Chúng tôi phải thêu may hài cho chồng tương lai, cho cha mẹ chồng và tất cả mọi người bên gia đình nhà chồng: anh, chị em chồng, chị em dâu chưa kể con cái. Phần tôi thì thật may mắn vì chồng tương lai của tôi là con cả, anh lại chỉ có ba người em trai chưa có vợ thôi. Giầy của con trai thì không cần trang điểm cầu kỳ cho lắm, nên tôi không mất nhiều thì giờ.

          Trái lại, Diễm Nguyệt thì cực hơn tôi: chồng tương lai của em là con trai duy nhất, nhưng ngoài cha mẹ chồng thì gia đình chồng em còn có năm chị em gái, cậu mợ cùng ba người con. Thôi thì mặc sức mà may!

          Chúng tôi cũng phải tự may cho mình mười sáu đôi giầy, tính ra là mỗi mùa bốn đôi để thay đổi. Tất cả phải được chăm chú từng li từng tí một, từ lúc may cắt đế giầy đến những mũi thêu cuối cùng. Làm một đôi giầy chính là dịp cho chúng tôi thi thố tài khéo léo, từ kỹ thuật đến mỹ thuật. Đây cũng là một niềm hy vọng. Tiếng địa phương của chúng tôi, chữ “giầy” và chữ “con” cùng phát âm một cách như nhau. Cũng giống như chăn bông, càng may được nhiều giầy bao nhiêu thì càng hy vọng con cháu đầy đàn. Sự khác biệt là khi may giầy đòi hỏi sự tỉ mỉ và chính xác, trong khi chăn bông thì chỉ cần bền bỉ và nghị lực.

          Ba đứa: tôi, Tuyết Hoa và Diễm Nguyệt làm việc bên nhau nên cạnh tranh dữ lắm, xem ai làm được những đôi giầy tuyệt hảo nhất, thêu thùa đẹp nhất mà lại phải bền và chắc nữa.

          Gia đình chồng gửi sang cho chúng tôi những mẫu đế giầy. Chúng tôi chẳng ai thấy mặt chồng tương lai ra sao. Mặt mũi anh ta duyên dáng thế nào, hay là mặt rỗ như chằng? Thế nhưng, chúng tôi lại biết anh ta mang giầy số mấy! Chúng tôi là những cô gái lãng mạn, biết bao điều chúng tôi có thể tưởng tượng được về người chồng tương lai, qua những chiếc đế giầy đó. Nếu có cô nào tưởng tượng đúng về ông chồng, thì cũng có những cô gặp thực tế chẳng hề giống như mơ!

          Chúng tôi dùng những mẫu đó để đo cắt đế giầy, cứ từng ba miếng một, để một hồi dán chung lại với nhau, rồi hong ở thành cửa sổ cho khô. Cuối cùng, chúng tôi dùng kim chỉ may chúng dính lại với nhau. Thông thường, người ta thêu ở hai bên cạnh giầy những nét thêu hình hạt gạo; nhưng chúng tôi muốn gây thiện cảm với gia đình nhà chồng nên đã thêu những hình khác nhau cho mỗi người: con bươm bướm xòe cánh cho chồng, đóa hoa cúc cho mẹ chồng, con dế đậu trên cành cho bố chồng. Tất cả công việc đó bắt đầu từ những chiếc đế giầy giản dị. Nhưng đối với chúng tôi thì đó là tất cả chân tình, là những thông điệp gửi đến những người mà chúng tôi hy vọng sẽ đón nhận và thương yêu chúng tôi khi chúng tôi bước chân về bên ấy.

          Chúng tôi ngồi thêu may như thế trong cái không khí oi bức đến ngạt thở của dịp lễ Đợi Mùa năm ấy, trên căn Nữ phòng ở tầng trên. Dưới nhà thì lại còn nóng khủng khiếp hơn. Chúng tôi uống trà luôn miệng để giải khát. Dù đã mặc những quần áo mỏng và nhẹ nhất, chúng tôi cũng muốn chết đi được vì nóng, khiến chúng tôi thèm ôn lại những kỷ niệm thời thơ ấu trong những ngày mát mẻ đẹp trời. Tôi kể lại hôm tôi đi dạo với đôi chân không mang giầy ở bờ sông, thả hai bàn chân xuống làn nước mát rượi. Diễm Nguyệt thì thuật lại một lần em chạy băng qua cánh đồng vào một ngày cuối thu, khi gió heo may phớt hồng đôi má. Tuyết Hoa nhớ lại ngày xưa cùng cha cô đi lên miền Bắc và đã thấm thía cái lạnh băng giá của Mông Cổ. Nhưng càng nói, thay vì để đỡ nóng, thì lại làm cho mọi người càng điên lên thêm.

          Cha và chú tôi thấy thế thương hại cho chúng tôi. Cha và chú cả ngày làm việc ngoài trời rồi, nhưng chúng tôi thì khác. Tối ngày chui rúc trong căn phòng nóng như thiêu, chẳng có được mảnh sân có mái, hay một mảnh đất có bóng cây để chúng tôi có thể ra ngồi ngoài trời mà không bị ai dòm ngó. Thay vào đó, cha đã dùng quần áo cũ rách, cùng với chú tôi dựng cho chúng tôi một cái vòm, dưới đất thì trải một tấm chăn lót bông để chúng tôi có thể ngồi. Cha nói:

          - Ban ngày thì đàn ông ra đồng làm việc cả rồi, không sợ ai nhìn thấy các con. Trong khi chờ thời tiết mát hơn, thì các con, cả ba đứa có thể tạm ra đây ngồi hứng gió. Nhưng nhớ là không có một lời nào cho mẹ các con biết chuyện này!

          Chúng tôi cảm ơn cha vô ngần. Diễm Nguyệt thỉnh thoảng còn được thím tôi cho em đi bộ sang nhà các chị em nuôi của em ở đầu làng. Chứ còn tôi, từ những ngày còn thơ ấu đến nay, tôi không có dịp hít thở không khí ngoài trời trên những con đường làng Phủ Quỳ. Thỉnh thoảng lắm tôi mới được thò mặt ra ngoài để leo lên chiếc kiệu của bà Quảng hay là chạy ra vườn hái rau cho mẹ làm cơm. Còn ngoài ra, thì tôi chỉ được ngắm nhìn cảnh vật bên ngoài và con đường trước nhà qua chấn song cửa sổ trên phòng. Và đã lâu lắm rồi, tôi không được hít thở không khí làng mạc.

          Ngồi đây, tuy là vẫn còn nóng lắm, nhưng thật là thích. Dưới bóng mát, hưởng chút không khí trong lành vào những ngày lễ còn lại, chúng tôi cùng nhau hoàn tất việc thêu thùa. Diễm Nguyệt bị thu hút vào đôi giầy cưới màu đỏ của em, đôi giầy đẹp nhất trong những đôi mà em phải làm, với những nét thêu hoa sen trắng xen lẫn màu hồng nhạt đang nở rộ, biểu hiệu cho sự thanh khiết và phong phú. Bên cạnh em, trên chiếc chăn bông, là đôi hài bằng lụa xanh có điểm mây trắng, mà em vừa thêu xong cho mẹ chồng. Tôi nhìn đôi hài xanh mà thật sung sướng, có lẽ nó nhắc tôi nhớ lại bộ quần áo mà Tuyết Hoa đã mặc trong lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau.

          Tôi nhìn sang Tuyết Hoa. Cô không phải là người hoài niệm quá khứ đâu. Tay cô thoăn thoắt đã làm sang đôi hài kế tiếp rồi, đôi hài cho chính cô, lần này thêu bằng chỉ tím nhạt xen lẫn trắng, những chữ tượng trưng cho con cái đông đúc. Tuyết Hoa có thói quen hay tìm những hình ảnh trên trời để làm mẫu thêu. Đàn chim tung cánh trên nền trời lần lượt hiện lên dưới những mũi thêu li ti tỉ mỉ của Tuyết Hoa.

          Còn tôi? Tôi đang cặm cụi thêu đôi hài cho mẹ chồng. Chân của bà hơi nhỉnh hơn chân tôi một tí, điều này khiến tôi hãnh diện lắm với cái ý nghĩ rằng bà phải nhận thấy rằng tôi thật xứng đáng về làm vợ của con trai bà, nhờ đôi bàn chân bé tí bé tẹo xinh xắn của tôi. Tôi chưa bao giờ được diện kiến mẹ chồng, cũng chẳng biết sở thích của bà ra sao, nhưng trong mấy ngày hè nóng như thiêu này tôi hoàn toàn bị ám ảnh bởi sức nóng khủng khiếp, cho nên tôi thêu lên đó một nhóm đàn bà con gái đứng hóng mát dưới rặng liễu xanh rì, bên bờ nước. Đó chỉ là sự tưởng tượng của tôi thôi, nhưng ít ra cũng đỡ vô lý hơn những cánh chim huyền hoặc mà Tuyết Hoa đang thêu bên cạnh tôi.

          Thật là một hình ảnh đẹp, ba đứa chúng tôi ngồi xếp chân trên chiếc chăn bông, ba cô gái nhỏ hứa hẹn sẽ được gả vào những gia đình tốt, đang quây quần vui vẻ thêu may quần áo cho ngày cưới, đang khoe khoang công dung ngôn hạnh với đám trai làng. Vài cậu con trai đi nhặt củi hay dắt trâu ra bờ sông cũng ngừng lại trò chuyện với chúng tôi. Vài cô gái nhỏ, cõng em trên lưng, dừng chân lại và cho chúng tôi bế em bé trong giây lát, chúng tôi đang tập tành để sau này bế con của chính mình đó mà. Có vài bà góa đi qua cũng đứng lại hỏi han, xem những nét thêu thùa, rồi trầm trồ khen nước da trắng của chúng tôi.

          Đến ngày thứ năm, bà Cựu ghé qua nhà chúng tôi. Bà vừa từ làng Tân Nghệ trở về, sau khi sang đó để làm một cuộc mai mối. Chúng tôi có gửi bà đem một lá thư cho chị hai của tôi, tiện thể trên đường về, bà lại nhận lá thư trả lời của chị hai nhờ đem về cho gia đình. Cả ba đứa chúng tôi đều chẳng ưa gì bà Cựu, nhưng chúng tôi được giáo dục là phải quý trọng người già cả, nên chúng tôi ngỏ lời mời bà dùng trà, nhưng bà từ chối. Bà thừa biết rằng chẳng kiếm chác tiền nong gì nơi chúng tôi được, nên bà chỉ đưa lá thư cho tôi rồi lên kiệu đi thẳng. Chúng tôi dõi mắt nhìn theo cho đến lúc chiếc kiệu khuất hẳn ở góc đường. Tôi dùng cây kim trên tay cậy chiếc phong bì chị hai đã dán bằng cơm nát, trong đó chị hai viết cho chúng tôi bằng Nữ tự:

         

          "Em Bạch Huệ yêu dấu

          Gia đình yêu dấu,

          Hôm nay con cầm cọ viết thư này mà lòng tràn ngập nhớ thương về nhà cũ.

          Biết bao điều con muốn viết cho gia đình, cho cha mẹ yêu quí, cho chú thím của con.

          Nghĩ đến những ngày tháng cũ, con không sao cầm được nước mắt. Từ ngày lìa xa tổ ấm, đời con chỉ còn là buồn thảm.

          Bây giờ, đứa con trong bụng con đã lớn lắm rồi, và mấy hôm nay ở đây nóng kinh khủng lắm.

