Chương 11 – Sự thật

 

           Theo đúng phong tục thì bốn ngày sau khi đám cưới, tôi phải trở về với gia đình ở Phủ Quỳ. Tuy nhiên, đã từ lâu, mọi người đã sắp xếp cho tôi đến thẳng nhà Tuyết Hoa, ở ngay làng Cự Tống, để giúp cô sửa soạn cho lễ Vu Quy. Bây giờ là lúc tôi sắp sửa gặp lại Tuyết Hoa, tôi lại thấy lo lắng hơn bao giờ hết. Tôi diện bộ quần áo đẹp nhất để mặc trong nhà: chiếc áo bằng lụa và chiếc quần màu xanh hồ thủy có thêu lá tre. Tôi muốn gây một ấn tượng tốt, không những đối với người làng Cự Tống mà tôi có thể gặp trên đường, mà với cả gia đình Tuyết Hoa nữa, đã bao lâu nay tôi từng nghe kể.

          Tâm Can, cô bé giúp việc của tôi dẫn tôi đi qua những con đường quanh co của thị trấn. Cô xách cho tôi một giỏ gồm quần áo thay đổi, vải, chỉ thêu và một quyển sổ nhỏ, tôi sẽ dùng để viết lưu bút cho Tuyết Hoa. Tôi thật sung sướng có Tâm Can đi theo, nhưng nói thật, sự hiện diện của cô làm tôi không mấy thoải mái. Cô sẽ là một phần tử mới trong đời sống của tôi mà tôi phải làm quen.

          Cự Tống là một thành phố lớn và trù phú hơn làng Phủ Quỳ của tôi nhiều. Đường xá thật sạch sẽ: gà vịt và heo bò không thể tự tiện qua lại. Chẳng bao lâu, chúng tôi đến trước một căn biệt thự hai tầng đồ sộ, đúng y như hình ảnh mà Tuyết Hoa đã bao lần tả cho tôi. Tôi mới về làng Cự Tống chưa bao lâu nên không biết những phong tục ở đây. Có nhiều thứ thật khác xa ở làng tôi ghê lắm, chẳng hạn như khách tới nhà không la lối từ ngoài đường để gọi chủ nhà mở cửa, cũng không gõ cọc cọc vào cửa nhà người ta trước khi vào nhà. Tâm Can thản nhiên đẩy cửa đi vào trong.

          Tôi theo cô bén gót và giật mình thối lui lại vì một mùi nồng nặc khó tả khiến tôi cảm thấy buồn nôn. Bao tử tôi quặn thắt lại, nhưng vẫn chưa đáng sửng sốt bằng cảnh tượng hiện ra trước mắt tôi.

          Căn phòng khách rộng thênh thang so với nhà của cha mẹ tôi, nhưng trống rỗng! Chỉ có mỗi chiếc bàn, không thấy ghế đâu cả. Một chiếc cầu thang uốn lượn trạm trổ dẫn lên lầu. Ngoài vài đồ vật sang trọng còn sót lại trong nhà, thì căn nhà trông hoang vắng như bị bỏ rơi. Lò lửa cũng lạnh tanh. Lúc ấy đã vào cuối thu rồi và trời cũng đã trở lạnh. Trên tường, dưới đất như thiếu người chăm sóc, vài mảnh vụn thức ăn vương vãi cả trên sàn. Nhà có thật nhiều cửa, chắc hẳn là để đi vào các phòng.

          Cái cảnh tượng ấy thật là trái ngược với hình ảnh mà tôi có thể tưởng tượng khi nhìn bề ngoài căn nhà đồ sộ. Nhưng hơn thế nữa, nó trái ngược hẳn với những gì mà Tuyết Hoa thường kể với tôi. Chắc chắn là tôi đi lầm nhà rồi.

          Những cửa sổ thật cao nhưng được bít kín lại hết, ngoại trừ một cửa sổ duy nhất để ánh sáng lùa vào bên trong nhà tối tăm. Trong cái không khí mờ mờ tranh tối tranh sáng ấy, tôi thấy một người đàn bà đang ngồi bó gối trước một cái thau đồng, bà ta ăn mặc rách rưới như một nông dân nghèo. Ánh mắt chúng tôi chạm nhau, nhưng bà quay mặt đi nơi khác, cúi đầu xuống, nhưng lại đứng lên ngay. Cái bóng bé nhỏ của bà hiện mờ mờ trong vùng ánh sáng yếu ớt. Nước da bà ta thật đẹp, và trắng như bức tượng bằng sứ, khiến tôi liên tưởng đến nước da trắng ngần của Tuyết Hoa. Bà khoanh tay trước ngực và nghiêng người chào tôi.

          - Chào bà Bạch Huệ, - bà lên tiếng.

          Bà ta nói giọng thật nhỏ nhẹ, nhưng tôi không có cảm tưởng rằng đó là do cái địa vị mới của tôi, mà phải nói là dường như bà ta lúc nào cũng bị cái gì đó làm cho sợ sệt.

          - Bà vui lòng chờ một chút, tôi lên tìm Tuyết Hoa.

          Tôi khựng lại. Tôi không lầm nhà! Đúng là nhà của Tuyết Hoa. Nhưng sao có thể như vậy chứ?

          Trong lúc người đàn bà đi băng qua căn phòng để lên cầu thang, tôi để  ý thấy đôi chân bà như một búp sen, bé nhỏ và xinh xắn như đôi chân của tôi. Thế mà lúc đầu, tôi còn tưởng rằng bà là một người giúp việc trong nhà.

          Tôi lắng tai và nghe tiếng người đàn bà nói gì với ai trên lầu. Bất chợt, thật khó mà tin được: giọng nói quen thuộc của Tuyết Hoa trả lời lại. Tôi đứng chết trân tại chỗ. Căn nhà lại chìm vào một sự im lặng lạ lùng. Sự hiện diện của tôi như một người vô hình, như một bóng ma đến từ thế giới bên kia. Ý nghĩ ấy làm tôi lạnh cả người. Bộ quần áo lụa mầu hồ thủy mà tôi mặc cốt để gây ấn tượng tốt với gia đình Tuyết Hoa, bây giờ thấm cái mùi ẩm ướt của căn phòng chứ không vì phải vì cái lạnh bên ngoài lùa qua cửa sổ. Tôi bắt đầu thấy sờ sợ cái căn phòng tối tăm đầy bí ẩn này, lởn vởn cái mùi khó ngửi không biết là mùi gì.

          Đột nhiên, Tuyết Hoa xuất hiện ở đầu cầu thang:

          - Lên đây, - cô gọi tôi.

          Tôi vẫn đứng đó, cứng đơ ra, cố tìm hiểu cái cảnh mà tôi vừa chứng kiến. Tôi giật nẩy mình, khi thấy ai đó thúc cùi chỏ vào bên hông tôi:

          - Tôi không nghĩ rằng ông chủ hài lòng khi tôi để cô ở lại đây một mình.

          - Ông chủ biết rõ tôi đang ở đâu, tôi trả lời ngay.

          - Bạch Huệ….

          Tuyết Hoa gọi tôi, giọng của cô đượm buồn, tôi chưa từng thấy như vậy bao giờ.

          Một kỷ niệm mới chỉ cách đây vài ngày thôi lại hiện về trong trí tôi. Trước ngày cưới, mẹ tôi dặn dò tôi là đàn bà phải biết làm đẹp, và phải tỏ ra can đảm: "con đã tuyên thệ kết nối với ai, thì con phải làm trọn lời thề và phải tuân theo số mệnh của con". Lúc ấy tôi nghĩ rằng mẹ nói về cuộc sống vợ chồng của tôi sau này. Nhưng không phải, mẹ đang sửa soạn tinh thần cho tôi trước tình huống như hôm nay. Tuyết Hoa là chị em kết nghĩa của tôi cho tới ngày cuối của cuộc đời. Tôi thương yêu cô đậm đà hơn cả tình yêu mà tôi dành cho người đàn ông sẽ là chồng của tôi. Sự kết nối của chúng tôi chân thành biết bao.

          Tôi đang chuẩn bị bước lên cầu thang thì nghe Tâm Can rên nho nhỏ. Tôi không biết phải làm sao, từ xưa đến giờ, tôi chưa hề có người giúp việc bao giờ.

          - Em về nhà đi, - tôi nói và vỗ vào vai cô, tôi vẫn còn chưa biết cách xử sự sao cho ra vẻ bà chủ, - mọi việc sẽ đâu vào đó.

          - Nếu vì lý do gì cô cần về nhà, - Tâm Can vẫn có vẻ lo lắng, - thì cô cứ việc ra đường, hỏi bất kỳ người nào ở Cự Tống. Ai ai cũng biết ông chủ và phu nhân. Họ sẽ đưa cô về ngay.

          Tôi đỡ lấy chiếc giỏ cô cầm nơi tay. Thấy cô vẫn đứng lì ra đó, tôi hất hàm ra hiệu cho cô ta đi. Cô bé thở dài chịu đựng, khẽ nghiêng người chào tôi và đi giật lùi ra cửa, trước khi quay mặt đi khuất.

          Cầm chiếc giỏ trên tay, tôi đi lên cầu thang. Khi đến gần Tuyết Hoa, tôi thấy trên má cô đầm đìa nước mắt. Cũng giống như bà giúp việc mà tôi gặp bên dưới, Tuyết Hoa cũng mặc một bộ quần áo xám xịt, vá nhiều chỗ. Đến trước bậc thang cuối cùng, tôi đứng khựng lại.

          - Không có gì thay đổi cả, chị vẫn là chị em kết nghĩa của tôi.

          Cô cầm tay tôi, giúp tôi leo lên bậc thang cuối cùng và đưa tôi vào căn phòng Phụ nữ. Hiển nhiên là căn phòng này trước kia phải lộng lẫy lắm. Nó lớn hơn ít nhất là ba lần so với căn phòng Phụ nữ của gia đình tôi. Nơi cửa sổ, những chấn song được làm bằng những thanh gỗ đẽo gọt chau chuốt, cầu kỳ. Ngoại trừ chiếc giường và một cái khung cửi, thì căn phòng cũng trống rỗng như bên dưới nhà. Người đàn bà với nước da trắng nuột mà tôi gặp ở dưới nhà ban nãy đang ngồi ở mép giường, hai tay ngoan ngoãn chắp lên đầu gối. Bộ quần áo tả tơi bà đang mặc không che dấu được vẻ thanh lịch quí phái.

          - Bạch Huệ, tôi giới thiệu với chị, đây là mẹ tôi.

          Tôi bước hẳn vào phòng, cầm tay bà và nghiêng mình chào người đã sinh thành ra người chị em kết nghĩa của tôi.

          - Tôi xin lỗi, - mẹ của Tuyết Hoa nói, chúng tôi chỉ có trà để đãi cô thôi.

          Rồi bà nói thêm:

          - Tôi để hai người nói chuyện, chắc hẳn là có nhiều chuyện phải nói với nhau lắm.

          Bà quay bước ra khỏi phòng, bước đi uyển chuyển mà chỉ có những người có đôi chân bó một cách toàn hảo mới bước được những bước yêu kiều như thế.

          Cách đây bốn hôm, khi tôi rời làng cũ, tôi đã nhỏ biết bao nhiêu là nước mắt, vừa buồn, vừa hạnh phúc, lẫn lo âu. Nhưng giờ đây, ngồi cạnh Tuyết Hoa, lại là những giòng lệ xấu hổ, áy náy trên khuôn mặt Tuyết Hoa.

          Tôi chỉ mong Tuyết Hoa giải thích cho tôi chuyện gì đã xảy ra cho gia đình cô. Nhưng thay vì hối thúc, tôi để yên cho Tuyết Hoa tự nói, vì tôi thấy rất rõ cô đang bị mất mặt, cho dù có nói gì chăng nữa.