          Mẹ chồng của con thật dữ dằn, con phải làm hết công việc nhà. Trời lại nóng, con thật không khỏe.

          Em gái yêu, em họ Diễm Nguyệt! Các em phải chăm sóc cho cha mẹ nhé. Chúng ta là con gái, chỉ biết cầu mong cho cha mẹ trường thọ mà thôi. Như thế, chúng ta mới mong còn mái ấm gia đình để thỉnh thoảng được về trong những dịp lễ Tết.

          Trong làng ta, vẫn luôn có những người biết thương yêu ta. Chị mong các em chăm sóc cho cha mẹ thật tốt.

          Con gái của cha mẹ,

          Cháu của chú thím,

          Chị của các em"

 

          Đọc xong lá thư, tôi nhắm mắt lại, chìm đắm trong suy tư. Tôi được hưởng những điều may mắn, hạnh phúc; còn nước mắt thì chị hai phải chịu. Tôi thật mừng là phong tục bắt chúng tôi sau khi lấy chồng phải trở về nhà cha mẹ ruột đợi cho đến khi sanh đứa con đầu lòng rồi mới được sang ở hẳn bên nhà chồng. Còn hai năm nữa mới đến ngày cưới của tôi, và ai biết còn bao nhiêu năm sau đó nữa, tôi mới phải sang ở hẳn bên chồng?

          Tôi choàng tỉnh cơn mơ vì một tiếng kêu thảng thốt. Tôi mở mắt và nhìn sang Tuyết Hoa. Nét mặt cô thật kinh ngạc, đưa tay chỉ về phía bên phải. Tôi nhìn theo ngón tay của Tuyết Hoa: em họ Diễm Nguyệt đang đưa tay lên cổ và trông có vẻ như đang thở một cách mệt nhọc lắm.

          - Chuyện gì vậy? Tôi hỏi.

          Ngực của Diễm Nguyệt lõm hẳn xuống, thở phập phồng, trong khi em cố hết sức để nuốt chút không khí, miệng kêu lên những tiếng thảm thiết mà tôi không bao giờ quên được: "ặc, ặc, ặc, ặc…".

          Đôi mắt đẹp của em giương lên, nhìn tôi cầu cứu. Tay em bất động, co quắp lại trên cổ, mà cũng không buồn nhấc tay ra. Em vẫn ngồi trên đôi chân gấp lại, trong tư thế của cô gái nhỏ đang ngồi thêu dưới bóng cây trong một ngày trời nóng, chiếc giầy đang thêu dở đặt trên đùi. Nhưng tôi nhìn thấy rất rõ, cổ em đang sưng vù lên.

          - Tuyết Hoa! Chạy đi kêu cứu mau! Tôi hốt hoảng kêu. Đi gọi cha và chú tôi về ngay. Mau!

          Trong khoé mắt, tôi thấy Tuyết Hoa co giò chạy trên đôi chân bé tí xíu của cô. Nàng tiểu thư Tuyết Hoa, mà tôi chưa từng nghe cô lớn tiếng bao giờ, đang vừa chạy vừa kêu gào inh ỏi:

          - Cấp cứu! Cấp cứu!

          Tôi trườn mình về phía Diễm Nguyệt và nhận ra một con ong vò vẽ đang giẫy giụa trên chiếc hài mà Diễm Nguyệt vừa thêu xong. Chắc hẳn là cái ngòi chích của nó đã cắm sâu vào cổ họng của em họ tôi. Tôi nắm chặt tay em trong tay tôi. Diễm Nguyệt há miệng ra để thở. Lưỡi của em xưng phồng lên to gấp ba lần bình thường làm em nghẹt thở.

          - Chị phải làm sao bây giờ? Tôi hỏi. Em có muốn chị bứt cái vòi hút của con ong ra không?

          Cả hai chúng tôi đều hiểu rõ là đã quá muộn rồi.

          - Em có muốn uống nước không? Tôi lại hỏi.

          Diễm Nguyệt đã không thể trả lời tôi nữa. Mỗi hơi thở của em là cả một sự cố gắng.

          Tôi vẫn nghe tiếng Tuyết Hoa đang gào thét đâu đó trong làng:

          - Bác ơi! Chú ơi! Anh cả ơi! Mau lên, làm ơn giúp chúng con!

          Mấy đứa con trai mấy ngày hôm nay vẫn ngừng lại nói chuyện với chúng tôi, giờ đang bu quanh chiếc chăn bông, há hốc miệng nhìn Diễm Nguyệt với chiếc cổ, lưỡi, mí mắt, và đôi tay xưng vù khủng khiếp. Nước da của em, thường ngày đã trắng như ánh trăng, như tên của em, bây giờ chuyển sang màu hồng, đỏ dần lên rồi lại chuyển thành tím ngắt, giống như một người trong truyện ma. Mấy bà góa đi ngang thấy thế lắc đầu thương hại.

          Diễm Nguyệt đưa mắt nhìn tôi. Tay em đã xưng to, mấy ngón tay to như những cái xúc xích, da thịt cứng lại, căng lên như muốn vỡ tung ra. Tôi vuốt ve cổ tay khổng lồ của em.

          - Diễm Nguyệt, nghe chị nói đây, - tôi nài nỉ. Cha em sắp về rồi, em ráng chờ, chị xin em, chị năn nỉ em. Cha em thương em, ai cũng thương em cả. Diễm Nguyệt, em có nghe không?

          Mấy bà già bắt đầu khóc và đám trẻ đứng sát vào nhau. Không khí trong làng thật nặng nề. Ai trong chúng ta chưa từng thấy người chết chứ? Nhưng thật hiếm khi thấy một người biểu lộ sự can đảm phi thường vào những giây phút cuối.

          - Em là một người em thật tốt của chị. Chị lúc nào cũng yêu quí em hết lòng và chị sẽ tưởng nhớ đến em suốt đời.

          Diễm Nguyệt lại cố thở lần nữa, hơi thở nặng nề rít lên như một cánh cửa đã hen rỉ kêu cọt kẹt. Nhưng em không còn nuốt được chút không khí nào nữa cả.

          - Diễm Nguyệt ơi!

          Hết rồi! Hết thật rồi. Đôi mắt em chỉ còn là hai cái khe nhỏ trên khuôn mặt đã biến dạng. Nhưng qua ánh mắt của em nhìn tôi ban nãy, em không hề mất đi sự minh mẫn. Em nghe rõ những gì tôi nói. Trong những giây phút cuối, tuy rằng em không thở, không hít được một chút không khí nào nữa, mà tôi vẫn có cảm tưởng là em đang nhắn nhủ tôi biết bao nhiêu lời thương yêu: "Nói với mẹ rằng em thương mẹ. Nói với cha rằng em yêu cha. Nói với hai bác rằng em cảm ơn tất cả những gì hai bác đã làm cho em. Và đừng ai đau lòng vì em.". Rồi đầu em ngả về phía trước và gục xuống ngực.

          Không một người nào phản ứng gì cả. Tất cả chung quanh đều bất động, như phong cảnh trên đôi giầy đang thêu dang dở của tôi. Chỉ có vài tiếng nức nở chứng tỏ rằng nơi đây vừa xảy ra sự gì bất thường.

          Chú tôi hấp tấp chạy trên con đường nhỏ, rẽ đám người để chạy về phía chúng tôi ngồi. Khuôn mặt Diễm Nguyệt thật thanh thản khiến chú tưởng còn chút hy vọng. Nhưng nhìn nét mặt của tôi, cũng như nét mặt của tất cả những người chung quanh, ảo tưởng của chú hoàn toàn tan biến. Chú thốt lên một tiếng kêu thảm thiết và té quỵ xuống trên hai đầu gối. Khi nhìn thấy khuôn mặt của Diễm Nguyệt, chú lại càng gào khóc dữ dội hơn nữa. Đám con nít thấy thế bỏ chạy. Chú thở hổn hển sau một ngày làm việc mệt nhọc, lại vừa chạy hộc tốc về đây, nên mồ hôi nhễ nhại. Nước mắt chú tuôn ra chảy dài xuống má, xuống cằm, trước khi hòa lẫn với mồ hôi trên chiếc áo chú đang mặc.

          Cha tôi cũng vừa chạy về tới, vào ngồi cạnh tôi. Không bao lâu, anh cả rẽ đám đông, mệt đứt hơi vì vừa chạy vừa cõng Tuyết Hoa trên lưng.

          Chú tôi không ngừng gọi Diễm Nguyệt:

          - Dậy đi con, con gái yêu của cha. Dậy đi. Cha sẽ đi gọi mẹ về. Mẹ cần có con. Dậy đi, cha van con!

          Cha tôi kéo tay chú:

          - Chỉ vô ích thôi.

          Chú tôi tuyệt vọng, gập người lại trong tư thế như Diễm Nguyệt: đầu cúi về phía trước, hai tay đặt trên đầu gối, hai chân quỳ gập lại. Trông chú y hệt như Diễm Nguyệt lúc này, chỉ khác là những giòng lệ đang chảy dài trên đôi mắt, và thân hình run rẩy đau đớn không thể nào kiềm chế được.

          - Em muốn bồng nó vào hay là để anh? Cha tôi hỏi.

          Chú tôi lắc đầu không nói tiếng nào, chú ngồi thẳng lên, chống tay xuống đất làm điểm tựa rồi đứng lên, bế Diễm Nguyệt vào nhà. Tất cả chúng tôi đều bối rối đến nỗi không biết phải làm gì nữa. Chỉ có Tuyết Hoa là còn giữ được chút bình tĩnh. Cô đi thẳng vào phòng chính, dẹp mấy chén đĩa mà chúng tôi bày sẵn ra bàn để chờ cả nhà về ăn cơm. Chú tôi đặt Diễm Nguyệt lên bàn. Bây giờ, tất cả mọi người đều nhìn thấy rõ chất nọc độc đã tàn phá gương mặt và thân thể của em đến thế nào. Tôi không ngừng tự nói với tôi: trời ơi! Tất cả những chuyện kinh khủng này, chỉ vừa xảy ra cách đây năm phút ngắn ngủi mà thôi!

          Một lần nữa, Tuyết Hoa lại chủ động sắp xếp công việc:

          - Cháu xin lỗi, nhưng bây giờ còn phải lo những chuyện khác nữa.

          Chú tôi hiểu ra rằng cần phải báo tin cho thím tôi biết về cái chết của Diễm Nguyệt, chú lại khóc nấc lên. Tôi cũng khó lòng mà tưởng tượng thím tôi sẽ ra sao khi hay tin này. Diễm Nguyệt là tất cả hạnh phúc của chú thím. Chuyện vừa xảy ra đột ngột quá khiến tôi không kịp biểu lộ cảm xúc nào cả. Nhưng lúc này, nước mắt tôi tự dưng tràn ra, đau đớn vì mất đi Diễm Nguyệt, lại vừa xúc cảm vì nghĩ tới chú thím tôi. Tuyết Hoa quàng tay qua vai tôi, dìu tôi lại chiếc ghế dài, rồi bắt đầu phân công:

          - Anh cả! Anh chạy ngay sang làng của thím! Em còn chút tiền đây, anh hãy dùng để thuê một chiếc kiệu đưa thím về. Rồi anh chạy ngay sang làng bên kiếm mẹ anh về. Anh phải cõng bà như hồi nãy anh cõng em vậy. Có thể là em trai út sẽ phụ giúp anh được phần nào. Nhưng phải nhanh lên nhé. Thím rất cần có mẹ anh bên cạnh.

Giờ này, chúng tôi chỉ còn biết đợi mà thôi. Chú tôi cứ ngồi cạnh bàn, khóc đến nỗi nước mắt chú thấm ướt cả chiếc áo Diễm Nguyệt đang mặc trên người. Cha tôi cố gắng an ủi chú, nhưng sự đau thương của chú đã không có gì an ủi được. Những ai cứ nói là trong giòng họ Chu, con gái chỉ là một gánh nặng cho gia đình là nói láo! Không ai phủ nhận là chúng tôi chẳng có giá trị gì, nuôi lớn chỉ làm lợi cho gia đình khác. Nhưng dù sao, chúng tôi cũng được yêu thương chứ. Nếu không, tại sao trong Nữ tự, thường có những câu như: "tôi như hạt ngọc trong lòng bàn tay cha"? Khi đến phiên chúng tôi có con, chúng tôi cũng cố gắng không gắn bó nhiều với con gái, tôi cũng làm như thế với con gái của tôi, nhưng làm sao mà được chứ? Tôi cũng cho nó bú sữa tôi như tôi đã nuôi các con trai tôi. Nó không ngừng xà tới ngồi lên đầu gối của tôi thì thầm to nhỏ, và nó cũng làm tôi hãnh diện khi ngày nào đó nó trở thành một người đàn bà đảm đang, nhất là lại thành thạo Nữ tự. Giây phút này, chú tôi vừa vĩnh viễn mất đi hòn ngọc bé nhỏ của chú.

          Tôi nhìn khuôn mặt của Diễm Nguyệt mà nhớ lại là chúng tôi đã gần gũi nhau đến thế nào. Đôi chân của hai đứa tôi được băng cùng ngày. Chúng tôi được mai mối vào cùng một làng. Nhưng bây giờ, bây giờ… xa nhau vĩnh viễn rồi!

          Chung quanh chúng tôi, Tuyết Hoa đang lụi hụi pha trà, nhưng chả ai buồn uống. Tiếp theo đó, cô đi quanh nhà, lục lọi vải toan trắng để làm áo tang, đem đến cho chúng tôi. Khi hàng xóm láng giềng hay tin, chạy sang thăm hỏi, thì cũng chính Tuyết Hoa đứng ngoài cửa đón khách. Bà Quảng ngồi kiệu đến, Tuyết Hoa ra tận cửa mời bà vào nhà. Tôi cứ ngỡ rằng bà sẽ cằn nhằn vì mất đi một mối hàng, nhất là mất đi cái thù lao mai mối bấy lâu nay của bà, nhưng trái lại bà lại hỏi rằng bà có thể giúp gì cho chúng tôi không? Tương lai của Diễm Nguyệt đã từng do bà một tay sắp xếp, mai mối; bà tự cảm thấy phải có mặt trong những giây phút cuối cùng này. Tuy vậy, bà cũng phải giật lùi lại một bước khi khám phá ra những ngón tay xưng vù và khuôn mặt đã biến thành dị hình của em. Thêm vào đó, trời nóng quá, trong nhà chúng tôi lại chẳng có chỗ nào mát hơn để đặt em nằm.

          - Còn bao lâu nữa thì mẹ của cô ấy về? Bà Quảng hỏi.

          Làm sao chúng tôi biết được? Bà Quảng gọi:

          - Tuyết Hoa, cháu lấy voan trắng phủ lên mặt của Diễm Nguyệt đi, và mặc quần áo tẩm liệm cho cô ấy. Nhanh tay lên, không có người mẹ nào chịu đựng được khi nhìn thấy con gái trong tình trạng như thế này.

          Tuyết Hoa dợm bước quay lên lầu, nhưng bà Quảng níu tay áo cô lại:

          - Khoan! Ta sẽ về Cự Tống đem quần áo liệm sang đây, - bà nói, còn cháu, không được bước chân ra khỏi cửa cho đến khi ta cho phép, nghe chưa?

          Bà buông tay Tuyết Hoa ra, quay lại nhìn Diễm Nguyệt lần nữa rồi quay gót.

          Khi thím tôi về tới thì cha, chú tôi, và mấy anh em tôi đã mặc sẵn  quần áo trắng. Thi thể của Diễm Nguyệt đã được quấn trong làn voan trắng và đã mặc xong áo liệm để chuẩn bị chuyến đi về trời. Bao nhiêu là lệ đã nhỏ ra trong ngày hôm ấy, nhưng riêng thím tôi thì đôi mắt khô cạn. Thím chập choạng đi đến bên Diễm Nguyệt, vuốt ve nếp áo của em và đặt tay lên chỗ trái tim em đã từng đập, cứ thế hết giờ này sang giờ khác.

          Thím tôi theo đúng thủ tục mai táng. Thím quỳ xuống trước mộ, đốt vàng mã và quần áo cho Diễm Nguyệt dùng ở thế giới bên kia. Tất cả những sách vở mà em viết bằng Nữ tự, thím tự tay đốt theo em. Trong nhà, thím đặt một cái bàn thờ nhỏ, ngày ngày cúng bái. Thím không bao giờ khóc trước mặt chúng tôi. Nhưng suốt cuộc đời của tôi, không bao giờ tôi quên được tiếng nức nở thổn thức của thím khi đã vào giường, lúc màn đêm buông xuống. Những tiếng khóc phát xuất từ tận tâm hồn đau khổ của thím. Không ai trong nhà ngủ được, nhưng cũng không ai dám an ủi thím, vì biết rằng chỉ cần thím nhìn thấy hay nghe thấy chúng tôi thôi, thì thím lại đau lòng nghĩ đến đứa con đã mất.

          Buổi sáng, khi đàn ông trong nhà ra đồng rồi, thím rút vào phòng và không trở ra nữa; cứ nằm quay mặt vào tường, không ăn uống gì ngoài chén cơm mà mẹ tôi bới cho thím. Thím cứ nằm bất động như thế, không nói không rằng cho đến khi đêm xuống, khi mọi người an giấc hết, mới lại nức nở than van những tiếng nát lòng.

          Người ta nói rằng một phần linh hồn của người chết sẽ về trời, phần còn lại vẫn quanh quẩn vương vấn với gia đình. Nhưng đặc biệt trong làng tôi thì người ta lại tin rằng đối với những cô gái chưa chồng chết trẻ thì ngoại lệ, họ tin rằng cô gái sẽ về tìm gặp những cô gái chưa chồng khác, không phải để dọa cho sợ, mà để rủ cùng đi với nhau về trời cho có bạn. Cái cách  mà Diễm Nguyệt cứ quanh quẩn trong nhà mỗi đêm, như thể đang nhập vào thím tôi để thốt lên những tiếng nấc nghẹn ngào, những tiếng kêu than thảm thiết như vang lên từ đáy mồ, cho thấy chúng tôi, tôi và Tuyết Hoa, đang bị đe dọa.

          Một buổi sáng, Tuyết Hoa chợt nảy ra ý kiến:

          - Ta xây cho Diễm Nguyệt một mái chùa phủ đầy hoa.

          Đúng là thứ cần thiết để xoa dịu linh hồn của Diễm Nguyệt, để em có chỗ nương tựa và có thể thong thả dạo chơi theo ý thích. Và nếu em được sung sướng, điều đó có nghĩa là chúng tôi được bảo vệ, được an toàn.

          Những người giàu có thì nhờ những nơi chuyên làm những dịch vụ cho người chết để xây nhà, làm xe, làm kiệu giấy. Nhưng chúng tôi lấy đâu ra tiền. Tôi và Tuyết Hoa quyết định sẽ tự làm lấy. Chúng tôi làm một cái tháp cao nhiều tầng, lý tưởng là bảy tầng như một ngôi chùa thật, có hai con sư tử ngồi hai bên cửa chùa. Bên trong chùa, trên tường, chúng tôi nắn nót những bài thơ viết bằng ngôn ngữ bí mật của chúng tôi. Có riêng một tầng để nhảy múa, một tầng khác để tịnh tâm, nhập định, trên trần, chúng tôi vẽ hình trăng sao. Trên một tầng khác, chúng tôi làm nhái theo căn phòng Phụ nữ của gia đình tôi, với bốn bức tường và cửa sổ trông ra mặt đường, có chấn song làm bằng những thanh giấy cắt dài và hẹp, qua song cửa đó, có thể ngắm nhìn phong cảnh bên ngoài. Chúng tôi làm một chiếc bàn nhỏ, trên đó bầy những mẫu chỉ thêu mà Diễm Nguyệt ưa thích, có cả giấy mực và cọ nữa, để em có thể thêu thùa hay là viết Nữ tự cho những người bạn mới của em ở trên ấy. Ở mỗi tầng, chúng tôi đều cắt dán những hình người tượng trưng cho người giúp việc, người làm trò hề, v.v… để em không bao giờ thiếu thú tiêu khiển. Lúc nào ngừng tay để nghỉ ngơi thì hai đứa tôi cùng nhau hát những bài vè, bài thơ, để làm dịu linh hồn của Diễm Nguyệt. Mái chùa này được làm để vui lòng Diễm Nguyệt, và những lời ca tiếng hát như những lời vĩnh biệt gửi cho em.

          Lúc làm xong rồi, hai đứa chúng tôi xin phép được ra mộ của Diễm Nguyệt. Khoảng cách từ nhà ra mộ, so với quãng đồng mà Tuyết Hoa phải chạy hôm trước để đi tìm cha và chú tôi, thì ngắn hơn nhiều. Chúng tôi ngồi lặng yên trước mộ một hồi lâu trước khi Tuyết Hoa mồi lửa thiêu mái chùa vẽ đầy hoa. Nhìn ngọn lửa bùng bùng, tôi liên tưởng ngọn lửa ấy sẽ đem mái chùa đến cho Diễm Nguyệt ở trên trời, và em sẽ đi từ phòng nọ sang phòng kia, khám phá những tình tiết trong đó một cách thú vị. Tôi rút trong túi áo, lấy ra bài vè viết bằng ngôn ngữ bí mật của chúng tôi và cùng Tuyết Hoa cất giọng hát:

          « Diễm Nguyệt! Mong rằng cái chùa kết hoa này sẽ đem lại yên bình cho em.

          Mong rằng em sẽ sớm quên chúng tôi, nhưng chúng tôi thì sẽ không bao giờ quên em.

          Chúng tôi sẽ tưởng niệm em và sẽ đến thăm em vào ngày lễ Thanh minh.

          Đừng để những chuyện buồn quá khứ tràn ngập lòng em.

          Chúc em sống vui trong mái chùa đầy hoa này của em, của em đó… »

 

          Về đến nhà, chúng tôi lên lầu ngồi bên nhau viết lại bài vè đó vào chiếc quạt. Khi viết xong, tôi thêm vào bên phía trên của nếp quạt một mảnh trăng, vừa mỏng manh vừa kín đáo, như em lúc còn sống.

          Ngôi chùa đã có hiệu quả làm lắng dịu linh hồn đau khổ của Diễm Nguyệt, nhưng vẫn không làm cho chú thím tôi nguôi ngoai. Chúng tôi chỉ biết tin vào số mạng đã an bài cho mỗi người. Tất cả đều nằm trong cái vòng âm dương. Có đàn ông thì phải có đàn bà, có bóng tối thì có ánh sáng, có vui thì có buồn, có sinh thì có tử. Tất cả những sự kiện đó quân bình cho nhau. Cái giây phút hạnh phúc tuyệt vời mà tôi và Tuyết Hoa chia xẻ cho nhau vào những ngày đầu của mùa Lễ Đón Mùa đã được quét sạch đi một cách tàn bạo bằng cái chết bất ngờ của Diễm Nguyệt. Hai người đang sống hạnh phúc dưới mắt tất cả mọi người trong gia đình, bỗng dưng trở thành vô hậu, chỉ còn trông cậy vào lòng tốt của anh cả của tôi sẽ chăm sóc cho chú thím sau này khi cha tôi mất đi.