          Cuối cùng, Tuyết Hoa gạt nước mắt, bắt đầu:

          - Lâu rồi, trước khi chúng ta gặp nhau, gia đình tôi là một trong những gia đình giàu có nhất vùng. Chị có thể hoài nghi, - Tuyết Hoa đưa tay chỉ căn nhà rộng thênh thang với một thái độ nhẫn nhục, căn nhà này trước đây rất sang trọng, huy hoàng. Gia đình tôi sống trong giàu sang phú quí. Ông cố của tôi làm quan trong triều, đã được vua ban biết bao là mẫu đất.

          Tôi chăm chú nghe Tuyết Hoa.

          - Khi vua thăng hà, ông cố tôi bị thất sủng nên đã xin cáo lão hồi hưu, về làng sinh sống một cuộc đời sung túc. Khi ông cố mất đi, thì ông nội tôi thừa hưởng, với thật nhiều nhân viên dưới quyền, cả đám người giúp việc, chưa kể ba người thiếp của ông, nhưng rất tiếc tất cả chỉ sanh được con gái. Bà nội tôi may mắn sanh được cha tôi, nên bà nội dành được địa vị trong gia đình, và mẹ tôi là người đã kết hôn với người thừa kế duy nhất là cha tôi. Người ta nói mẹ tôi đẹp như Tây Thi, mà nhan sắc đã làm vua điên đảo. Cha tôi không làm quan, nhưng ông là người học thức, và nhiều người nghĩ rằng một ngày nào đó, ông sẽ là trưởng làng. Mẹ tôi tin như thế, nhưng có người lại e rằng tương lai bà không xán lạn như bà nghĩ đâu. Ông bà nội tôi đã truyền dạy cho cha tôi một số những khuyết điểm, chắc chắn rằng đó là do cái lối dạy dỗ dành cho con trai một, giữa một lô con gái trong nhà. Dì tôi thì đoán là cha tôi sẽ lười biếng và nhiễm thói hư tật xấu.

          Đôi mắt Tuyết Hoa thẫn thờ khi nhắc đến cái quá khứ đã mất.

          - Ông bà nội mất khi tôi được hai tuổi. Lúc ấy, gia đình tôi vẫn còn sung túc lắm. Quần áo cứ đầy rương, thóc lúa lương thực đầy vựa, gia nhân chật cả nhà. Cha tôi thường đưa mẹ tôi đi chơi đây đó, thường viếng đền Cầu Tự. Tôi được xem và học hỏi rất nhiều thứ lúc thơ ấu. Nhưng cha tôi phải cung phụng cho ba bà mẹ kế, lại còn  phải dựng vợ gả chồng cho bốn bà chị ruột, và năm bà chị cùng cha khác mẹ. Ông cũng phải nuôi bao nhiêu nhân công làm việc ngoài đồng, và gia nhân. Tất cả các chị và em gái của cha khi đám cưới đều long trọng và được hồi môn hậu hỹ. Cha muốn chứng tỏ uy quyền, nên càng đám cưới sau thì hồi môn lại gấp bội đám cưới trước. Ông phải bán dần ruộng đất ở phiá đông của tỉnh để sắm sửa lụa là, thịt thà vào mỗi dịp cưới hỏi.

          Mẹ tôi, như chị đã nhìn thấy đó, có khuôn mặt rất đẹp, và thái độ cao quý, kiêu kỳ, nhưng nội tâm thì lại như một cô bé con, như tôi lúc gặp chị: vô tư và hoàn toàn không biết tí gì về nội trợ, ngoài việc thêu thùa và học Nữ tự. Còn cha tôi thì….

          Tuyết Hoa ngập ngừng một lúc rồi thở dài:

          - Ông bắt đầu hút sách…

          Tôi nhớ lại cái lần bà Cựu đã làm mẹ tôi nổi lửa, khi bà đã nói xấu về gia đình Tuyết Hoa: nào là chuyện thê thiếp trong nhà, kể cả chuyện hút sách. Lúc ấy, tôi chín tuổi, và trong đầu tôi nghĩ rằng ông hút nhiều thuốc lá quá. Nhưng hôm nay, tôi mới hiểu ra cái nghĩa của câu nói ấy, không những biết rằng ông hút thuốc phiện, cái mùi khó ngửi lúc tôi bước vào nhà, mà tôi còn biết thêm rằng tất cả mọi người có mặt hôm ấy, trừ tôi, đều hiểu câu nói của bà Cựu. Mẹ tôi, thím tôi, bà Quảng, ai ai cũng biết, thế mà mọi người cứ để tôi sống trong sự ngây thơ, khờ khạo.

          - Cha chị còn sống chứ? Tôi ngập ngừng hỏi Tuyết Hoa.

          Nếu ông đã chết, có lẽ là Tuyết Hoa đã nói rồi, trừ khi, à biết đâu cô cũng không nói, như những chuyện khác mà cô đã dấu hay nói dối với tôi,

          Tuyết Hoa lặng thinh, không nói một câu.

          - Hay là ông ở dưới nhà? Tôi gặng hỏi, khi nghĩ đến cái mùi khó ngửi tràn ngập căn nhà.

          Tuyết Hoa vẫn hoàn toàn bất động. Rồi cô nhướng đôi lông mày, thái độ đồng ý.

          - Kể từ lúc có nạn đói khủng khiếp, thì mọi sự đảo lộn hết, - Tuyết Hoa kể tiếp, chị có nhớ không? Lúc ấy, chúng ta chưa quen nhau, nhưng tôi nhớ năm ấy mất mùa và mùa đông lạnh kinh khủng.

          Làm sao tôi quên được chứ? Mùa đông năm ấy, chúng tôi không có gì cho vào bụng, ngoại trừ chút cám gạo thêm vào ít củ cải khô. Mẹ tôi chỉ ăn cầm hơi, còn cha và chú tôi thì gần như không ăn gì, để nhường cho chúng tôi. Thế mà cuối cùng, chúng tôi vẫn sống còn.

          - Cha tôi đâu có màng đến cớ sự như vậy, - Tuyết Hoa kể tiếp: ông cứ tiếp tục hút sách hết ngày này qua tháng khác, không hề mảy may ngó ngàng đến chúng tôi. Một ngày kia, chịu không nổi, mấy bà nội kế của tôi bỏ nhà đi hết. Có thể là các bà trở về quê, hay cũng có thể chết dọc đường, hay bị vùi trong tuyết trên đường đi, ai biết đâu? Khi mùa xuân tới, nhà chỉ còn cha mẹ, hai chị và hai anh em trai của tôi mà thôi. Ngoài mặt, chúng tôi cố giữ nếp sống như xưa, nhưng trên thực tế, nợ đã ngập đầu và chủ nợ đã eo éo gọi đòi. Cha tôi phải bán thêm ruộng đất, cuối cùng, chỉ còn lại căn nhà này. Nhưng ông vẫn tiếp tục hút thuốc phiện, đến một ngày kia, trước khi bán tất cả đồ đạc trong nhà… ah! Bạch Huệ, nếu chị biết rằng xưa kia, nơi này thanh lịch biết là dường nào…, thì trước tiên, ông định bán tôi…

          Tôi thốt lên:

          - Cha chị không định bán chị làm gia nhân cho người ta chứ?

          - Tệ hơn kìa: ông định bán tôi làm thứ tì thiếp hạng bét cho người ta kìa.

          Đó là một hình ảnh tệ hại nhất dưới mắt tôi mà mẹ tôi thường dọa: nếu không chịu bó chân thì sẽ không có gia đình tử tế nào chịu hỏi cưới, sẽ phải bán cho những người xa lạ lỗ mãng, không muốn cưới con dâu về nhà, chỉ mua tì thiếp hạng bét về phục dịch… và bây giờ đã có chồng, tôi mới hiểu thêm ý nghĩa của trường hợp đáng thương ấy: một con vật không hơn không kém, thua sút cả những gia nhân trong nhà, phải lần lượt phục vụ hết những người đàn ông trong gia đình.

          - Chính là dì tôi, chị của mẹ, đã cứu chúng tôi ra khỏi cảnh ấy. Tuyết Hoa nói tiếp. Sau khi chúng ta, tôi và chị kết nghĩa chị em, thì dì tôi cũng tìm được một người chị em khác để kết nghĩa với chị hai của tôi. Ít lâu sau, dì tôi gửi anh cả của tôi đến Quảng Tây để đi học. Em út của tôi hiện nay làm việc ngoài đồng, làm công cho gia đình họ Lữ, tức là gia đình nhà chồng của chị. Còn em gái tôi thì đã mất, như chị biết rồi.

          - Thế còn chị, - tôi hỏi, chuyện xảy ra cho chị thế nào?

          - Dì tôi đã thay đổi số mạng của tôi với một chiếc kéo, vài mảnh vải và một cục phèn. Cha tôi không đồng ý, nhưng chị biết dì Quảng đó: một khi dì đã quyết định chuyện gì thì có mà trời cản!

          - Dì Quảng? Tôi thốt lên! Chị muốn nói là bà Quảng của chúng ta? Bà mai của chúng ta?

          - Phải, bà là chị của mẹ tôi.

          Tôi lấy tay ôm đầu. Đúng rồi, hôm đầu tiên tôi và Tuyết Hoa gặp nhau, lần đầu tiên đi thăm đền Cầu Tự, Tuyết Hoa cứ một điều "thưa dì" hai điều "thưa dì". Tôi còn tưởng rằng đó chỉ là sự xưng hô tôn kính của Tuyết Hoa với bà Quảng thôi. Thật là khôi hài.

          - Chị không bao giờ nói cho tôi biết, - tôi thì thầm.

          - Rằng bà Quảng là dì của tôi? Tôi tưởng đó là chuyện duy nhất mà chị biết về tôi?

          Chuyện duy nhất mà tôi tưởng chị biết… Tôi ghi mãi câu nói ấy của Tuyết Hoa và cố gắng đo lường ý nghĩa.

          - Dì Quảng đã thấy rõ con người của cha tôi, - Tuyết Hoa lại tiếp lời, và biết rõ ông yếu đuối đến thế nào. Dì cũng biết tôi là người bướng bỉnh lắm, tôi không để ý một thứ gì cả, nhất là tề gia nội trợ thì là con số không. Tôi không biết gì cả. Mẹ tôi chỉ có thể dạy tôi  thêu thùa, dạy tôi cách thức phải cư xử trước mặt đàn ông như thế nào, nhất là dạy tôi học Nữ tự. Nhưng dì tôi thì khác, nghề của dì là mai mối và dì có thói quen thương lượng những mối làm ăn lớn, nên dì thấy rõ mối đe dọa cho tôi và gia đình tôi. Do đó, dì bỏ công ra tìm cho tôi một người chị em kết nghĩa, hy vọng rằng tin đồn lan ra khắp nơi, và mọi người sẽ nhìn tôi là một đứa bé có giáo dục, trung thủy, dễ dạy…

          - … và sẽ là một người vợ tốt, - tôi nói thêm (đó cũng là trường hợp của chính tôi).

          Tuyết Hoa gật đầu:

          - Dì Quảng đã lùng khắp nơi, ra ngoài cả địa phận mà dì vẫn làm nghề mai mối để tìm một người, và bà đã nghe nói về chị, qua lời giới thiệu của ông thầy tướng số. Sau khi gặp chị rồi, dì quyết định nối liền số mạng của hai chúng ta lại với nhau.

          - Tôi không hiểu?