          Cứ tưởng tượng một gia đình đã không lấy gì làm khá giả như gia đình tôi, cộng thêm vào mấy cái đám cưới, thật là một gánh nặng, làm rối loạn cả sự thăng bằng của cái vũ trụ nhỏ bé của chúng tôi. Cho nên ông Trời đã sắp đặt mọi thứ lại một cách trật tự bằng cách lấy đi một cô gái trẻ có tấm lòng vàng. Sự sống không hiện hữu nếu không có cái chết. Đó chính là lý lẽ thật sự của luật âm dương.

Chương 10 - Kiệu Hoa

          Hai năm sau ngày em Diễm Nguyệt mất, mái tóc mà tôi phải búi từ lúc mười lăm tuổi, bây giờ được uốn chải theo kiểu “con rồng”, dành cho những cô gái sắp lấy chồng đến nơi.

          Gia đình nhà chồng của tôi lại gửi thêm quần áo mới sang cho tôi, một món tiền cho riêng tôi và một lô nữ trang vòng vàng: nào là nhẫn, dây chuyền, bông tai bằng cẩm thạch và bằng bạc.

          Cha mẹ tôi cũng nhận được ba mươi túi gạo nếp, để cho gia đình và khách khứa sẽ đến viếng thăm chúng tôi trong những ngày sắp tới. Thêm vào đó là nửa con heo quay, mà cha tôi đã chặt ra rồi giao cho anh cả và em trai út của tôi đi biếu cho bà con ở Phủ Quỳ. Tất cả dân làng đều được biết rằng đám cưới, thường thường kéo dài cả tháng, đã chính thức bắt đầu. Nhưng điều làm cho cha tôi vui sướng nhất, bằng chứng sự cố gắng của gia đình trong bấy lâu nay, bây giờ được gặt hái kết quả, đó là con trâu: món quà  quí giá khiến cho cha được coi như là ngang hàng với những người dân giàu có nhất trong làng.

          Tuyết Hoa sang nhà tôi trong suốt tháng đó, tháng Vu Quy. Suốt bốn tuần lễ đó, trong lúc tôi hoàn tất quần áo và những vật dụng cần thiết để đem sang nhà chồng, thì Tuyết Hoa giúp tôi đủ thứ chuyện, khiến chúng tôi càng ngày càng gần gũi nhau hơn. Cả hai chúng tôi đều có những ý nghĩ thật kỳ cục về hôn nhân và những bất ngờ đang chờ đón chúng tôi. Nhưng chúng tôi vẫn tin chắc rằng dù gì đi nữa, cũng không thể nào sánh được với giây phút hạnh phúc khi hai đứa tôi trong vòng tay nhau, hơi ấm, sự dịu dàng, mùi thơm trên da thịt khi chúng tôi quấn quít nhau. Không có gì làm phai lạt được tình thương yêu đó. Khi nghĩ đến ngày mai, chúng tôi vẫn tin chắc rằng tương lai vẫn dành cho chúng tôi những phút giây êm đềm ấy.

          Đối với chúng tôi, những ngày sửa soạn Vu Quy đó chỉ đánh dấu sự khởi đầu của một giai đoạn mới. Chúng tôi kết nghĩa từ mười năm nay rồi, và bây giờ chỉ là một sự biến chuyển theo chiều hướng mới. Hai ba năm nữa, khi tôi sang ở hẳn bên gia đình nhà chồng, lúc đó Tuyết Hoa chắc cũng sang nhà chồng của cô, thì chúng tôi lại có thể gặp gỡ nhau như xưa. Chồng của chúng tôi, ai cũng giàu có, chắc chẳng hẹp hòi gì mà không thuê kiệu cho chúng tôi được thăm viếng nhau.

          Vì tôi đã kết nghĩa với Tuyết Hoa, tôi không được quyền có nhóm chị em nuôi như những cô gái khác trong làng để quây quần bên tôi trong những ngày vui ấy; cho nên mẹ, thím, chị dâu của tôi, và chị hai tôi cũng về dù lúc ấy chị đang có bầu đứa con thứ nhì, cùng mấy cô gái lân cận đều sang để chia vui với tôi. Bà Quảng cũng năng sang nhà tôi hơn trước. Chúng tôi trao đổi nhau những câu truyện ưa thích, có khi một đứa trong đám chúng tôi xướng giọng hát để cả đám hòa theo. Có lúc chúng tôi thay phiên nhau ê a hát những ca khúc nói về đời sống thường nhật. Mẹ tôi, hài lòng về số phận của mình, bắt đầu bằng câu chuyện của nàng Hoa Nữ, trong khi thím tôi, chưa nguôi ngoai với cái tang lòng đau đớn, đã làm cả đám ngậm ngùi rơi lệ với những lời ca ai oán.

          Một buổi chiều, trong lúc tôi đang ngồi thêu nốt chiếc thắt lưng cho bộ áo cưới, thì bà Quảng giúp vui bằng câu chuyện “Bà vợ của ông Chu”. Bà bắc ghế ngồi cạnh Tuyết Hoa, lúc ấy đang say sưa viết lưu bút cho tôi trước ngày cưới. Theo lệ, tôi sẽ phải đọc những giòng lưu niệm này trước mặt gia đình nhà chồng, ba ngày sau khi cưới. Tuyết Hoa và Bà Quảng thì thầm trao đổi ý kiến với nhau, và thỉnh thoảng tôi nghe Tuyết Hoa trả lời: "được rồi, Dì” hay là “không được Dì ơi”. Cô luôn luôn dành cho bà mai này một sự cư xử rất nhẹ nhàng, mà tôi cũng đã ráng học theo cô mà chưa được.

          Khi bà Quảng nhận thấy chúng tôi đều ngóng cổ lên nhìn vào đôi môi của bà, chờ đợi thì bà ngồi sát vào chiếc ghế và bắt đầu câu chuyện. Trông bà càng ngày càng bệ vệ ra, cho nên bà lại càng phải làm ra vẻ ung dung, từ lời nói đến cử chỉ.

          “Ngày xưa, có một người con gái sùng đạo, không có nhiều triển vọng tương lai. Gia đình gả cô cho ông Chu, một người đồ tể. Đối với một người sùng kính Phật học như nàng, thì cuộc hôn nhân này thật bẽ bàng. Nhưng dù có sùng đạo đến đâu, thì cô ta cũng chỉ là một người đàn bà, cuối cùng thì cũng phải sanh con đẻ cái, và sanh được nhiều con trai nữa.

          Tuy vậy, vợ ông Chu không ăn thịt cá. Mỗi ngày, bà ta ngồi đọc kinh hàng giờ, nhất là kinh Kim Cang. Bà không ngừng khuyên ông Chu đừng giết thú vật nữa để tránh cái nghiệp xấu ở kiếp sau…”

 

          Như để trấn an Tuyết Hoa, bà Quảng đặt tay lên đùi cô. Tôi thấy cử chỉ ấy thật đáng ghét, nhưng Tuyết Hoa cứ để yên như thế.

          “Chồng bà ta phản ứng lại: gia đình anh đã làm nghề xẻ thú vật để bán thịt cha truyền con nối, đã bao nhiêu thế hệ rồi, - ông ta bảo vợ: bà cứ tiếp tục đọc kinh Kim Cang của bà đi. Kiếp sau bà sẽ được đền bù. Còn tôi? Để yên cho tôi giết thú vật để mua thêm ruộng đất. Tôi bằng lòng trả giá ở kiếp sau.

          Bà vợ ông Chu biết rằng số phận bà đã được Trời định như thế rồi, bà chấp nhận số kiếp. Nhưng ông chồng, muốn biết chắc rằng bà vợ có thật sự biết kinh Kim Cang là gì không, một hôm ông ta bắt bà phải đọc trước mặt ông, và ông nhận thấy bà đọc không sai một chữ! Từ đấy, ông Chu bằng lòng cho bà ở một phòng riêng, sống cuộc sống khổ hạnh cho đến hết cuộc đời.”

Bà Quảng ngừng lại giây lát và lại xoa xoa vào hông của Tuyết Hoa, trước khi đưa tay xoa lưng cô và kể tiếp:

         

          "Trong khi đó trên thiên đình, Ngọc hoàng sai các thiên thần xuống trần gian tìm kiếm cho ngài những người đức hạnh. Nhận thấy sự thanh khiết thuần lương của bà vợ ông Chu, các vị thần đã mời bà theo họ lên trời. Bà hiểu rất rõ ý nghĩa của lời mời ấy: có nghĩa là từ nay, bà sẽ phải lìa bỏ thế gian, xa rời cuộc sống. Bà nài nỉ xin được ở gần con cái, nhưng các vị thần đã không nhượng bộ. Bà Chu đành trăn trối xin chồng bước thêm bước nữa, và dặn dò con cái phải ngoan ngoãn vâng lời mẹ kế sau này. Nói xong, bà lăn xuống đất, chết ngay tại chỗ.

          Bà đã phải đi qua bao nhiêu cửa ải, gặp bao nhiêu ngục quan trước khi được gặp mặt Thiên hoàng. Ngài đã từng quan sát bà ta khi ở trần gian và khi qua bao nhiêu ngục ải, đã thấy sự thánh thiện và tội nghiệp của nàng. Ngài cũng làm như chồng của bà, bắt bà đọc kinh Kim Cang. Bà ta quên mất chín chữ trong đó, nhưng ngài rất hài lòng vì sự can đảm, lòng quả cảm của bà; nên đã cho phép bà trở lại trần gian, đầu thai vào kiếp khác, để tránh sự trầm luân khổ ải mà nàng đã phải chịu đựng trong kiếp trước.

          Bà Chu được đầu thai làm con trai một vị học giả, làm quan trong triều, nhưng tên thật của bà ở kiếp trước vẫn được khắc dưới lòng bàn chân.

          Kiếp trước, bà Chu đã sống một cuộc đời mẫu mực, nhưng chỉ là một người đàn bà. Kiếp này, bà là một thanh niên, bà đã xông pha, học hành đỗ đạt trong tất cả mọi kỳ thi của triểu đình, làm quan đến chức nhất phẩm, vừa vinh quang vừa phú quý. Tuy thế, bà vẫn nhớ nhung gia đình, con cái và tiếc nuối đã không được làm đàn bà nữa. Một hôm, bà yết kiến Hoàng đế, kể lể nỗi niềm của bà và xin được trở về làng cũ. Cũng giống như Thiên hoàng, vị Hoàng đế đã động lòng trước sự can đảm và chính trực của bà, nhưng hơn hết, ngài còn nhận ra một đức tính khác của nàng: sự chung thủy trong tình vợ chồng.

          Hoàng đế phong chức cho nàng về làm quan tại làng cũ, nơi chồng bà đang sinh sống, tại đó, nàng đã đạt được sự kính nể của tất cả dân làng. Trong một dịp toàn thể dân làng đã tụ họp để nghiêng mình chào đón bà, trước sự ngạc nhiên của mọi người, bà tháo giầy ra, chỉ vào lòng bàn chân, cho mọi người thấy tên thật của bà. Bà nói với chồng, - bây giờ đã già lắm rồi, là bà muốn được tiếp tục làm vợ của ông. Ông Chu cảm động đã cùng con cái đến trước mộ của bà và yêu cầu mở quan tài ra.