          Tuyết Hoa nhìn tôi, cười buồn thảm:

          - Chị sẽ được nâng cấp, và tôi thì phải tập xuống cấp. Chị có nhớ, lúc tôi gặp chị, tôi chẳng biết làm gì cả, Tôi đã học được từ chị, nào xách nước, nào giặt giũ, thổi cơm…

          Tôi la lên:

          - Nhưng… Tuyết Hoa! Chính chị mới là người dạy cho tôi nhiều thứ. Chị thêu thùa lúc nào cũng giỏi hơn tôi, nhất là Nữ tự, chị đã dạy cho tôi rất nhiều, rồi Đường thi, tứ thư, ngũ kinh. Nhờ có chị mà ngày nay tôi mới có thể bước chân vào sống trong một gia đình có một mức sống cao hơn hẳn gia đình tôi.

          - Ah! Chị đã thấy dụng ý của dì Quảng chưa? Dì không thể nào mai mối chị cho một gia đình hào môn, mà không tìm cách dạy cho chị những cung cách thanh tao của những gia đình quí tộc. Và dì đã dùng tôi để dạy chị, vì nếu dì thành công thì thù lao nhà chồng chị trả cho dì không phải nhỏ.  Những gia đình danh giá họ chú trọng gì? Là tìm được nàng dâu có đôi chân toàn hảo, hy vọng sanh được nhiều con trai nối dõi cho họ. Ngay từ lần đầu quan sát đôi chân chị, với kinh nghiệm sẵn có, dì Quảng xác quyết là chị sẽ có đôi chân nhỏ bé, hoàn hảo nhất vùng, nên đã manh nha ý định mai mối cho chị vào gia đình vọng tộc.

Ngược lại, với hoàn cảnh gia đình tôi như chị thấy đó, những gia đình khá giả trong vùng không chấp nhận cầu thân với gia đình tôi, trừ khi tôi chấp thuận gả vào những gia đình thấp kém hơn, mà tôi lại chẳng biết làm lụng chân tay, nên đã dì đã nhờ chị dạy tôi biết bao nhiêu thứ. Nói thật, tôi đã về nhà dạy lại cho mẹ tôi, nhưng biết sao? Bà không thể nào làm những việc ấy được. Bà đã quen nhung lụa, quen kẻ hầu người hạ rồi.

          Tôi nghĩ rằng mẹ của Tuyết Hoa cứ hoài niệm những kỷ niệm xa xưa đã không còn tồn tại nữa. Sau khi nghe Tuyết Hoa kể, tôi nghĩ cô cũng có những luyến tiếc quá khứ vàng son. Quen Tuyết Hoa bao năm rồi, tôi nghĩ cô là người rất sâu sắc, cô hiểu rõ rằng một người con gái phải không có tì vết, phải chau chuốt nhan sắc cho sáng rỡ và hoàn toàn không lo nghĩ gì cả. Cũng có thể cô đã nghĩ rằng sự đời thay đổi không lường, biết đâu ngày nào đó, mọi việc lại trở lại như xưa?

          - Chính nhờ chị mà tôi học hỏi được nhiều thứ để đối diện với cuộc sống mai sau của tôi. Nếu không, thì suốt đời tôi cũng không biết đến công việc nhà là gì.

          Đúng thế, khi mới quen tôi, Tuyết Hoa vụng về và không bao giờ thoải mái cả. Cho đến nay, tôi nghĩ rằng sự nhiệt tình của Tuyết Hoa là cách để cô đối phó với những sự tầm thường trong đời sống hàng ngày. Nhưng bây giờ tôi hiểu rằng Tuyết Hoa thà là chịu trốn lánh trong thế giới thanh cao, còn hơn là hạ mình chấp nhận những sự xấu xa, tầm thường dưới mắt cô.

          - Nhưng nhà của chị rộng lớn hơn nhà tôi nhiều, - tôi nói một cách vụng về với mục đích an ủi cô, và chị lại có….

          - … phải, - Tuyết Hoa ngắt lời tôi, có một bà mẹ chẳng giúp gì cho tôi được, và một người cha nghiện ngập. Chưa kể còn có anh chị em đã lần lượt từng người một bỏ rơi chúng tôi.

          - Nhưng chĩ sẽ lấy chồng…

          Tôi khựng lại, chợt nhớ đến cái hôm mà bà Cựu leo lên lầu nhà tôi, cãi nhau với bà Quảng. Có phải bà Cựu đã nói đúng về việc hôn phối của Tuyết Hoa? Tôi cố moi óc tom góp lại những chuyện cũ, nhưng tôi nhớ dường như Tuyết Hoa chưa từng nói gần nói xa gì đến người chồng tương lai của cô. Cũng chưa bao giờ cho tôi xem sính lễ của nhà trai gửi cho cô. Chúng tôi có ngồi thêu chung vài mảnh vải, nhưng Tuyết Hoa nói đó chỉ là những việc nhàm chán thường nhật thôi.

          Một ý nghĩ khủng khiếp vừa thoáng qua đầu tôi. Chắc chắn là Tuyết Hoa sẽ được gả vào một gia đình thật tầm thường. Vấn đề ở chỗ nó tầm thường đến mức độ nào?

          - Dì tôi đã làm hết khả năng. Tuyết Hoa nói như đi vào trong ý nghĩ của tôi. Nhưng tôi cũng không lấy được một người nông dân nữa kìa.

          Tim tôi hơi se lại, vì đó địa vị của cha tôi.

          - Chắc là một người buôn bán? Tôi hỏi.

          Tôi chắc là một nghề gì không lấy làm danh giá cho lắm, nhưng cho phép Tuyết Hoa có thể trở lại cuộc sống của một người con gái bình thường.

          - Tôi sẽ lấy chồng ở làng Tân Cự, như dì Quảng vẫn nói đó, nhưng gia đình chồng tôi…

          Cô hơi ngập ngừng:

          - … họ làm nghề giết thú vật, xẻ thịt để bán!

          Oh, là la! Thật là một cuộc ghép duyên tệ nhất mà tôi không tưởng tượng ra được! Chồng của Tuyết Hoa chắc là có chút tiền, nhưng lại làm một nghề xấu xa tồi tệ như vậy. Tôi thả hồn về những hình ảnh của tháng trước, trong lúc mọi người xôn xao chuẩn bị cho đám cưới của tôi, tôi còn như thấy được cái cảnh bà Quảng ngồi cạnh Tuyết Hoa, không ngừng vuốt ve như để an ủi Tuyết Hoa. Rồi tôi còn nhớ là bà Quảng đã kể câu chuyện "Bà vợ của ông Chu", mà bây giờ tôi mới hiểu là bà đã ám chỉ chính đứa cháu gái của bà chứ không phải tôi.

          Tôi không biết nói sao. Sự thật đã phơi bày cho tôi từng mảnh từng mảnh một, ngay từ khi tôi lên chín tuổi, nhưng chính là tôi đã không nhận ra mà thôi. Tôi thấy có bổn phận phải giúp người chị em kết nghĩa của tôi vượt qua những sự lo âu hiện nay, làm cho cô tin tưởng là mọi việc rồi sẽ tốt đẹp.

          Tôi quàng tay lên vai Tuyết Hoa:

- Ít nhất, chị không bị đói, cứ cho là tôi nói sai đi. Còn những trường hợp khác còn thê thảm hơn thế nữa kìa, khi chúng ta là đàn bà, thì phải chịu thôi.

Nhưng nói thật, tôi đâu có thấy cảnh  nào khác đâu! Tuyết Hoa úp mặt lên vai tôi và khóc nức nở. Trong khoảng khoắc, cô lùi lại và thình lình đẩy tôi ra. Đôi mắt cô mờ đi vì nước mắt, nhưng lần này không phải là buồn rầu nữa, mà ánh lên vẻ hoang dại và hung dữ:

- Tôi không cần chị thương hại. Cô nói.

Chưa bao giờ trong đầu tôi nẩy ra cái ý tưởng thương hại. Tôi chỉ thấy buồn và hoang mang, hỗn độn. Lá thư Tuyết Hoa đưa cho tôi trong kiệu hoa ngày cưới, và chuyện cô đã vắng mặt trong buổi lễ đọc lưu bút của tôi đã làm tôi khổ sở. Bây giờ, tôi lại đương đầu với bao nhiêu là tiết lộ mới thật là khủng khiếp. Tuy nhiên, giữa những chuyện lộn xộn không minh bạch mà tôi là nạn nhân, thì tôi cảm thấy như là Tuyết Hoa manh nha phản bội tôi. Tại sao bao nhiêu năm trời nay, Tuyết Hoa không hề tiết lộ với tôi điều gì? Có phải trong thâm tâm, chính cô cũng không tin vào định mệnh của cô sau này? Rằng đầu óc cô lúc nào cũng bay bổng trên mây, cô thật sự nghĩ rằng sẽ thoát khỏi số kiếp? Rằng đôi chân cô sẽ bay bổng lên chín từng mây, cùng với chim chóc? Hay chỉ giản dị là cô muốn giữ thể diện, cho nên cứ giữ kín bí mật cho chính mình, hy vọng không bao giờ có ngày hôm nay?

Lẽ ra tôi phải nổi nóng khi khám phá ra là Tuyết Hoa đã dối trá tôi như thế, nhưng phản ứng của tôi lại ngược hẳn. Chuyện gì cũng chỉ là hư không, tôi tin vào một cái gì đó đi ra ngoài sự thông thường, và không để ý đến sự việc xảy ra trước mắt nữa.

Hãy tiên trách kỷ đã! Có phải cũng chính là lỗi tại tôi không? Tại sao là chị em kết nghĩa mà tôi không hề hỏi Tuyết Hoa những chuyện cần thiết trong quá khứ cũng như tương lai sắp tới của cô?

Tôi chỉ mới mười bảy tuổi thôi, suốt mười năm cuối cùng, tôi giam mình trong căn phòng trên lầu, giữa những người đàn bà cùng nhau âm mưu đặt để tương lai tôi. Kế đến là những người đàn ông trong nhà cũng che dấu sự thật. Nói cho cùng, người chính yếu vẫn là mẹ tôi. Có thể lúc đầu bà Quảng cũng có chút lạm dụng, nhưng chỉ ít lâu sau mẹ đã biết sự thật, và đã quyết định dấu, không nói với tôi. Nhưng cảm nghĩ của tôi về mẹ trong chuyện này có thể giảm nhẹ: tôi hiểu lòng thương yêu trìu mến của mẹ đối với tôi, muốn tôi học hỏi những điều hay nơi Tuyết Hoa, hy vọng tôi trở nên thanh cao, vươn lên được để có thể đạt được cuộc hôn nhân mà cả gia đình đặt kỳ vọng vào đó.

Tôi rơi vào một trạng thái hết sức hỗn loạn. Tôi không hiểu chính tôi, tôi không biết chuyện gì là quan trọng. Tôi chỉ là cô bé thiển cận, tin rằng mình biết nhiều thứ, vì tôi vừa cưới xong. Tôi không biết làm sao kiềm chế hết những tình cảm của mình, hay chôn vùi thật sâu trong tận cùng tâm khảm. Nhưng cũng khó mà trách tôi: tôi như vừa nuốt vào bụng một miếng thịt đã ôi, và đang đợi nó mục dần trong cơ thể của tôi.

Lúc ấy tôi chưa là Lữ phu nhân mà mọi người trọng vọng như ngày nay, vì sự thanh lịch, vì cá tánh kiên cường, và lòng thương người. Tuy nhiên, có một cái gì nảy sinh trong tôi, ngay từ lúc tôi đặt chân vào nhà của Tuyết Hoa. Tuy vừa nuốt một cục thịt mà tôi vừa ám chỉ, nhưng tôi vẫn phải giả đò như chuyện đó không ảnh hưởng gì đến tôi cả, bằng cách tận dụng hết sức lực và thiện chí. Tôi muốn làm cho gia đình chồng tôi được hãnh diện bằng cách chứng tỏ sự nhân từ và thông cảm của tôi đối với người khác, cho dù là trong những tình huống bi đát nhất. Nhưng tôi lại vụng về không biết phải làm sao, vì đó không phải là bản tính tự nhiên của tôi.