          Ngọc Hoàng thấy thế, đã ra lệnh cho tất cả gia đình ông Chu được lên sống trên Thiên đàng. Từ đó, gia đình bà được xum họp như xưa…"

 

          Tôi nghĩ rằng bà Quảng kể câu chuyện này để tôi đề phòng cuộc sống của tôi sau này. Có thể rằng chồng tôi và cả gia đình họ Lữ tuy là danh giá và được trọng vọng trong vùng, nhưng biết đâu đã có những hành vi tổn hại đến người khác, hay là sau này có thể không liêm khiết chăng? Hơn nữa, tôi biết rằng chồng tôi cầm tinh con Cọp, là dấu hiệu của một người dũng cảm, hăng say và nồng nhiệt. Biết đâu vì đó mà anh có khuynh hướng đi ra ngoài lề lối, hay tệ hại hơn nữa, là làm những việc trái với đạo lý? Có thể không tệ như làm ông đồ tể họ Chu trong chuyện, nhưng cũng không kém phần nguy hiểm? Còn tôi, cầm tinh con Ngựa, tôi có thể dẫn dắt chồng tôi đi theo con đường chính, như bà vợ ông Chu đã làm, dù rằng ông chồng bà ta không nghe lời bà, nhưng sự tội nghiệp, lòng can đảm và chính trực của bà cũng đã cứu ông Chu không bị trừng trị vì những việc làm không thánh thiện của ông, chưa kể là bà còn mang được cả gia đình lên chung sống trên cõi niết bàn. Còn tôi, một người sanh ra dưới tuổi Ngọ đâu lẽ nào lại cầm cương của chính mình để dẫn dắt chồng đi sai đường lạc lối chứ?

Trong đầu tôi, thì đó chính là ý nghĩa thật sự của câu chuyện "Bà Vợ Của Ông Chu" mà bà Quảng vừa kể. Trong tất cả những truyện mà tôi được nghe, theo tôi thì đây là một câu chuyện có hậu nhất, lại được kể trước ngày cưới của tôi có vài hôm, thì còn gì vui và hạnh phúc hơn chứ?

          Trong thời gian này, đầu óc của tôi bị chia trí lắm. Nghĩ đến lúc phải xa gia đình, tôi thật là buồn. Nhưng, cũng giống như cái thời gian mà tôi bị băng chân, tôi cố gắng vượt lên, không để cho những phiền toái nhất thời ảnh hưởng lâu dài, để nhìn xa hơn, như những ngày thơ ấu, tôi và Tuyết Hoa vẫn lén bà Quảng thò đầu ra ngoài cửa kiệu để ngắm phong cảnh xa xa bên ngoài. Tôi tin chắc rằng một tương lai phong phú, giàu có hơn đang chờ đợi tôi. Có lẽ đó cũng là đặc tính của tuổi con Ngựa, sẵn sàng tung vó khi người ta cởi sợi giây buộc nó. Và tôi lại thấy sung sướng ngay khi nghĩ đến việc sẽ được sống trong một khung cảnh mới. Tôi tin vào số mạng, nhưng cũng tin rằng con Ngựa, cũng như con người, không phải lúc nào cũng biết nghe lời! Chúng tôi nói một đàng làm một nẻo. Tim chúng tôi có thể nghĩ một điều, nhưng lại hành động một cách khác. Chúng tôi xem một vở kịch, mà không hiểu rằng cặp kính đã làm biến đổi cái nhìn của mình. Chúng tôi chạy trên đường, nhưng bất thình lình lại có thể bị thu hút bởi một con đường mòn, một dòng sông chẳng hạn.

          Tôi nghĩ rằng Tuyết Hoa cũng nghĩ như tôi. Nhưng những lúc gần đây, thái độ của Tuyết Hoa đối với tôi có vẻ bí ẩn. Đám cưới của cô sẽ được cử hành sau đám cưới của tôi một tháng, nhưng không thấy cô biểu lộ buồn vui hay kích thích gì cả. Trái lại, cô có vẻ thờ ơ, dửng dưng, ngay trong những lúc cùng chúng tôi hát hò, hay lúc ngồi nắn  nót viết lưu bút cho tôi. Tôi kết luận rằng có thể Tuyết Hoa lo âu hơn tôi về chuyện đám cưới và chuyện đêm tân hôn. Nhưng Tuyết Hoa nói trong lúc chúng tôi xếp chăn bông:

          - Chuyện đó không làm tôi sợ.

          - Tôi cũng thế, tôi trả lời.

          Tôi chỉ biết rằng khi đám cưới xong thì sẽ có chuyện gì sẽ xảy ra, nhưng không rõ ràng lắm. Và Tuyết Hoa học rộng hiểu nhiều hơn tôi, nhưng cũng chẳng giúp gì cho tôi về chuyện này. Chúng tôi hy vọng mẹ hay thím tôi, hoặc giả bà mai có thể dạy cho chúng tôi về chuyện này như đã dạy chúng tôi làm công việc nhà vậy.

          Thôi không nói chuyện này nữa. Bây giờ tôi nói về chương trình của tôi phải làm trong những ngày sắp tới. Thay vì, theo phong tục tôi sẽ phải trở về nhà mình sau khi đám cưới, thì bà Quảng và cha mẹ tôi đã sắp xếp cho tôi sang nhà Tuyết Hoa, - lần đầu tiên sau mười năm chúng tôi kết nghĩa, để cùng sửa soạn lễ Vu Quy cho cô, như cô đã làm cho tôi vậy. Đã mười năm rồi, tôi chờ đợi cái dịp được đặt chân vào nhà của Tuyết Hoa, sự chờ đợi này cũng làm tôi nôn nao còn hơn cả lúc tôi nghĩ đến việc sẽ gặp mặt chồng tương lai của tôi. Tôi đã nghe kể nhiều về gia đình, về nhà cửa của Tuyết Hoa, nhưng tôi lại không có ý niệm gì về chồng của mình hết. Thế nhưng sao Tuyết Hoa lại không có vẻ gì náo nức như tôi. Cô nói thật mông lung:

          - Một người bên gia đình chồng chị sẽ dẫn chị sang nhà tôi.

          - Chị có nghĩ rằng mẹ chồng của tôi sẽ cùng tôi đến nhà chị không trong dịp lễ Vu Quy không? - Tôi hỏi, nếu được thế thì sẽ thích lắm, tôi muốn được bà nhìn thấy tôi bên cạnh người chị em kết nghĩa của tôi.

          - Lữ phu nhân bận lắm, bà có biết bao bổn phận, nghĩa vụ, mà sau này chị sẽ là người phải lãnh.

          - Tóm lại, quan trọng nhất là được gặp mặt mẹ và chị cả của chị, còn ai nữa nhỉ?

          Trong đầu tôi, mẹ và thím tôi sẽ được mời trong những ngày sửa soạn đám cưới của Tuyết Hoa. Cô đã là một phần tử của gia đình tôi, như thế Tuyết Hoa đâu thể nào không mong muốn sự có mặt của mẹ và thím chứ?

          - Bà Quảng sẽ có mặt, - Tuyết Hoa nói.

          Dĩ nhiên là bà mai sẽ phải có mặt trong dịp lễ sửa soạn Vu Quy cho cô dâu chứ, như bà đã có mặt trong dịp lễ của tôi. Đối với bà Quảng, thì hai đám cưới của chúng tôi là công lao của bà bấy lâu nay, tiền thù lao bà sẽ nhận đâu phải nhỏ. Làm sao mà bà có thể bỏ qua dịp xuất hiện để chứng tỏ với các bà mẹ khác, cũng như với các khách hàng tương lai của bà về tài năng mai mối của bà?

          - Ngoài bà Quảng ra, - Tuyết Hoa nói tiếp, tôi không biết mẹ tôi có mời ai nữa không? Chắc phải dành sự ngạc nhiên.

          Chúng tôi im lặng một hồi lâu trong khi xếp một chiếc chăn bông khác. Tôi kín đáo nhìn Tuyết Hoa  và thấy nét băn khoăn trên khuôn mặt cô. Lần đầu tiên sau bao nhiêu năm nay, những lo lắng của tôi lại hiện về khiến tôi tự hỏi Tuyết Hoa có còn coi tôi thua kém không? Có phải cô đang băn khoăn khi nghĩ đến việc gia đình cô và những người trong làng Cự Tống sẽ gặp mẹ và thím của tôi không? Rồi tôi lại nhớ rằng chúng tôi đang sửa soạn cho lễ Vu Quy của Tuyết Hoa. Thế sao tất cả mọi việc phải đúng như ý mong muốn của mẹ cô là thế nào?

          Tôi cầm tay Tuyết Hoa và vén một lọn tóc ra đằng sau tai của Tuyết Hoa:

          - Tôi thật nóng lòng muốn gặp gia đình chị. Thật là một vinh dự cho tôi.

          - Tôi e rằng chị sẽ thất vọng, - cô nói vẫn với giọng băn khoăn. Tôi đã nói quá nhiều về cha mẹ…

          - … và về Cự Tống, về căn nhà của chị nữa…

          - Tất cả những thứ đó đã làm chị có khái niệm thế nào về tôi, về gia đình tôi?

          Tôi cười ngất:

          - Khờ quá! Chị lo ngại vì thế à? Nếu chị không nói với tôi nhiều đến thế, thì trong đầu tôi chẳng có hình ảnh gì cả.

************

          Ba hôm trước ngày cưới của tôi, là lễ "Ngậm ngùi Tiếc nuối". Mẹ tôi ngồi ở bậc thang thứ tư và mấy bà hàng xóm cũng sang với mẹ tôi. Mọi người cùng nhau hát - ku, ku, ku - tiếp theo là những tiếng nức nở ai oán. Khi mẹ xong rồi thì đến phiên cha, chú thím tôi, và cuối cùng là anh cả và em trai út. Tôi đã phải tỏ ra can đảm và thật nóng lòng khám phá cuộc sống mới đang chờ đợi. Nhưng tôi thấy yếu sức đi nhiều lắm, vì cô dâu không được quyền ăn gì trong suốt mười ngày trước khi cưới. Có phải như thế sẽ làm cô dâu trở nên buồn bã, sầu thảm hơn trong giờ chia tay với gia đình, hay để chứng tỏ sự phục tùng với gia đình mới, hoặc để cô có vẻ yếu đuối, tinh khiết hơn dưới mắt ông chồng? Tôi chẳng biết? Chỉ biết là mẹ đã để sẵn vài quả trứng luộc trong phòng cho tôi, nhưng cũng không làm cho tôi lại sức và mỗi bước, mỗi bước kế tiếp trong cái chuỗi ngày lễ lộc này lại làm tôi càng đuối sức hơn.

          Sáng hôm sau, tôi thức dậy sớm và giật nẩy mình tràn ngập lo sợ. Tuyết Hoa nằm cạnh tôi và đang vỗ về tôi, nhẹ nhàng đặt tay lên vuốt má tôi. Hôm nay, tôi phải ra mắt gia đình nhà chồng nên tôi thật lo lắng không nuốt được một thứ gì cả, mặc dù tôi có quyền ăn ngày hôm nay.         