Chỉ còn một tháng nữa, Tuyết Hoa phải đám cưới rồi. Tôi và mẹ của Tuyết Hoa cùng giúp cô lau chùi nhà cửa. Ít nhất cũng phải cho khang trang một chút khi nhà trai đến, mặc dù là không làm sao xua đuổi được cái mùi thuốc phiện nồng nặc trong nhà. Chúng tôi đốt nhang lên, trải dấm ra nhà, mở hết cửa sổ dù là trời đang lạnh, nhưng không có cách chi loại được cái mùi kinh khủng nhớp nhúa căn nhà một cách thảm hại.

Ngày ngày tôi chứng kiến hai mẹ con Tuyết Hoa sống trong sự khủng bố của người đàn ông. Ông ta không bao giờ ra khỏi phòng. Tôi thấy Tuyết Hoa và mẹ cô co dúm người lại và chỉ dám nói thì thầm mỗi lần ông ta lớn tiếng la lối. Cuối cùng, tôi cũng nhìn thấy ông, người cáu ghét trong bộ quần áo cũ rách và hôi hám. Dù đã xuống đến độ thê thảm như vậy, mà ông ta vẫn dễ dàng cáu kỉnh và nổi giận đùng đùng như một đứa trẻ bị phật ý. Giá như ngày xưa thì chắc là ông đã ra tay đánh vợ và con ông rồi. Nhưng giờ đây, ông chỉ còn là một con người bị tàn phá bởi nha phiến, thì tốt hơn là cứ nằm chết dí một chỗ như đồ bỏ.

Tôi cố gắng hết sức để không lộ tình cảm ra mặt. Nước mắt nhỏ ra trong căn nhà này đã đủ lắm rồi, tôi không cần phải thêm nước mắt của tôi vào nữa. Một hôm tôi nói Tuyết Hoa cho tôi xem đồ tế nhuyễn cô sẽ mang sang nhà chồng. Trong thâm tâm, tôi tự nói thì ra cái gia đình ông đồ tể này cũng không đến nỗi tệ lắm cho Tuyết Hoa. Tôi nhìn những mảnh lụa mà Tuyết Hoa thêu. Gia đình này chắc cũng có chút của, ngoại trừ đời sống tinh thần không được trong sạch cho lắm.

Tuyết Hoa mở một cái cóp bằng gỗ và trải ra giường tất cả những thứ cô thêu may. Tôi nhận ra đôi giầy bằng lụa xanh da trời có thêu những cụm mây mà Tuyết Hoa đã may vào ngày mà em họ Diễm Nguyệt của tôi qua đời. Tôi thấy một chiếc áo cánh cũng bằng lụa xanh đó. Rồi Tuyết Hoa bày ra năm đôi giầy, xếp cạnh nhau, tất cả đều cùng một loại vải, nhưng thêu khác nhau. Tôi nhìn thấy những thứ đó sao quen thuộc quá, và thình lình, tôi hiểu ra tại sao: cô đã may bằng chiếc áo dài mà cô đã mặc trong lần đầu tiên chúng tôi gặp gỡ.

Tôi nhìn kỹ những thứ khác trong rương. Tôi nhìn thấy màu vải tím nhạt và trắng mà Tuyết Hoa vẫn mặc mỗi khi đi ra ngoài khi cô lên chín, bây giờ được dùng để may thành áo ngắn. Tôi cũng nhận ra xấp vải bông trắng và vải chàm mà xưa kia tôi vẫn thích, được dùng để nối vào áo cánh, khăn san hay thắt lưng. Còn lại thì dùng để may trang trí cho những tấm chăn bông. Tuyết Hoa không nhận được nhiều vải vóc từ bên nhà chồng, nên cô đã dùng những quần áo cũ đã chật để may đồ tế nhuyễn mang theo.

Tôi thành thật khen, khi nhìn kết quả việc làm của cô:

- Chị sẽ là một người vợ đảm đang.

Từ lâu lắm rồi, lần đầu tiên tôi được thấy lại nụ cười của Tuyết Hoa. Tôi luôn luôn yêu thích tiếng cười trong như pha lê ấy. Tôi cũng cười góp theo, bởi vì tất cả những gì Tuyết Hoa làm đã vượt quá sự tưởng tượng của tôi. Tình cảnh của Tuyết Hoa, cách thức mà cô tự lo cho bản thân, thật sự đã là những gì đi ra ngoài sự thật, vừa bi thảm, vừa buồn cười, vừa ngậm ngùi.

          - Những quần áo này của chị, - tôi nghẹn ngào…

          - Lúc đầu, cũng không hẳn là của tôi nữa, - Tuyết Hoa hít một hơi dài rồi trả lời. Mẹ tôi đã dùng quần áo trong rương đồ cưới của mẹ, để may cho tôi bộ đồ mà tôi mặc lần đầu tiên đi gặp mặt chị. Bây giờ tôi lại dùng nó để may lại những đồ sẽ đem sang nhà chồng.

          Hèn gì, tôi đã từng nghĩ rằng bộ đồ mà Tuyết Hoa mặc trông có vẻ hơi quá trịnh trọng đối với một cô bé ở tuổi cô lúc ấy. Tôi cũng nhìn thấy vài sợi chỉ đã sờn ra khỏi tay áo hay cườm tay. Tôi chợt thấy tôi ngu xuẩn làm sao! Như con gà ngơ ngác khi thấy trời giông bão. Tôi đỏ mặt hồi lâu trước khi bật cười.

          - Chị có nghĩ rằng mẹ chồng tôi sẽ khám phá ra không? Tuyết Hoa hỏi tôi.

          - Làm sao tôi biết được? Riêng tôi, tôi chỉ thấy nổi lửa…

          Tôi không nói hết câu, vì tôi thấy buồn cười, mà chỉ có đàn bà chúng tôi mới hiểu thôi. Từ lúc sanh ra, mọi người đã coi chúng tôi chẳng có giá trị gì, hay chỉ là một gánh nặng cho gia đình. Tiếp đó là lấy chồng và đóng đô bên nhà chồng, cùng chia chăn gối với một người mà mình chưa hề biết mặt, và tuân lệnh mẹ chồng. Nếu may mắn có được vài đứa con trai thì may ra có được địa vị bên nhà chồng. Nếu không, thì phải nghe những lời đay nghiến của mẹ chồng, chịu những lời nhạo báng của những bà thiếp của chồng, chưa kể đến sự quấy phá của con gái của chính mình. Chúng tôi phải dùng đến những mánh khoé của phụ nữ, mà lúc ấy mười bẩy tuổi, chúng tôi cũng chưa hiểu hết. Ngoài ra, thì chúng tôi chỉ biết phục tùng người khác thôi.

          Chính vì thế mà giải pháp tháo vát của Tuyết Hoa và mẹ cô đã làm tôi tức cười, chính vì sự cực đoan của cô. Mẹ cô đã dùng quần áo trong rương cưới của bà để may cho con gái. Rồi Tuyết Hoa lại cắt xén lần nữa để đem sang nhà chồng, để chứng tỏ sự đảm đang của một cô gái đang sẵn sàng trở thành một… đồ tể phu nhân! Tất cả những thứ đó là công việc của phụ nữ, mà đàn ông thì coi đó là một thứ công việc tô điểm.

          Nhưng còn nhiều thứ phải làm nữa. Tuyết Hoa còn phải đem quần áo, vật dụng cá nhân sang nhà chồng để đủ dùng cho đến cuối đời, mà bây giờ, nhìn rương quần áo của cô thì còn khuya mới đủ. Tôi cố ước tính xem cần phải làm những gì nữa trong vòng một tháng sắp tới đây.

          Khi bà Quảng đến để tham dự vào lễ chuẩn bị Vu Quy cho Tuyết Hoa, tôi gặp riêng bà, năn nỉ bà đi một chuyến sang nhà cha mẹ ruột tôi để mang cho tôi một ít đồ cần thiết.

          Người đàn bà này từ lâu tôi đã không ưa, bà đã lừa dối tôi, chứ không phải là lừa dối gia đình tôi. Tôi chưa bao giờ thật sự quan tâm đến bà, và hôm nay tôi lại càng thấy chán ghét bà hơn nữa, vì cái tính giả dối, tráo trở của bà. Thế nhưng bà ngoan ngoãn nghe lời tôi. Dù gì, địa vị của tôi lúc này đã hơn hẳn bà….

          Mấy tiếng đồng hồ sau, bà Quảng trở lại với một chiếc giỏ đựng đầy bánh trái mà nhà chồng tôi đã đem sang cho gia đình tôi sau hôm đám cưới, thịt heo quay, và rau trái trong vườn nhà tôi. Một chiếc giỏ khác đựng đầy vải vóc mà tôi để sẵn định bụng sẽ cắt may khi tôi trở lại nhà.

          Tôi không bao giờ quên được hình ảnh của bà mẹ của Tuyết Hoa khi bà ăn thịt thà do bà chị ruột đem về. Được giáo dục trong một xã hội thượng đẳng, cho dù sa sút, bà vẫn không nhào vào đĩa thịt để gắp như những người trong gia đình tôi. Bà dùng đũa, nhẹ nhàng gắp từng miếng thịt, khoan thai đưa lên miệng. Cử chỉ ấy, phong cách ấy của bà đã cho tôi một bài học mà tôi không bao giờ quên. Dù ở trong hoàn cảnh nào, giàu có hay sa sút, bao giờ cũng phải chứng tỏ giấy rách phải giữ lấy lề.

          Tôi vẫn chưa xong chuyện với bà Quảng, tôi nói:

          - Chúng ta cần có vài thiếu nữ trong dịp lễ chuẩn bị Vu Quy cho Tuyết Hoa. Bà có thể mời chị hai của Tuyết Hoa về không?

          - Không bao giờ nhà chồng cô ấy bằng lòng cho cô ấy đặt chân vào nhà này nữa.

          Tôi chỉ yên lặng nghe mà không hiểu nổi tại sao lại đến nước đó.

          - Nhưng chúng ta cần vài cô gái, tôi nhấn mạnh.

          - Chẳng có ma nào cả Bạch Huệ ạ, - bà Quảng đáp lại, thành tích của ông em rể tôi bất hảo quá rồi. Chẳng có gia đình nào dám cho con gái, nhất là con gái chưa chồng, bước chân vào ngưỡng cửa nhà này. Nếu tôi gọi mẹ và thím cô đến có được không? Họ hiểu rõ hoàn cảnh.

          - Không!

          Tôi chưa sẵn sàng để đương đầu với mẹ  và thím tôi, và Tuyết Hoa cũng không cần ai tội nghiệp. Điều cần thiết cho Tuyết Hoa lúc này là những cô thiếu nữ trong làng.

          Hôm đám cưới, tôi có được một ít tiền lì xì. Tôi dúi vào tay bà Quảng một ít:

          - Bà đừng trở lại trước khi tìm được ba cô gái, - tôi ra lệnh. Bà đưa cho cha của họ một ít tiền mà bà thấy vừa phải, và nói rằng có tôi bảo đảm cho sự an toàn của con gái họ.

          Tôi chắc chắn rằng với địa vị cô dâu mới trong một gia đình danh giá nhất ở Cự Tống sẽ khiến mọi người an lòng hơn. Nhưng tôi chỉ dám giữ điều này cho riêng mình tôi thôi, vì chắc chắn rằng cha mẹ chồng tôi sẽ không thích chút nào khi thấy tôi dùng thanh thế gia đình chồng như thế. Tôi thấy rõ là bà Quảng đã nao núng. Đương nhiên là bà ta còn làm nhiều mối ở Cự Tống và sẽ trục lợi dựa vào chuyện bà đã mối mai cho tôi được vào nhà họ Lữ. Bà cũng biết giữ uy tín chứ, nhưng riêng trong chuyện của tôi, bà đã đi ra ngoài một số lề lối, chính vì ích lợi của Tuyết Hoa, cháu của bà. Sau vài giây suy nghĩ, bà Quảng ngẩng mặt lên và rời nhà.

          Hôm sau, bà trở lại với ba cô gái con nhà tá điền thuê ruộng của gia đình nhà chồng tôi. Tóm lại, hoàn cảnh ba cô ấy y hệt như hoàn cảnh gia đình của tôi, chỉ khác là họ không có cái may mắn của tôi, cái may mắn có được nhờ bàn chân nhỏ nhắn, hoàn hảo nhất vùng!

          Tôi chỉ mong muốn sao Tuyết Hoa cũng có được một dịp lễ chuẩn bị Vu Quy thật đẹp. Tôi dạy cho ba cô gái hát và tìm những câu thích hợp nhất để viết vào lưu bút đám cưới của Tuyết Hoa. Họ chẳng biết viết gì, dĩ nhiên thôi, vì họ không quen biết Tuyết Hoa. Khi họ viết thiếu nét, tôi điền thêm vào cho họ. Khi họ chểnh mảng trong công việc may vá, tôi ghé tai thì thầm rằng cha mẹ các cô sẽ quở trách nếu các cô không làm đúng những gì đã giao ước.

          Tôi nhớ lại hồi đám cưới chị hai của tôi, chị thật buồn khi rời xa gia đình, nhưng mọi người đều nghĩ rằng chị sẽ được một cuộc hôn phối tốt đẹp. Những bài hát được chọn do đó mà không sầu thảm cũng không quá bi đát thất vọng. Đến lượt tôi đám cưới, là những tình cảm vui buồn lẫn lộn. Buồn vì xa gia đình thì ai mà chẳng có, nhưng vui trong ý nghĩ rằng cuộc sống của tôi sẽ thay đổi, sẽ cải thiện hoàn toàn. Tôi đã hát để tạ ơn cha mẹ nuôi nấng, và đã cố sức để bảo đảm tương lai cho tôi. Nhưng bây giờ, là đám cưới của Tuyết Hoa, thì chẳng có gì là chắc chắn hết. Không ai biết được cuộc sống sau này của cô sẽ ra sao. Do đó mà những bài hát cũng đượm đầy ưu tư và phiền muộn.

          Một hôm, Tuyết Hoa hát:

          - Mẹ yêu! Cha con đã không thể nuôi nấng con trên một ngọn đồi chan hòa ánh sáng, cho nên con phải vĩnh viễn sống trong bóng tối cuộc đời…

          - Đúng thế! - Mẹ cô hát đối lại, chẳng khác gì một đóa hoa đẹp bị vùi trên một đống phân trâu...

          Tôi và ba cô gái làng không thể nào tán thành những lời hát ấy, nhưng chúng tôi vẫn cùng cất giọng, hát đi hát lại cái điệp khúc ấy. Những ngày lễ trôi qua như thế, trong bầu không khí không được ngột ngạt, nhưng cố giữ đúng phong tục.

         

          Thời tiết càng ngày càng trở lạnh. Em trai út của Tuyết Hoa ghé về nhà để dán thêm giấy trước chấn song cửa sổ, nhưng cũng không ngăn được hơi ẩm tràn ngập vào phòng. Những ngón tay của chúng tôi không ngừng đỏ và sưng phồng lên vì lạnh. Ba cô gái nhút nhát không dám hé môi nói gì hết, nhưng công việc không thể cứ tiếp tục trong tình trạng ấy. Tôi đề nghị tất cả xuống nhà dưới, ngồi trong bếp, ít nhất còn có được chút hơi ấm của chiếc hỏa lò. Bà Quảng và mẹ của Tuyết Hoa đồng ý, chứng tỏ một lần nữa rằng tôi cũng có chút ảnh hưởng.

          Từ lâu, tôi đã viết dần dần vào cuốn sổ lưu bút của Tuyết Hoa, những lời chúc tương lai rạng rỡ. Nhưng nay thì mọi việc đã không như ý tôi nghĩ nữa, tôi lại phải viết lại từ đầu. Tôi chọn bìa sách bằng một loại vải chàm, bọc bên ngoài những trang giấy gạo, khâu lại với nhau bằng chỉ trắng. Bên trong, nơi góc sách, tôi cắt dán những mảnh giấy nhỏ để trang trí.

          Trang đầu, tôi phải viết những lời từ biệt Tuyết Hoa. Những trang sau là bài "đít cua" của tôi giới thiệu với gia đình nhà chồng Tuyết Hoa. Những trang cuối cùng phải để trắng, để sau này Tuyết Hoa có thể viết thêm, hay để cô vẽ lại những mẫu thêu. Tôi mài mực, và dùng đầu cọ kẻ những nét chữ "bí mật" của chúng tôi. Mỗi nét phải thật toàn hảo tối đa. Tay tôi không được phép run rẩy vì những xúc động mà tôi trải qua trong những ngày gần đây.

           Ba mươi ngày lễ trôi qua, lại đến ngày "Hoài Niệm". Tuyết Hoa ngồi trên lầu, mẹ cô ngồi ở bậc thang thứ tư. Chúng tôi đã được rèn luyện từ mấy ngày trước, và mặc dù cha Tuyết Hoa vẫn là một mối đe dọa cho chúng tôi, tôi cũng vẫn cất tiếng hát, để thố lộ tình cảm sâu xa và những lời nhắn nhủ cuối cùng của tôi.

          - Một người vợ ngoan hiền, không chán ghét những tật xấu của chồng, - tôi ê a hát mà trong lòng nghĩ đến câu chuyện "bà vợ của ông Chu". Hãy giúp gia đình chị đạt được hoàn cảnh sống tốt đẹp hơn. Vâng lời và phục tòng chồng mình.

          Mẹ và dì của Tuyết Hoa hòa giọng với tôi.

          - Nếu muốn làm người phụ nữ tốt, chúng ta phải vâng lời, hai bà cùng hát khiến ai có nghe hai giọng của họ vang cùng nhịp điệu thì không thể nghi ngờ sự trìu mến mà hai chị em họ dành cho nhau. Chúng ta phải chứng tỏ hy sinh, nhún nhường, giữ lòng trong sạch, và phải tháo vát công việc nhà. Vì hôn nhân, chúng ta sẽ phải lìa xa gia đình, số phận chúng ta đã định như thế. Khi về bên nhà chồng, một cuộc sống mới sẽ chờ đón chúng ta, có thể tốt hơn hay xấu hơn.

          - Suốt thời thơ ấu, - tôi hát để nhắc nhở Tuyết Hoa, chúng ta đã trải qua biết bao ngày tháng sung sướng bên nhau. Ngày tháng trôi qua, không chia lìa được chúng ta.

          Tôi lập lại những lời chúng tôi đã từng trao đổi với nhau trên tấm quạt, và những câu chúng tôi cùng viết với nhau trong tờ khế ước kết nghĩa chị em.

          - Chúng ta cùng nhỏ nhẹ nói với nhau, cùng chọn chung màu chỉ để thêu thùa bên nhau.

          Tuyết Hoa xuất hiện nơi đầu cầu thang, giọng của cô bập bềnh trôi xuống đến tận chỗ tôi ngồi:

          - Tôi những tưởng là chúng ta cùng bay lượn với nhau mãi mãi, như đôi chim phượng cùng tung cánh. Ngờ đâu, giờ đây tôi như một cành cây gẫy, trôi xuống tận đáy ao. Chị nói rằng chúng ta sẽ vẫn bên nhau như những ngày xưa cũ. Tôi tin chị, nhưng ngày nay, thềm nhà tôi quá đơn sơ, so với ngưỡng cửa huy hoàng của chị.

          Tuyết Hoa bước xuống, ngồi cạnh mẹ cô. Chúng tôi chờ đợi vài giọt lệ ngậm ngùi, nhưng Tuyết Hoa không hề nhỏ lệ. Cô luồn cánh tay cô dưới cánh tay của mẹ cô, chăm chú nghe mấy cô gái làng hát mấy bài vè. Ngắm nhìn Tuyết Hoa, tôi không khỏi ngạc nhiên vì thái độ dửng dưng không biểu lộ tình cảm của cô. Tôi nhớ là tôi đã khóc mùi mẫn trong buổi lễ này trước ngày cưới của tôi, dù là lúc đó tôi rất kích thích vì chuyện đám cưới. Cảm giác của Tuyết Hoa có giống như tôi không? Chắc chắn là cô sẽ nhớ mẹ lắm, nhưng cô có thật sự nuối tiếc người cha hư hỏng, nghiện ngập của cô không? Hay có tiếc nuối cái cảm giác mỗi sáng thức dậy trong căn nhà trống vắng, như nhắc nhở định mệnh khắt khe của gia đình cô?

          Thật là một viễn ảnh mịt mờ khi phải vào sống trong một gia đình đồ tể sát sanh, nhưng nói cho cùng, điều đó có tệ hơn nơi đây không? Tôi và Tuyết Hoa đều sinh ra tuổi con Ngựa: cái ý chí bay xa và mạo hiểm của Tuyết Hoa không mạnh mẽ như tôi ư? Thế mà…. hai chúng tôi, hai chị em kết nghĩa sinh cùng ngày, cùng tháng, cùng năm, tôi vẫn dậm chân trên đất, còn Tuyết Hoa, với nhan sắc và sự thanh lịch của cô, lại chỉ toàn là bất hạnh và trốn chạy.

          Hai ngày sau, kiệu hoa đến đón Tuyết Hoa. Lần này, Tuyết Hoa cũng không nhỏ lệ và cũng không cố gắng chống chọi nữa. Cô dừng lại đôi chút trước nhóm người thưa thớt đưa dâu, rồi bước lên chiếc kiệu hoa trang trí đơn sơ, nghèo nàn. Ba cô gái làng mà tôi thuê, không cần chờ chiếc kiệu hoa khuất bóng ở góc đường, đã vội chấm dứt nhiệm vụ và cắm đầu chạy về nhà cha mẹ. Mẹ của Tuyết Hoa lui vào trong nhà, còn lại tôi một mình với bà Quảng.

          - Có lẽ cháu coi tôi như là một người xảo quyệt, - bà bắt đầu câu chuyện. Nhưng ít nhất cháu phải hiểu rằng tôi không hề dối gạt cha mẹ cháu. Rất hiếm khi mà một người đàn bà có thể thay đổi được số mệnh của mình, chứ đừng nói chi đến việc thay đổi số mệnh của một người khác, nhưng...

          Tôi đưa tay lên ngăn lại để bà không nói lan man những câu xin lỗi nữa. Tôi đang cần hỏi bà một câu khác:

          - Khi bà đến nhà cháu lần đầu tiên, đã từ bao nhiêu năm nay rồi, để quan sát đôi chân của cháu…

          - Cháu muốn biết có đúng là cháu có thật sự khác thường không?

          Thấy tôi tỏ vẻ đồng ý, bà Quảng nhìn thẳng tôi:

          - Thật không dễ dàng để kiếm một người kết nghĩa. Tôi đã hỏi rất nhiều thầy bói tướng trong vùng để tìm kiếm một cô gái khả dĩ có thể kết nghĩa với cháu gái của tôi. Thật sự tôi cũng muốn tìm một gia đình khá giả hơn, nhưng ông thầy tướng họ Hứa đã rơi đúng vào cháu. Tám đặc điểm của cháu phù hợp từng điểm, từng điểm một với Tuyết Hoa. Do đó, ông đã mau mau chạy sang làng tìm tôi.