          Tuyết Hoa giúp tôi mặc bộ quần áo cưới do chính tôi may lấy: một chiếc áo ngắn không có cổ và chiếc quần phồng. Cô giúp tôi đeo những chiếc vòng bằng bạc mà gia đình chồng gửi sang cho tôi, cùng những đồ trang sức khác: dây chuyền, bông tai, trâm cài tóc, v.v… Vòng tay chạm vào nhau kêu lách cách cùng với tiếng kêu nho nhỏ của chiếc bùa bằng bạc tôi đính trên áo cưới. Chân tôi mang đôi hài cao bằng lụa đỏ, và đầu đội một chiếc voan che mặt, được làm tỉ mỉ bằng những hạt trai nhỏ li ti và những sợi bạc tòn ten, cứ kêu loong coong theo mỗi bước đi của tôi hay mỗi khi tôi nhúc nhích đầu. Những tua dài mầu đỏ treo trên đỉnh của chiếc voan đội đầu, thả xuống trước mặt làm thành tấm màn mỏng che kín mặt đến nỗi tôi chẳng nhìn thấy gì cả. Có thể là tôi bị té lắm nếu không chăm chăm nhìn xuống đất.

          Tuyết Hoa dìu tôi xuống thang lầu. Tôi chẳng nhìn thấy gì cả, tim thì cứ đập bình bịch. Nhưng tôi vẫn nhận ra bước chân khập khễnh của mẹ, tiếng chú thím tôi thì thầm to nhỏ với nhau, tiếng cò cưa của chiếc ghế khi cha tôi đứng dậy. Tất cả chúng tôi cùng nhau ra đền Phủ Quỳ, để lạy tổ tiên đã sinh thành ra tôi. Suốt thời gian đó, Tuyết Hoa không rời tôi nửa bước, dìu tôi đi trên những con đường nhỏ, khe khẽ nói thầm khuyến khích tôi, hay giục tôi đi nhanh hơn, vì nhà trai sắp đến đến nơi rồi.

          Về đến nhà, chúng tôi cùng nhau trở lên phòng. Để giúp tôi bình tĩnh hơn, Tuyết Hoa cầm tay tôi trong tay cô và cho tôi biết hiện giờ nhà trai đang làm gì.

                    - Nhắm mắt lại và hãy tưởng tượng như chị đang ở trong cuộc nhé, - Tuyết Hoa vừa nói vừa cúi sát vào mặt tôi, vừa đủ để chiếc voan che mặt của tôi rung rinh theo mỗi tiếng nói của cô. Ông bà Lữ hôm nay sẽ diện trang phục và trang sức đẹp nhất, rồi cùng những người thân và tùy tùng rời làng Cự Tống để sang Phủ Quỳ. Có một đoàn nhạc công đi theo mở đường, suốt dọc đường hôm nay sẽ dành riêng cho họ. Thế còn chú rể đang ở đâu? Ah! Anh ta phải ở lại nhà để đợi chị. Chị còn phải kiên nhẫn thêm hai ngày nữa trước khi gặp mặt anh ấy.

          Đùng một cái, tiếng nhạc ở đâu rộn ràng vang tới: nhà trai đến rồi! Tuyết Hoa dìu tôi ra cửa sổ, tôi vén chiếc voan che mặt ra một lúc để có thể nhìn ra ngoài. Chúng tôi chưa nhìn thấy đoàn nhạc công và đám rước, nhưng thấy một người đại diện nhà trai bước trên con đường nhỏ gập ghềnh và dừng lại trước cửa nhà. Ông trình cha mẹ tôi một bức thư viết trên giấy đỏ, báo tin rằng gia đình chồng tôi đang tới để đón dâu.

          Rồi đoàn nhạc công xuất hiện ở góc đường, theo sau là một đoàn người lạ mặt. Đến trước cửa nhà thì những tiếng vỗ tay bắt đầu vang dậy. Người trong nhà vẩy nước và ném lá tre vào ban nhạc, kèm theo những tiếng cười nói, la hét vang lừng. Tôi được gọi xuống. Một lần nữa, Tuyết Hoa lại nắm tay dắt tôi xuống cầu thang. Tai tôi bùng bùng trong tiếng hát của phụ nữ trong nhà: "nuôi con gái cho lớn, như xây đường cho người khác đi…"

          Chúng tôi cùng ra ngoài, và bà mai Quảng giới thiệu hai bên gia đình với nhau. Tôi phải giữ thái độ khép nép tối đa, ngay từ lúc mà cha mẹ chồng tôi đưa mắt nhìn, thậm chí tôi cũng không dám hỏi thầm Tuyết Hoa xem cha mẹ chồng tôi trông ra sao, và cảm tưởng của ông bà về tôi thế nào?

Rồi cha mẹ tôi đi mở đường, và hai họ đi về phía đình làng, là nơi mà gia đình tôi sẽ đãi khách khứa đến tham dự đám cưới. Tuyết Hoa và các cô gái trong làng ngồi quây quần chung quanh tôi. Thức ăn được dọn ra thịnh soạn và rượu cứ chảy như suối, bên những khuôn mặt đỏ bừng bừng. Đàn ông và các cụ già trong làng trêu chọc tôi một cách vui vẻ.Trong suốt bữa ăn, tôi cũng phải ê a hát theo các bà các cô trong bữa tiệc. Đã bảy ngày rồi, tôi chưa được một bữa ăn thực sự, thế nhưng tất cả mùi thức ăn ngào ngạt đưa đến, cũng không làm tôi thấy thèm thuồng chút nào. Tôi chỉ thấy nôn nao, buồn buồn.

Hôm sau là ngày "Nhạc Hội". Lại một bữa tiệc nữa được dọn ra mời khách khứa. Những đồ tế nhuyễn của tôi được mở ra, phô bày cho mọi người xem, kể cả những quyển lưu bút ngày cưới. Các bà lần lượt hát những bài ca, bài vè, kể cả Tuyết Hoa và tôi. Mẹ và thím tôi dẫn tôi đến bên mẹ chồng, bà trao cho tôi một chén cháo do tự tay bà nấu, tượng trưng cho sự trìu mến và rộng rãi của gia đình chồng. Nhưng tôi cũng chỉ húp được một ngụm cháo thôi.

Qua làn voan che mặt, tôi không nhìn được mặt mẹ chồng tôi. Nhưng khi cúi mặt xuống, tôi nhìn thấy đôi chân trên "gót sen" của bà, đôi chân nhỏ bé xinh như đôi chân của tôi. Lòng tôi tràn ngập hốt hoảng: bà không mang đôi giầy mà tôi đã dày công thêu may cho bà. Và tôi nhìn thấy rõ lý do tại sao: phẩm chất và thủ công của đôi giầy mà bà mang trên chân vượt xa đôi giầy mà tôi đã tận sức làm. Tôi cảm thấy xấu hổ lắm. Chắc chắn cha mẹ tôi cũng cảm thấy thế, và chắc hẳn gia đình chồng tôi cũng thất vọng tràn trề.

Cả gia đình về đến nhà lúc khuya lắm. Nếu tôi có được giáo dục về đời sống lứa đôi thì là lúc này, hoặc là không bao giờ nữa. Mẹ tôi vào phòng, Tuyết Hoa tế nhị lui ra ngoài. Mẹ có vẻ băn khoăn trong giây lát, khiến tôi còn tưởng là nhà chồng tôi đã tuyên bố hồi hôn. Mẹ để chiếc gậy bên cạnh giường, rồi nhỏ nhẹ:

- Bạch Huệ, mẹ luôn luôn nói với con rằng, người con gái mang tên này không bao giờ được phép xấu xí trong suốt cuộc đời. Và con sẽ chỉ tìm thấy nhan sắc khi được thử thách bởi sự đau đớn.

Tôi ngoan ngoãn đồng ý, nhưng trong lòng tôi đang kinh hãi tột độ. Suốt thời gian tôi chịu nhục hình vì bị băng chân, mẹ tôi cũng nói với tôi những lời như thế. Có phải mẹ đang muốn nói rằng trong cuộc sống lứa đôi, tôi cũng sẽ phải chịu những đớn đau nhục hình tương tự chăng?

- Bạch Huệ, mẹ mong là con nhớ rõ điều này: phải tỏ ra can đảm trong mọi trường hợp. Con đã tuyên thệ kết hợp cuộc đời con với gia đình nhà chồng. Con phải làm tròn bổn phận mà số mạng đã đặt cho con.

Xong, mẹ đứng dậy, cầm chiếc gậy và ra khỏi phòng. Tôi không cảm thấy an toàn chút nào về những lời mà mẹ vừa nói. Ý chí của tôi, sự kiên cường và sức mạnh như tiêu tan theo mây khói. Tôi chỉ còn thấy thật là sợ hãi, lo lắng khi sắp phải rời xa gia đình.

Tuyết Hoa vào phòng. Thấy mặt tôi nhợt nhạt, cô đến bên tôi, ngồi vào chỗ mà mẹ ngồi lúc nãy, trấn an tôi:

- Bạch Huệ, chị đã chờ đợi giây phút này từ mười năm nay rồi. Chị nhớ phải áp dụng những gì học trong Nữ thư. Ăn nói dịu dàng nhưng phải có bản sắc mạnh dạn. Tóc tai lúc nào cũng phải gọn gàng, nhưng đừng quá đáng. Trên mặt đừng thoa phấn, hay bột gạo. Chị phải biết se sợi, dệt vải, thêu thùa, may vá. Lại còn phải biết nấu nướng, giặt giũ, rửa chén. Làm sao cho bình trà lúc nào cũng nóng, và đốt lò sưởi lúc trời trở lạnh. Mỗi tối, chị phải biết tháo băng ở chân ra, rửa chân cẩn thận, trước khi thoa kem và phấn thơm và thay băng mới sạch sẽ…

- Nhưng… còn chuyện đời sống vợ chồng? Tôi chưa được ai dạy cả.

- Tại sao lại thắc mắc chuyện ấy làm gì? Có gì đáng sợ đâu? Chú thím của chị chẳng hạnh phúc đó sao? Và cha mẹ chị nữa, cũng có cả đàn con. Đâu có khó hơn là học thêu thùa hay học làm công chuyện nhà!

Những lời nói này làm tôi yên tâm phần nào. Nhưng Tuyết Hoa chưa nói xong đâu. Cô giúp tôi nằm vào trong chăn và rúc vào bên cạnh tôi, tiếp tục nói:

- Chị sẽ là một người mẹ hoàn toàn, vì chị biết săn sóc người khác, cô thì thầm vào tai tôi, chị sẽ dạy dỗ con cái một cách chu đáo. Chị có biết tại sao tôi xác quyết như thế không? Là vì tất cả những thứ mà chị đã dạy cho tôi.

Tuyết Hoa ngừng lại một hồi như để cho những lời nói của cô thấm vào đầu tôi, sau đó mới thong thả nhấn từng tiếng một:

- Hơn nữa, tôi đã nhìn rất rõ ánh mắt của gia đình họ Lữ mấy hôm vừa qua.

Tôi hoài nghi hỏi lại Tuyết Hoa:

- Thật ư? Họ nhìn tôi thế nào? Nói đi, tôi muốn biết hết.

- Chị có nhớ lúc Lữ phu nhân bưng chén cháo đến cho chị?

Làm sao tôi không nhớ cho được. Giây phút đó đã đánh dấu một sự khởi đầu cảm giác tủi thân và nhục nhã của tôi.

- Lúc ấy, toàn thân chị run lên, - Tuyết Hoa nói tiếp. Làm sao mà chị có thể làm được như thế chứ? Ai cũng nhìn thấy chị lúc đó, vừa e thẹn lại vừa mong manh. Lúc ấy chị ngồi, cúi gầm mặt xuống, một hình ảnh thuần thục toàn hảo mà một cô dâu cần phải có. Lữ phu nhân đã liếc nhìn chồng với nụ cười hả hê, và ông cũng mỉm cười đáp lại. Chị thấy chưa: Lữ phu nhân là một người rất khó tính, nhưng lại tốt bụng.

- Nhưng….

- Chưa hết! Nếu chị nhìn được là cả gia đình bên ấy ngắm nhìn đôi chân của chị thế nào… Ah! Bạch Huệ, tôi tin chắc rằng cả làng Cự Tống của tôi sẽ vui lắm khi biết rằng một ngày nào đó chị sẽ trở thành Lữ phu nhân mới. Bây giờ thì chị phải cố ngủ đi. Những ngày sắp tới sẽ mệt lắm đấy.

Chúng tôi nằm quay mặt vào nhau. Tuyết Hoa xoa tay lên má tôi, như cô thường làm:

- Nhắm mắt lại đi, cô nhẹ nhàng ra lệnh.

          Tôi vâng lời Tuyết Hoa.

************

          Sáng hôm sau, nhà trai cho người đến nhà tôi thật sớm để kịp thì giờ còn rước tôi về Cự Tống trước hoàng hôn. Khi vừa nghe tiếng nhã nhạc vọng đến từ đầu làng, tim tôi lại đập bình bịch. Nước mắt tràn ra không sao giữ lại được. Mẹ, thím, và chị hai của tôi, kể cả Tuyết Hoa nữa cũng khóc khi đưa tôi xuống nhà. Những người giúp việc của gia đình chồng ngừng lại trước thềm. Anh cả và em trai của tôi phụ với họ để chất những rương gỗ lên xe. Tôi đã choàng chiếc voan che mặt nên không phân biệt được những việc đang xảy ra, nhưng tôi nhận ra rất rõ tiếng nói của mọi người trong gia đình.

          - Một người đàn bà sẽ chẳng có giá trị gì cả, nếu như không rời gia đình, mẹ tôi bắt đầu.

          - Chào mẹ, tôi thì thầm lại. Cảm ơn mẹ đã nuôi nấng đứa con vừa kém tài lại thiếu quyến rũ như con.

          - Tạm biệt con gái, cha tôi nói nhẹ nhàng.

          Nghe tiếng cha, nước mắt tôi lăn tràn xuống má, tay tôi nắm chặt lấy thành cầu thang. Bỗng dưng, tôi không muốn đi nữa.

          - Là đàn bà, trước sau gì cũng phải lìa gia đình, làng xóm, - thím tôi chen vào, giờ cháu như con chim sắp xa lìa tổ ấm, tung cánh khuất sau ngàn mây, và không bao giờ trở lại nữa.

          - Cám ơn thím, đã mang lại cho chúng cháu biết bao nụ cười. Cảm ơn thím đã cho cháu biết giá trị thực sự của nỗi buồn, và chia sẻ cho cháu những tài năng của thím.

          Những tiếng nức nở của thím hòa với tiếng khóc của tôi, những giòng lệ của thím cũng hòa với nước mắt tôi đang dàn dụa. Cúi mặt nhìn xuống, tôi thấy bàn tay gân guốc của chú tôi đang cầm cổ tay tôi, gỡ bàn tay tôi đang nắm chặt thành cầu thang:

          - Kiệu hoa đang đợi cháu, - chú nói với giọng đầy xúc cảm.

          - Chú…

          Tiếp đó, là tiếng của anh chị em của tôi thay phiên nhau chào tôi. Tôi chỉ muốn nhìn lại những người thân yêu bằng xương bằng thịt thay vì phải mù lòa bởi những giải lụa đỏ che mặt này.

          - Anh cả! Em cám ơn anh lúc nào cũng che chở cho em. Em út, cám ơn em đã cho chị cơ hội săn sóc và gần gũi em, khi em còn bé. Chị hai! Cám ơn sự kiên nhẫn của chị đã dành cho em.

          Bên ngoài, tiếng nhã nhạc càng lúc càng to. Cha mẹ tôi cầm hai bên tay của tôi, dẫn ra tới bậc thềm. Những thanh lụa che mặt lung lay theo bước chân của tôi, giúp tôi nhìn hé được chiếc kiệu bên ngoài đang chờ tôi, phủ đầy hoa và được che bằng lụa đỏ. Chiếc kiệu hoa của tôi! Chiếc kiệu hoa thật là lộng lẫy.

          Những gì mà tôi được nghe từ khi tôi được đính hôn với nhà họ Lữ cách đây sáu năm, lại trở về trong trí. Tôi sẽ lấy một người tuổi con Cọp, là tuổi hợp với tôi nhất theo tử vi của chúng tôi. Chồng tôi sinh trưởng trong một gia đình giàu có và anh được hấp thụ một nền giáo dục thật tốt. Gia đình anh rất thoải mái, hào phóng, và được trọng vọng. Điều đó, tôi đã chứng kiến qua những sính lễ hậu hĩ, thượng thặng, mà gia đình anh gửi sang cho nhà tôi. Hôm nay, một lần nữa tôi lại phải xác nhận điều này khi nhìn chiếc kiệu hoa rực rỡ đang chờ ngoài kia. Tôi buông tay cha mẹ và bước tới.

          Tôi bước tới trước hai bước, mù lòa, trước khi ngừng lại, tôi không biết phải đặt chân vào đâu? Hai tay tôi quờ quạng, hy vọng Tuyết Hoa sẽ dìu tôi. Lần này, Tuyết Hoa vẫn đáp lại tôi. Cô nắm tay tôi trong tay cô, dìu ra tận chiếc kiệu hoa và mở cửa. Chung quanh tôi, chỉ nghe thấy những tiếng nấc nghẹn ngào. Mẹ và thím tôi cùng nhau hát một bài vè, bài hát truyền thống để tiễn đưa con gái đi lấy chồng. Tuyết Hoa cúi xuống thì thầm vào tai tôi, như không muốn ai nghe:

          - Nhớ rằng chúng ta vĩnh viễn là chị em kết nghĩa.

          Rồi cô lấy trong tay áo ra một gói đồ và nhét vào tay áo của tôi.

          - Tôi có cái này cho chị. Hãy đọc trên đường đi Cự Tống. Chúng ta sẽ gặp lại nhau ở đó.

          Tôi bước vào kiệu. Mấy bác phu nhấc bổng chiếc kiệu lên và rảo bước lên đường. Cha mẹ và thím tôi cùng mấy người thân trong làng tiễn tôi ra đến tận cổng làng, chúc mừng tôi trước khi quay về, để lại tôi một mình trong kiệu hoa, nước mắt chan hòa.

          Tôi rút cái gói mà Tuyết Hoa trao cho tôi lúc nãy. Đó là chiếc quạt của hai chúng tôi, gói trong một mảnh vải. Tôi sốt ruột vội vàng mở ra, đoán là Tuyết Hoa đã viết cho tôi những câu chúc chứa chan hạnh phúc, và tìm được ngay nếp quạt có mấy giòng chữ của Tuyết Hoa: "Đôi chim tung cánh trên bầu trời, cùng đập chung một trái tim. Ánh sáng chiếu rọi đôi cánh, đem lại nồng ấm cho đôi lòng. Dưới chân họ là thế giới mênh mông, thế giới của đôi uyên ương…". Bên trên nếp quạt, Tuyết Hoa thêm vào đôi chim đang sánh vai tung cánh: là tôi và chồng tôi. Tôi thật cảm động khi thấy Tuyết Hoa đã thêm chồng tôi vào chiếc quạt, mà đối với tôi và Tuyết Hoa, là vật quí giá nhất.

          Tôi mở mảnh vải mà Tuyết Hoa dùng để gói chiếc quạt, trải lên đùi. Mỗi lần tôi cúi xuống thì những sợi bạc của chiếc voan che mặt lại đong đưa theo nhịp chân của mấy bác phu kiệu. Tôi nhận ra là Tuyết Hoa đã thêu lên mảnh vải đó bằng ngôn ngữ bí mật của chúng tôi, chắc hẳn là để kỷ niệm cho dịp trọng đại này.

          Lá thư bắt đầu bằng lời chào hỏi chúc tụng thông thường cho cô dâu chú rể. Tiếp theo đó, Tuyết Hoa viết:

          "… những nhát dao đâm vào tim tôi khi viết những giòng chữ này cho chị. Chúng ta đã hứa với nhau là "không bao giờ bất đồng, không bao giờ lớn tiếng với nhau" chị còn nhớ không?

          Tôi mỉm cười khi thấy Tuyết Hoa nhắc lại những câu chúng tôi cùng viết trong tờ văn tự vào ngày chúng tôi kết nghĩa.

          Tôi những tưởng là đời này kiếp này, chúng ta sẽ mãi mãi bên nhau. Tôi không thể nào tin được lại có ngày hôm nay. Thật là buồn cho thân phận đàn bà, rồi chúng ta phải phục tùng gia đình chồng thôi. Nhưng, đó là số phận của chúng ta.

          Cho đến giờ phút này, Bạch Huệ ơi! Chúng ta như đôi uyên ương liền cánh. Nhưng từ giờ trở đi, tất cả sẽ thay đổi. Trong những ngày sắp tới, chị sẽ khám phá ra nhiều điều về tôi. Cái viễn tượng đó khiến tôi đắm chìm vào nỗi lo lắng và e sợ. Tôi đã khóc những tiếng khóc từ tận đáy tim, trong ý nghĩ là một ngày kia, chị không còn yêu thương tôi nữa.

          Tôi muốn nói với chị là: một mai, cho dù chị nghĩ thế nào về tôi thì tấm chân tình của tôi đối với chị vĩnh viễn không thay đổi… Tuyết Hoa"

          Trời ạ! Thì ra Tuyết Hoa cứ trầm lặng suốt mấy tuần lễ nay, chỉ vì cô nghi ngờ rằng tôi sẽ không còn thương yêu cô nữa… Nhưng, làm sao điều đó có thể xảy ra chứ? Ngồi trong kiệu hoa, trên con đường đưa tôi về nhà chồng, tôi biết rõ rằng không có gì có thể làm giảm được tình yêu thương của tôi dành cho Tuyết Hoa. Tôi thấy những lời lẽ của cô như báo trước một điềm gở và tôi nôn nao chỉ muốn nói với phu kiệu cho tôi quay trở lại nhà, để lau khô những giòng nước mắt của Tuyết Hoa, hoặc nếu cô muốn khóc, thì chúng tôi cũng phải tựa đầu vào nhau cho ngàn giòng lệ cùng tuôn chảy.

          Nhưng, chiếc kiệu hoa đã đi vào cổng chính dẫn vào làng Cự Tống. Pháo nổ vang trời đất giữa những tiếng phèng la, tiếng kèn inh ỏi của ban nhạc. Người trong nhà ra giỡ chiếc rương của tôi xuống, đem ngay vào phòng để chồng tôi có thể lấy và mặc bộ quần áo cưới mà tôi may cho anh. Rồi tôi nghe một tiếng kêu khủng khiếp và quen thuộc: tiếng con gà vừa bị cắt tiết! Bên ngoài, trước kiệu hoa, ai đó đã rải máu gà xuống đất, để xua đuổi tà ma có thể đang bám theo tôi.