          Đúng! Quả thật cháu có đôi chân thật khác thường. Qua đó, cho thấy số mệnh của cháu đã được thấy từ trước, cho dù cháu có kết nghĩa với Tuyết Hoa hay không. Và ngày hôm nay, tôi hy vọng số phận của Tuyết Hoa cũng sẽ được cải thiện nhờ sự kết nghĩa với cháu. Tôi đã phải đặt ra nhiều chuyện nói dối, chỉ vì muốn chừa lại cho Tuyết Hoa một chút hy vọng trong cuộc đời nó. Tôi chưa bao giờ ân hận vì việc làm của tôi, cũng không bao giờ cần phải nói câu xin lỗi với cháu về chuyện này.

          Nhìn khuôn mặt đầy son phấn của bà Quảng, tôi muốn cân nhắc những chuyện mà bà vừa tiết lộ. Tôi thật muốn bày tỏ là tôi ghét bà thậm tệ đến thế nào! Nhưng làm sao mà tôi có thể làm vậy được chứ? Bà đã khiến trời đất cũng phải động lòng thương cảm, khi ra tay cứu giúp một người thân yêu của bà, mà đối với tôi là người mà tôi yêu quý nhất trên đời.

         

          Ba hôm sau, ngày lễ đọc lưu bút của Tuyết Hoa trước gia đình chồng. Chị hai của Tuyết Hoa không có mặt, riêng tôi thì tôi phải đến với Tuyết Hoa. Gia đình nhà chồng tôi gửi cho tôi một chiếc kiệu, và tôi đã đến làng Tân Cự không tốn nhiều thời gian. Nhà không có một băng chữ chào mừng, không tiếng kèn tiếng trống nào báo hiệu ngày vui trong làng ngày hôm ấy. Tôi xuống kiệu, bước xuống con đường nhỏ bẩn thỉu, trước một căn nhà thấp, mái nghiêng. Trước cửa có mấy đống củi chồng chất lên nhau. Phía bên phải cánh cửa, là một cái nền phẳng bằng gạch, được quây lại thành một cái chậu lớn khổng lồ.

          Lẽ ra phải có một cuộc tiếp đón nho nhỏ dành cho tôi, nhưng không có gì cả. Trên nguyên tắc, những người đàn bà có máu mặt nhất trong làng sẽ tiếp đón tôi. Thật ra, họ có mặt ở đấy, nhưng làng này cũng cách xa Cự Tống hàng mấy dặm, giọng nói khó nghe của họ đã chứng tỏ mức sống thấp kém của dân trong làng.

          Đến giờ đọc sách lưu niệm, tôi được mời vào phòng khách. Thoáng nhìn, trong nhà bài trí gần giống như nhà cha mẹ ruột của tôi. Những chùm ớt khô treo tòn ten trên sà nhà. Hai bên tường làm bằng gạch thô. Tôi nghĩ rằng căn nhà giống như nhà của tôi, thì chắc những người trong nhà này cũng thế. Hôm ấy, tôi chưa được gặp chồng của Tuyết Hoa, nhưng tôi gặp mẹ chồng của cô. Thật là một bà già khủng khiếp. Hai con mắt bà gần nhau đến nỗi như dính vào với nhau. Đôi môi mỏng quẹt, trông là đã biết là thiển cận và xấu tính.

          Đến lượt Tuyết Hoa vào phòng. Cô ngồi xuống một cái ghế đẩu, trước chồng sách lưu niệm, ngoan ngoãn chờ đợi thủ tục kế tiếp. Tôi có cảm tưởng là tôi thay đổi nhiều sau ngày cưới, nhưng Tuyết Hoa thì không. Tôi không tìm thấy một sự đổi khác nào nơi Tuyết Hoa. Mấy bà trong làng quây quần chung quanh chồng sách lưu niệm, và bắt đầu giở từng trang với những ngón tay thô kệch, kém sạch sẽ. Họ trao đổi, trầm trồ cách khâu cuốn sách hay cách trang trí bên trong, nhưng không ai phê bình gì về tuồng chữ bay bướm hay nội dung được viết trong đó. Một lúc sau, căn phòng đã đầy nhóc các bà.

          Mẹ chồng của Tuyết Hoa đền ngồi trên một băng ghế. Đôi chân của bà không đến nỗi bị méo mó vì tai nạn lúc bị băng chân như đôi chân của mẹ tôi, nhưng cũng bị trục trặc sao đó, chứng tỏ địa vị thấp kém của bà trong xã hội, cũng như giọng nói khàn đục khi bà cất tiếng. Bà ngồi xuống, nhìn Tuyết Hoa một cách không mấy thiện cảm và thình lình quay sang, lạnh lùng nhìn tôi, chẳng có chút cảm tình:

          - Tôi nghe nói cô vừa được gả vào gia đình họ Lữ, - bà nói. Cô thật là may mắn.

          Bà nói những chữ nghe ra thật là lịch sự, nhưng cái giọng nói cùng ánh mắt của bà đã hàm ý rằng tôi cũng chẳng là cái thớ gì cả.

          - Tôi cũng nghe nói là cô và con dâu của tôi được học thành thạo Nữ tự? Trong làng chúng tôi, thì phụ nữ không có thì giờ cho cái môn giải trí đó. Chúng tôi biết đọc Nữ tự, nhưng chúng tôi thích nghe hơn…

          Tôi không tin một chữ nào trong cái bài "đít cua" của bà ta. Nói đại ra là không biết đọc cho rồi, như mẹ tôi. Tôi nghĩ những người đàn bà khác trong làng cũng thế: hồi nãy, có ai phê phán gì về nội dung của những cuốn lưu bút đâu!

          - Chúng tôi không có cần biểu lộ sự suy nghĩ của chúng tôi bằng cách viết trên mẩu giấy, - mẹ chồng của Tuyết Hoa nói tiếp, mọi người ở trong làng này đều biết là tôi như vậy rồi.

          Vài tiếng cười ồ tán thành, nhưng bà đưa tay ra dấu cho các đồng chí của bà yên lặng rồi nói tiếp:

          - Tuy nhiên, chúng tôi rất hoan nghênh được nghe các cô đọc những cuốn lưu bút viết cho con dâu tôi, cô con gái của một gia đình cao siêu ở Cự Tống, chắc không thiếu gì những lời ca tụng của người khác.

          Mỗi lời nói thốt ra từ miệng bà ta đều lộ ra sự khinh miệt, coi thường người khác. Tuy lúc ấy tôi chỉ mười bảy tuổi, nhưng tôi cũng cố gắng nhịn. Tôi cầm quyển lưu bút mà mẹ của Tuyết Hoa viết, mở ra, xem xét cẩn thận những dòng chữ lỗi lạc trong đó, trước khi cất tiếng ngâm nga:

          - «Con gái yêu! Mẹ gửi những dòng này sang gia đình mới của con. Mẹ con chúng ta đã thực sự xa cách ba hôm rồi. Sự không may đã đến với gia đình chúng ta, và bây giờ con phải lấy chồng xa, ở một nơi không quen thuộc.»

 

Mẹ của Tuyết Hoa thay đổi chủ đề một cách đột ngột, như thông lệ của loại sách này. Bà viết tiếp theo cho nhà chồng của Tuyết Hoa:

«Tôi hy vọng quí gia tộc hãy rộng lượng với con gái tôi và không chê bai chiếc rương cưới quá khiêm tốn của cháu.»

Đoạn kế tiếp nói về sự không may mắn của gia đình Tuyết Hoa, sự sa sút và khốn khổ mà cô phải chịu đựng. Nhưng tôi nhảy hẳn đoạn này, và thay thế bằng một đoạn khác do tôi tự… sáng tác (đằng nào bà ta cũng có đọc được đâu!):

«Một đứa bé ngoan ngoãn, tận tâm như Tuyết Hoa, phải được vào một gia đình xứng đáng. Cháu nó đáng được đón nhận trong một gia đình đạo đức, có phẩm chất.»

 

          Tôi đóng cuốn sách lại. Cử tọa đột nhiên im phăng phắc. Tôi lấy tiếp cuốn khác, do chính tôi viết cho Tuyết Hoa, và nhìn thẳng vào mặt của mẹ chồng Tuyết Hoa. Tôi muốn bà hiểu rằng, bên cạnh Tuyết Hoa, lúc nào cũng có tôi sẵn sàng hỗ trợ và bảo vệ cô.

          - «Người ta có thể nói rằng hôn nhân sẽ chia cách chúng ta, tôi bắt đầu hát những lời dành cho Tuyết Hoa, nhưng tâm hồn chúng ta không chia cách. Chị bị giảm sút, tôi được nâng cao. Gia đình chồng của chị sát sanh để sinh sống, gia đình chồng tôi được tôn kính nhất trong vùng. Nhưng chỗ đứng của chị trong tôi không thua kém gì chỗ đứng của chính con tim tôi. Số mạng của hai chúng ta đã gắn liền nhau. Chúng ta như chiếc cầu soi bóng trên giòng thác cuồn cuộn, và chúng ta vẫn tiếp tục sánh vai nhau đi trên đường đời.»

 

          Tôi muốn mẹ chồng của Tuyết Hoa nghe những lời tôi nói. Nhưng bà vẫn nhìn tôi với đôi mắt ngờ vực, đôi môi mím chặt lại, bất mãn ra mặt.

          Tôi tự ý thêm vào vài câu vừa nảy ra trong đầu:

- «Dù có tuyệt vọng đến đâu, cũng không nên biểu lộ trước mắt mọi người. Đừng để cho những người thô thiển tìm một cơ hội nhỏ nhoi nào để nhạo báng chị. Hãy giữ lề lối. Đừng lo lắng. Chúng ta sẽ mãi mãi là chị em kết nghĩa.»

 

Họ không để cho tôi và Tuyết Hoa trao đổi với nhau thêm một câu nào, mà dắt tôi ra thẳng chiếc kiệu đang chờ bên ngoài, để đưa tôi về nhà cha mẹ đẻ.

Khi chỉ còn một mình trong kiệu, tôi mở chiếc quạt của chúng tôi ra. Một phần ba chiếc quạt đã được viết đầy chữ trên đó, gợi lại biết bao nhiêu kỷ niệm mà chúng tôi đã ghi vào tâm khảm. Tôi hồi tưởng lại tất cả những sự việc xảy đến cho chúng tôi đến nay. Bao nhiêu là hạnh phúc, bao nhiêu là sầu bi, bao nhiêu là thầm kín trao đổi cho nhau.

Tôi nhìn những dòng chữ cuối cùng của Tuyết Hoa viết cho tôi vào ngày cưới (những dòng chữ mà tôi đọc khi ngồi trong kiệu hoa về nhà chồng), viết trên một nửa của nếp quạt. Tôi lấy hộp mực và chiếc cọ ra, nắn nót viết ngay bên dưới câu chúc của Tuyết Hoa viết cho tôi: "con phượng hoàng cất cánh bay cao hơn con gà trống, để cảm nhận những luồng gió chung quanh. Không có gì giữ chân nó ở dưới đất được".

          Giây phút này, chỉ có một mình trong kiệu, và chỉ sau khi viết xong những dòng chữ trên, tôi mới thấm thía cho số phận của Tuyết Hoa. Trên viền quạt, tôi tô một cánh hoa nhàu nát, đang nhỏ những giọt lệ âm thầm.

          Tôi đợi cho đến lúc mực khô, rồi gấp quạt lại.