          Cuối cùng, cửa kiệu hoa được mở ra và một người đàn bà đóng vai Đệ nhất Phu nhân của làng cầm tay tôi dắt xuống kiệu. Danh hiệu này lẽ ra là của mẹ chồng tôi, nhưng trong dịp lễ cưới hỏi, phải mượn một người đàn bà có nhiều con trai nhất trong làng Cự Tống để đóng vai Đệ nhất Phu nhân. Bà dắt tôi vào tận trong nhà, bước qua thềm để ra mắt toàn thể gia đình nhà chồng. Tôi quỳ gối xuống, cúi lạy dập đầu xuống đất ba lần và kính cẩn: "con xin tuân lệnh dưới sự sai bảo của gia đình, con xin làm tất cả theo lệnh của cha mẹ…". Sau phần lễ nghi, tôi được dắt vào phòng tân hôn và ngồi ở đó một mình, cửa phòng vẫn mở. Chỉ một lát nữa thôi, tôi sẽ được gặp mặt chồng tôi. Tôi đã đợi giây phút này từ lâu lắm rồi, kể từ ngày đầu tiên bà Quảng đến nhà xem xét đôi chân của tôi. Tuy vậy, tôi vẫn thấy tràn ngập lo âu lẫn thẹn thùng. Anh ta là một người hoàn toàn xa lạ với tôi, dĩ nhiên là tôi rất tò mò muốn làm quen. Anh sẽ là cha của những đứa con của tôi, nhưng tôi vẫn e sợ không hiểu rồi chuyện ấy sẽ đến như thế nào. Rồi lá thư đầy bí ẩn của Tuyết Hoa mà tôi mới đọc trong kiệu cũng khiến tôi lo lắng không ít.

          Tôi nghe tiếng chân người đang di chuyển một chiếc bàn con đặt ngang ngưỡng cửa. Tôi lắc đầu nhè nhẹ để những thanh voan che mặt lúc lắc, cho tôi nhìn thấy cha mẹ chồng của tôi đang đặt lên bàn những chiếc chăn bông mà tôi may và đem sang. Trên cùng, là hai ly rượu, một ly quấn chỉ xanh, và ly kia quấn chỉ đỏ.

          Chồng tôi bước vào phòng và gia nhân cúi đầu chào anh. Lần này, tôi cố giữ không nhìn trộm nữa, để cố gắng giữ đúng nghi thức cho lần gặp mặt đầu tiên này. Ngồi đối diện tôi ở đầu bàn bên kia, chồng tôi tháo sợi chỉ đỏ ở ly rượu ra, đến lượt tôi tháo sợi chỉ xanh ở ly kia. Rồi anh nhảy phóc lên bàn, nhảy qua chồng chăn bông, và nhảy xuống phía bên cạnh tôi. Xong nghi thức đó, chúng tôi chính thức thành vợ thành chồng.

          Tôi phải nói sao về chồng tôi trong lần đầu tiên tôi nhìn thấy anh? À, trước tiên, tôi thấy anh thật thơm trong bộ quần áo cưới, như vừa tắm ra. Tôi cúi mặt xuống nhìn bộ quần áo cưới mà tôi may cho anh, cũng như đôi giầy cưới dưới chiếc quần bằng lụa đỏ đắt tiền, thật là vừa vặn tuyệt hảo. Nhưng chỉ một giây lát thôi, vì sau đó, lại còn nghi thức chúc tụng của bạn bè nữa. Đám bạn của chồng tôi ùa vào phòng, người nào người nấy chếnh choáng hơi men, đem vào cho chúng tôi nào là đậu phộng, nào là trái chà là, dấu hiệu của sự phong phú, mầu mỡ, ý mong cho chúng tôi có nhiều con cái về sau; cùng với một chiếc bánh ngọt, ý chúc cuộc sống vợ chồng hòa thuận sau này. Nhưng họ nghịch ngợm treo chiếc bánh ngọt lủng lẳng trước mũi tôi, bắt tôi phải ngước lên để với lấy chiếc bánh, nhưng rồi lại giật lên cao cho tôi bị hụt để tất cả cười vang lên, vừa vui vẻ lại có chiều nhả nhớt.

          Đêm đã xuống dần, ngoài kia, dân làng ăn uống, nhảy múa, ca hát tưng bừng để mừng đám cưới. Cuối cùng, một tiếng pháo lệnh nổ vang trời, là lúc ai về nhà nấy. Bà Quảng đến đóng cửa phòng, chỉ còn lại hai chúng tôi ở trong phòng.

          - Chào em, chồng tôi nói trước.

          Tôi thẹn thùng:

          - Chào anh!

          - Em đã ăn gì chưa?

          - Chưa, em còn phải nhịn thêm hai ngày nữa cho đủ mười ngày.

          - Trong phòng có đậu phộng và trái chà là. Em có đói thì ăn đi, anh không nói cho ai biết đâu.

          Tôi nhẹ lắc đầu, chiếc voan lung lay và những thanh bạc reo leng keng, mở hé cho tôi nhìn thấy ánh mắt của chồng tôi đang nhìn chằm chằm vào đôi chân tôi, khiến tôi đỏ mặt. Tôi ngồi bất động, hy vọng những chiếc voan che mặt không lung lay nữa để anh không nhìn thấy vẻ bối rối của tôi. Cả hai chúng tôi đều im lặng, tôi chắc rằng anh vẫn còn đang quan sát tôi, và tôi thì không biết phải làm sao, chỉ đành đợi thôi.

          Cuối cùng, anh lại nói tiếp:

          - Anh nghe nói là em đẹp lắm phải không?

          - Anh chỉ cần tháo chiếc voan ra là anh có thể tự nhìn thấy em mà.

          Câu trả lời của tôi hơi thẳng thừng quá, ngoài ý muốn của tôi, thế nhưng chồng tôi lại lấy làm vui và bật cười. Vài phút sau, anh đặt chiếc voan che mặt lên bàn, rồi quay lại nhìn mặt tôi, trong lúc tôi cũng chăm chú nhìn anh.

          Những gì mà bà Quảng và Tuyết Hoa nói về chồng tôi đều đúng cả. Anh không bị rỗ cũng chẳng có vết sẹo nhỏ nào trên mặt. Da anh trắng chứ không sạm nắng như cha hay chú tôi, cho thấy anh không phải ra đồng áng làm việc. Hai gò má cao với chiếc cằm có vẻ cương nghị, nhưng không đến nỗi bướng bỉnh. Một lọn tóc phủ trên trán, đôi mắt long lanh tinh nghịch.

          Anh tiến gần lại bên tôi, cầm tay tôi:

          - Anh hy vọng hai chúng ta sẽ hòa hợp với nhau.

          Cô thôn nữ họ Chu mười bảy tuổi như tôi còn đợi câu tỏ tình nào hơn thế nữa chứ? Bên cạnh anh, tôi thấy cả một tương lai huy hoàng. Đêm ấy, anh đã làm không thiếu một nghi thức nào, kể cả việc tự tay tháo đôi giầy cưới của tôi và giúp tôi mang đôi giầy bằng lụa đỏ. Giây phút này, sự dịu dàng quen thuộc của Tuyết Hoa đã khiến tôi cảm thấy sự vụng về của anh, khi bàn tay anh đặt lên đôi chân tôi. Những gì xảy ra sau đó, tôi không còn biết nữa, chắc hẳn là anh cũng thế. Nhưng tôi đã băn khoăn không biết Tuyết Hoa sẽ ra sao vào ngày cưới của cô sắp tới?         

          Sáng hôm sau, tôi dậy sớm, cố nhẹ nhàng để chồng tôi ngủ thêm một lát. Tôi đi vào phòng chính. Không biết bạn có bao giờ bị bồn chồn lo lắng đến như tôi, kể từ lúc tôi đọc lá thư đầy bí ẩn của Tuyết Hoa. Nhưng ngày hôm qua cũng như sáng nay, tôi cũng chẳng làm gì hơn được. Tôi phải hết sức uốn mình vào khuôn phép, thủ tục của đám cưới, trong khi chờ đợi gặp lại Tuyết Hoa. Điều này đã đòi hỏi rất nhiều cố gắng của tôi bởi vì tôi thật là mệt mỏi vì đói lả, vì kiệt sức. Tôi đau rần khắp toàn thân, đôi chân nhức nhối vì đi lại từ hôm rày. Tôi cố gắng che dấu không lộ ra mặt, nhẹ đi vào bếp, ở đó một cô giúp việc chừng mười tuổi đang nhón gót chờ tôi. Tôi có một người làm riêng, điều này không ai cho tôi biết trước cả. Ở làng Phủ Quỳ nghèo khổ của tôi, không ai có người làm cả, nhưng tôi nhận ra ngay, vì thấy chân của cô bé không được băng. Cô bé tên là Can, cô giải thích ngụ ý kiên cường và can đảm. Cô đã nhúm sẵn bếp lửa và để sẵn nước trong bếp rồi, tôi chỉ việc hâm nóng lại và bưng nước lên cho cha mẹ chồng rửa mặt. Tôi pha trà cho cả nhà và phải rót cho từng người một, không để rỏ một giọt nào ra ngoài.

          Ngày hôm đó, cha mẹ chồng tôi lại gửi sang cho gia đình tôi một thùng đựng đầy thịt heo quay và bánh ngọt. Gia đình chồng tổ chức một tiệc đãi khách khứa tại tổ đình. Lại thêm một bữa ăn nữa mà tôi không được quyền đụng đến.

          Trước bàn thờ tổ tiên, tôi và chồng tôi nghiêng mình lễ tạ Trời Đất, lạy cha mẹ chồng và tổ tiên nhà họ Lữ. Rồi chúng tôi phải đi quanh bàn tiệc, chào hỏi và lạy những bậc trưởng thượng, và nhận lì xì. Chiều tối, chúng tôi mới được trở về phòng.

          Đến ngày thứ ba là ngày mà cô dâu chú rể nóng lòng nhất, là lễ nghi mà cô dâu phải đọc tất cả những sổ lưu niệm của gia đình và bạn bè, trước mặt gia đình nhà chồng. Tôi không thể nào không nghĩ đến Tuyết Hoa và thật nôn nóng, vì theo dự trù, Tuyết Hoa sẽ phải có mặt trong buổi lễ này.

          Chị cả và chị dâu của chồng tôi đem chồng sách lưu niệm và thức ăn đến cho tôi. Nhiều bà trong làng cũng đến tham dự buổi đọc lưu bút. Nhưng cả Tuyết Hoa lẫn mẹ cô vẫn chưa xuất hiện, điều này vượt quá sự tưởng tượng của tôi, khiến tôi vừa đau lòng vừa lo lắng đến tột cùng. Lẽ ra, đây phải là giây phút sung sướng nhất trong ngày cưới của tôi, nhưng chỉ vì sự vắng mặt của Tuyết Hoa, tôi đã không còn thấy hứng thú gì nữa.

          Lưu bút của gia đình tôi bày nỏ niềm thương nhớ bằng những giòng lưu niệm não nùng, khi tôi đã không còn sống gần gũi với người nhà, nhưng cũng không ngừng ca ngợi những đức tính của tôi, cũng như xin cha mẹ chồng hãy dạy dỗ cho tôi những thể thức bên gia đình chồng; trong khi Tuyết Hoa bày tỏ tình thương mến tuyệt vời của cô qua ẩn ý dành riêng cho tôi: Chim Phượng kết duyên với chim Hoàng, thành đôi uyên ương cất cánh trên nền trời xanh, là cô viết về tôi và chồng tôi, hay viết cho chính tình chị em kết nghĩa của tôi với cô? Qua nét bút bay bướm lả lướt của người chị em kết nghĩa của tôi?

 

(xem tiếp phần 2)

 

Hải Phong