 

Chương 12 – Đền Cầu Tự

 

          Khi tôi trở về nhà, cha mẹ thôi thật vui mừng được gặp lại tôi, kèm thêm bao nhiêu bánh trái do nhà chồng tôi gửi sang. Nhưng tôi, nói thật, tôi không vui chút nào khi gặp mặt gia đình. Suốt mười năm trời, cả nhà dấu diếm tôi về cái chuyện động trời mà tôi vừa khám phá ra. Tôi hận mọi người. Tôi không còn là cô bé con mà chỉ một chút nước mát dưới sông cũng đủ gột rửa đi mọi ưu phiền. Tôi muốn xem mọi người nói sao với tôi? Nhưng tôi cũng cố phải giữ mọi phép tắc, không phải vì mọi người, mà vì chính bản thân của tôi. Cho nên, tôi giữ một sự chống đối ngấm ngầm, không ra mặt.

          Lúc đầu, không ai để ý đến sự thay đổi nơi tôi. Mọi người vẫn cư xử với tôi một cách bình thường, nhưng tôi tránh né không tham dự vào với họ. Mẹ tôi muốn hỏi han những chuyện thầm kín của tôi, nhưng tôi từ chối vì lý do mắc cỡ. Thím tôi nóng lòng muốn biết chuyện vợ chồng của chúng tôi ra sao, nhưng tôi viện lẽ là tôi rụt rè, kín đáo, không muốn nói đến những chuyện ấy. Thỉnh thoảng cha tôi vẫn nắm tay tôi như xưa, nhưng tôi nói rằng bây giờ tôi đã là đàn bà có chồng, cử chỉ trìu mến ấy tôi muốn dành cho chồng tôi. Anh cả của tôi đôi khi cũng muốn đùa nghịch với tôi, tôi bảo anh hãy tìm vợ anh mà đùa. Em trai út của tôi thì cứ rúc vào một góc, lấy làm lạ vì thái độ kỳ quặc của tôi. Tôi cũng chẳng khuyến khích em lại gần, tự nghĩ rằng ngày nào đó em có gia đình thì sẽ tự hiểu thôi. Chỉ riêng với chú tôi là tôi còn chút cảm tình nhưng tôi cũng mất lòng tin nơi chú rồi.

          Tôi làm mọi việc nhà như thường lệ, và kín đáo thu mình trong căn phòng Phụ nữ để thêu may. Tôi giữ lễ độ và thận trọng lời nói, vì ngoại trừ em út của tôi ra, thì mọi người trong nhà đều lớn hơn tôi. Hơn nữa, tôi đã có chồng rồi, nhà này chỉ là nơi tôi ở tạm, tôi không có quyền chống đối họ.

          Cái thái độ ấy không giữ kín được lâu. Dưới mắt mẹ tôi, thái độ của tôi không thể nào chấp nhận được, mặc dù là tôi vẫn cố giữ lễ độ. Trong nhà có bao nhiêu người đâu mà không nhận ra ngay ra cái thái độ đó, mà mẹ cho rằng thật hỗn xược.

          Tôi về nhà được năm ngày, thì hôm ấy mẹ bảo thím tôi xuống nhà pha trà. Thím vừa ra khỏi phòng thì mẹ vào, đặt chiếc gậy dựa vào thành bàn tôi đang ngồi và nắm lấy tay tôi, móng tay mẹ cấu vào da thịt tôi đau điếng:

          - Con thấy rằng chúng tôi không xứng với con phải không, - mẹ tấn công đúng như ý tôi mong muốn, con cho rằng con cao hơn mọi người trong nhà, vì con lấy được con cháu của gia đình danh giá phải không?

          Tôi ngẩng mặt nhìn thẳng vào mắt mẹ. Tôi không bao giờ thiếu tôn trọng mẹ. Nhưng lúc này, tôi không thể nào nén giận. Mẹ chịu đựng cái nhìn của tôi, nghĩ rằng mẹ có lý, nhưng tôi cũng không nhường. Bỗng dưng, mẹ buông tay tôi ra, lùi lại một bước và tát tôi một cái nảy lửa vào giữa mặt. Cái tát làm tôi lảo đảo, nhưng tôi nhìn lại mẹ ngay, khiến cho mẹ càng tức giận thêm.

          - Thái độ của con làm nhục gia đình này, - mẹ nói. Con đã quá đáng lắm rồi.

          - Quá đáng lắm rồi… tôi chậm rãi lập lại lời nói của mẹ, biết rằng sự bình tĩnh của tôi chỉ làm cho mẹ lộn ruột thêm thôi.

          Rồi tôi cũng nắm cánh tay của mẹ, bắt mẹ phải nhìn thẳng vào tôi. Chiếc gậy của mẹ trượt và rớt xuống sàn kêu cái rầm. Dưới nhà, thím tôi kêu lên:

          - Chị hai! Chị không sao chứ?

          - Không sao, - mẹ tôi bình tĩnh trả lời, khi nào có trà, thím mang lên đây cho chúng tôi.

          Cả toàn thân tôi run lên vì giận, dưới những xúc cảm vừa qua. Mẹ tôi cũng cảm thấy thế và nở một nụ cười đắc thắng. Tôi bấu móng tay vào da thịt của mẹ, như mẹ đã làm với tôi lúc nãy, và hạ thấp giọng, không muốn ai nghe thấy:

          - Mẹ nói dối con. Mẹ lừa con, với sự tiếp tay của tất cả mọi người trong gia đình. Có thể mẹ nghĩ rằng con không bao giờ khám phá ra sự thật về Tuyết Hoa?

          Mẹ rít lên:

          - Phải, chúng tôi không nói gì cho con biết, vì tất cả nhà đều thương mến Tuyết Hoa. Cô ta cũng rất sung sướng trong gia đình này. Tại sao chúng tôi lại thay đổi cách nhìn của con về cô ấy chứ?

          - Không thay đổi chút nào! Tuyết Hoa là chị em kết nghĩa với con.

          Mẹ tôi hất hàm một cách cứng rắn, và thay đổi chiến lược:

          - Chúng tôi làm gì cũng là vì lợi ích của con thôi.

          - Mẹ muốn nói: vì lợi ích của mẹ thì đúng hơn, tôi trả lời, móng tay cấu sâu hơn vào da mẹ.

          Tôi tưởng tượng là mẹ đau đến thế nào. Nhưng thay vì nhăn nhó, mẹ lại làm vẻ mặt dễ thương với tôi. Tôi đoán là mẹ đang tìm cách biện bạch đây, nhưng tôi thề là sẽ không bao giờ tha thứ. Mẹ nói:

          - Sự liên hệ giữa con và Tuyết Hoa đã giúp con có được một cuộc hôn nhân tốt đẹp, không phải chỉ cho con mà còn cho em họ của con nữa. Cũng như con, Diễm Nguyệt cũng được lợi, và được sung sướng.

          Cái mưu toan đánh lạc hướng này đã vượt quá giới hạn tưởng tượng của tôi, nhưng tôi cố giữ máu lạnh:

          - Diễm Nguyệt đã chết hai năm rồi, tôi nói với giọng sắc bén. Và đã là mười năm kể từ khi Tuyết Hoa đặt chân đến nhà này. Mẹ không tìm được lúc nào nói cho con biết về cô ấy?

          - Diễm Nguyệt…

          - Diễm Nguyệt không có liên can gì đến chuyện này cả, - tôi la lên.

          - Chính con đã bắt Diễm Nguyệt ra ngoài trời. Nếu không, thì nó vẫn còn ở trên đời với chúng ta.

          Cái chuyện bóp méo sự thật đó không làm tôi ngạc nhiên. Mẹ tuổi con Khỉ. Cái sự tố cáo của mẹ thật là bất công khiến ta không thể coi là thật được. Nhưng tôi phải phản ứng sao đây? Tôi không thể đi ra ngoài giới hạn của đạo làm con. Khi nào mà tôi chưa mang thai, thì tôi vẫn còn phải sống tạm thời ở đây và lệ thuộc vào gia đình tôi. Và làm sao mà một người sanh ra dưới tuổi con Ngựa như tôi có thể thắng được những mưu mẹo của con Khỉ chứ?

          Mẹ tôi hẳn là biết mình đang thắng thế, nên mẹ nói tiếp:

          - Lẽ ra con phải cám ơn mẹ mới đúng…

          - Cảm ơn mẹ! Về chuyện gì?

          - Chuyện đã cho con chào đời, đã chăm sóc đôi chân của con suốt thời gian bó chân, để bây giờ nhờ đó con được hưởng lợi.

          Những lời nói đó gợi lại trong tôi bao nhiêu là kỷ niệm hãi hùng nhất trong cuộc đời, sự chịu đựng khủng khiếp, cũng như những lời lẽ như vừa rồi mà mẹ thường nhắc nhở về số mạng của tôi. Tôi cũng nhớ rằng trong suốt khoảng thời gian khổ cực đó, mẹ chưa bao giờ mảy may bày tỏ một chút tình mẹ con với tôi. Trái lại, cái cách thức ngoắt ngoéo của mẹ, những đau đớn mà mẹ bắt tôi phải chịu chỉ vì tham vọng và sự ham muốn ích kỷ của mẹ mà thôi.

          Sự giận dữ và thất vọng khiến tôi không kiềm chế được. Tôi buông tay mẹ ra một cách chán ghét và nói:

          - Không bao giờ con chờ đợi một sự tử tế nơi mẹ nữa. Nhưng mẹ nhớ cho rõ: một ngày nào đó, với những mánh khoé của mẹ, thì chính con là người sẽ quyết định con phải làm gì cho gia đình này. Con sẽ luôn luôn nhân từ đấy. Nhưng mẹ đừng nghĩ rằng con sẽ dễ dàng quên những gì mẹ đã cư xử với con

          - Mẹ ái ngại cho nhà họ Lữ. Ngày nào, con vĩnh viễn ra khỏi căn nhà này thì đó là ngày sung sướng nhất trong đời mẹ. Từ nay đến ngày đó, đừng có giở trò với mẹ.

          - Nếu không, chắc mẹ đuổi con ra đường?

          Mẹ tôi nhìn tôi một cái như nhìn người xa lạ, rồi quay ngoắt đi, rồi lại khập khễnh quay lại ngồi. Khi thím tôi bưng trà lên thì thím không biết chuyện gì xảy ra cả.

          Mọi sự ngừng ở đó. Tôi cư xử dịu dàng hơn với những người khác trong gia đình. Tôi chỉ mong mẹ tôi biến mất khỏi cuộc đời tôi, nhưng còn lâu! Tôi còn phải ở lại nhà cho đến khi mang thai và đến gần ngày sanh. Và ngay như sau khi được sang ở hẳn bên nhà chồng thì theo phong tục tôi vẫn phải về nhà nhiều lần trong năm. Nhưng tôi cố gắng giữ sự xa cách với mẹ, mặc dù chúng tôi vẫn ở bên nhau, cho mẹ biết rằng tôi không cần đến sự âu yếm của mẹ nữa, bây giờ tôi đã có chồng rồi.

          Lần đầu tiên tôi có thái độ như thế, nghĩa là tôn trọng lễ nghi, lề lối, để cảm xúc sang một bên. Nhưng tôi cứ gặm nhấm nỗi oán hật trong lòng, như một con bạch tuộc bám chặt lấy hòn đá của nó. Mọi người cũng để yên cho tôi như thế. Gia đình tôi chấp nhận thái độ của tôi và tôi đã bày tỏ những lễ nghi cần thiết nhất đối với gia đình. Nhiều năm sau đó, tôi cũng áp dụng đúng thái độ đó, vì những lý do khác nhau, với kết quả thảm hại.

************

          Chưa bao giờ tôi và Tuyết Hoa lại thân thiết với nhau như lúc này. Chúng tôi viết cho nhau luôn và nhờ bà Quảng giao thư. Tôi thắc mắc về hoàn cảnh sống của Tuyết Hoa ghê lắm: mẹ chồng của Tuyết Hoa có đối xử tốt với cô không? Đời sống của cô có tệ hơn khi còn ở nhà không? Cuộc sống vợ chồng của cô ra sao? Về phần Tuyết Hoa thì cô thắc mắc, e rằng tôi không còn quan tâm đến cô như xưa. Chúng tôi ao ước được gặp nhau thường xuyên hơn, nhưng không có lý do nào để có thể viện cớ được. Những dịp duy nhất mà chúng tôi được phép ra khỏi nhà là những lúc phải sang nhà chồng.

          Tôi đã sang gặp chồng tôi bốn hay năm lần gì đó trong năm. Mỗi lần đi là một lần đưa tiễn. Tôi phải mang theo đầy đủ thức ăn cho thời gian tôi ở lại bên nhà chồng, vì gia đình chồng tôi không có bổn phận phải nuôi ăn tôi, ngày nào mà tôi chưa có thai, và chưa được chính thức sang sống hẳn bên ấy. Mỗi lần ở lại Cự Tống, lại khiến tôi an lòng hơn về sự cư xử của gia đình chồng đối với tôi. Ngược lại, mỗi khi về lại Phủ Quỳ, thì tôi lại ủ ê, rầu rĩ. Những đêm tôi xa nhà cũng khiến cho tôi trở nên quí giá hơn dưới mắt người thân, và khiến mọi người trong nhà càng cảm thấy cái ngày tôi thực sự rời gia đình cũng sắp đến.

          Mỗi chuyến đi khiến cho tôi mạnh dạn hơn, và tôi có dịp nhìn ngắm phong cảnh bên ngoài chiếc kiệu, đến nỗi thuộc nằm lòng đường đi. Chúng tôi thường đi qua những con đường bùn lầy, rải rác những vết xe. Những ruộng lúa, nương khoai dọc theo lối đi. Khi đến cổng làng Cự Tống thì cây thông cao vút tỏa cành lá rung rinh theo gió như chào đón chúng tôi. Xa xa, về phía trái, cái ao công cộng mở ra trước mắt. Sau lưng tôi, là con sông Tiêu lả lơi uốn khúc. Trước mặt tôi, như Tuyết Hoa đã tả, Cự Tống ẩn mình trong lòng đồi núi.

          Trước cửa thị trấn là một khoảng đất bằng, trải bằng đá cuội, được sắp xếp thành hình vẩy cá, làm thành hình vòng cung nối liền vựa lúa bên tay phải và chuồng bò bên tay trái. Ngay cổng thành, những trụ cao trạm trổ màu sắc để nâng chiếc mái thanh lịch với những đường cong vươn trên nền trời. Những bức tường bên trong được trang trí bằng những hình ảnh mô tả đời sống bất tử của những vị thần linh. Lối vào khá rộng, chứng tỏ với du khách rằng Cự Tống là thị trấn quan trọng nhất trong vùng. Hai cái bậc bằng đá mã não có khắc hình những con cá, giúp cho những người đi ngựa có thể đặt chân vào mà bước xuống đất.

          Qua khỏi cổng làng, là trung điểm của Cự Tống, mở rộng ra chào đón bằng một chiếc vòm cao hình tám cạnh, thể hiện một phong thủy toàn hảo. Đi vào cửa bên phải, là một gian nhà công cộng rộng thênh thang của thị trấn, dùng để tiếp khách. Bên trên là đền thờ các bậc tiền nhân, cũng là nơi tiếp đón các vị khách của triều đình hay những quan chức địa phương. Nơi đây cũng dùng để tổ chức lễ lạc, hay đám cưới trong làng. Những nóc nhà khiêm tốn nhất trong vùng, dĩ nhiên xây bằng gỗ, được tụ lại trong khu này, ngay sau đền thờ.

          Căn nhà của cha mẹ chồng tôi vừa ngang tầm mắt, ngay phía trước mặt, vào bằng lối tay trái của cổng chính của làng. Căn nhà nào cũng khang trang, sang trọng, nhưng căn nhà của cha mẹ chồng tôi thì có một nét đẹp rất đặc biệt, mà cho đến nay tôi vẫn còn thấy sung sướng được ở trong đó. Căn nhà có hai tầng, được xây bằng gạch và mặt tiền được trát thạch cao. Chiều ngang của mái nhà được bọc bằng những thanh trên đó là những tranh vẽ hình người cả nam lẫn nữ đang học hành, viết chữ, đánh đàn hay làm toán.

          Những tranh họa đó nhắc nhở cho người qua đường giá trị của những người sống dưới mái nhà này, cũng như cách thức tiêu khiển của họ. Bên trong, tường nhà được bọc bằng những thanh gỗ quí giá lấy từ những khu rừng đẹp nhất trong vùng. Các phòng được trang điểm bằng những lan can, những cột cao trạm chổ, và cửa sổ có chấn song.

          Dạo tôi vào nhà thì căn phòng khách cũng giống như bây giờ, với sàn ván bằng gỗ quí, đồ đạc trang nhã, với chiếc cầu thang dọc theo tường, lên tới một ban công có lan can trạm đầy những viên đá quí. Thời gian ấy, cha mẹ chồng tôi chiếm ngụ căn phòng lớn nhất, phía sau nhà, với sàn bằng đất nén. Mỗi người em chồng tôi đều có phòng riêng, trông ra phòng khách. Khi họ lập gia đình, thì mỗi cô em dâu cũng về ở ngay đó. Nếu không may mà chỉ sanh con gái, thì các cô sẽ phải sang sống ở một phòng khác trong nhà, nhường chỗ cho người thiếp của chồng.

          Trong những chuyến sang thăm nhà chồng như thế, chúng tôi không mong muốn gì hơn là bằng mọi giá, sẽ sớm có con trai. Ban ngày thì chúng tôi ít gặp nhau. Chồng tôi luôn quanh quẩn bên cha anh, và tôi thì núp dưới bóng của mẹ chồng. Dần dần, chúng tôi hiểu biết nhau hơn, giúp cho tình vợ chồng thêm đậm đà.

          Như tất cả các cuộc hôn nhân khác, quan hệ trọng đại nhất vẫn là quan hệ với mẹ chồng. Những gì mà Tuyết Hoa đã nói trước đây về mẹ chồng của tôi thủ cựu như thế nào đều trúng phóc. Bà kiểm soát tôi từng ly từng tý khi tôi làm chuyện nhà, dù là lúc pha trà buổi sáng, lúc giặt giũ hay làm giường, lúc sửa soạn cơm trưa, dệt vải, may vá thêu thùa, đến việc làm cơm tối. Bà không ngại ra lệnh cho tôi: "cắt miếng nhỏ hơn một chút, -bà nói khi nhìn tôi cắt quả dưa để nấu canh, con cắt lớn thế thì cho heo nó cũng không ăn". Hay là: "khăn trải giường dơ quá rồi, khi giặt thì con phải chà cho kỹ".

          Thức ăn tôi mang từ nhà sang để ăn thì bà nói: "lần sau, con mang cái gì nhẹ mùi hơn một chút nhé. Lần nào, cũng làm cha con và các em mất cả khẩu vị". Khi cuộc thăm viếng chấm dứt, tôi được gửi trả về nhà cha mẹ ruột, không một lời chào cũng không ai cho được một lời cám ơn.

          Tóm lại, mọi việc diễn tiến không có gì tốt hơn, cũng chẳng xấu hơn, mà chỉ theo tuần tự. Lữ phu nhân cũng là người chính trực, tôi đáp lại bằng sự kính nể và phục tùng. Nói khác đi, chúng tôi tương kính, cố gắng để liên hệ được tốt đẹp. Cũng vì thế, mà sau đám cưới của tôi vài tháng, vào ngày thứ chín sau tết Nguyên đán, mẹ chồng tôi mời hết các cô gái chưa chồng hay vừa mới lấy chồng như tôi, đến nhà để ăn bánh ngắm trăng, uống trà với nhau, chứng tỏ bà rất hào phóng và lịch sự, cao nhã. Khi khách về, chúng tôi hộ tống họ đến từng nhà, nhờ vậy mà tôi có dịp quen biết năm cô gái mà sau này sẽ là em dâu của tôi. Nếu tôi không phải là chị em kết nghĩa của Tuyết Hoa thì rất có thể là tôi đã chọn vài cô trong số các cô gái này để lập một nhóm chị em nuôi rồi.

************

          Tôi và Tuyết Hoa gặp lại nhau lần đầu tiên vào dịp lễ hàng năm tại đền Cầu Tự. Chắc hẳn là bạn đang tưởng tượng rằng chúng tôi có biết bao nhiêu điều để nói với nhau sau bao tháng ngày thương nhớ. Thế nhưng, trên thực tế, chúng tôi lại có vẻ không được thoải mái. Tôi nghĩ rằng Tuyết Hoa ngượng ngùng vì đã nói dối tôi suốt bao nhiêu năm trời, cũng như đã dấu, không cho tôi biết trước về cuộc hôn nhân thật tầm thường của cô. Phần tôi cũng không khỏi lúng túng. Tôi không biết làm sao nói với Tuyết Hoa về cảm nghĩ của tôi đối với mẹ tôi, mà không phải nhắc đến sự giả dối của mẹ. Chưa kể là hiện nay, mỗi đứa chúng tôi lại có thêm ông chồng kè kè bên cạnh, có những chuyện mà chúng tôi ngại không muốn nói trước mặt đàn ông. Nhưng cũng không thể lặng thinh hoài được và tôi thấy có lẽ nói chuyện về vấn đề con cái mà cả hai đứa tôi đang mong đợi, có lẽ dễ nói hơn.

          Chúng tôi bàn đến những điều kiện cần thiết để thai nhi được tốt sau này. Chồng của chúng tôi chắc chắn phải biết những điều này. Chẳng hạn như cơ thể của chúng ta là chiếc kính phản ánh của vũ trụ: đôi mắt và đôi tai là mặt trời và mặt trăng, hơi thở là không khí, và máu là mưa… Một cách tương ứng, những yếu tố thiên nhiên này cũng giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của bào thai. Cho nên, nếu bào thai được tạo ra trong lúc trời sấm sét mưa gió, thì dễ làm đứa con sau này bị co thắt. Hay là không nên có con lúc vợ hay chồng có điều ưu tư lo lắng, để tránh những thế hệ sau bị ám ảnh bởi những tư tưởng tối tăm, hắc ám, v.v…

          Tuyết Hoa nói thêm:

          - Tôi cũng nghe nói rằng vợ chồng không nên gần nhau sau khi làm việc quá mệt mỏi, cực nhọc. Nhưng lời khuyên này dường như không đến tai mẹ chồng tôi!

          Tuyết Hoa có vẻ bị kiệt sức. Tôi cũng cảm thấy như thế sau mỗi chuyến thăm viếng bên nhà chồng, vì những công việc nặng nhọc không ngừng, mà vẫn phải giữ những lễ nghi, lịch sự cần thiết. Tôi nói để an ủi Tuyết Hoa:

          - Mẹ chồng tôi cũng không tuân theo những lời khuyên này. Chắc bà chưa bao giờ nghe ai nói rằng "không ai lấy được nước giếng dưới đáy một cái giếng khô"?

          Chúng tôi phàn nàn với nhau về mẹ chồng, cũng như lo ngại rằng cho dù có thai đi nữa, chúng tôi e rằng khó lòng mà sanh được những đứa con bụ bẫm, thông minh.

          - Thím tôi có dạy những lúc nào là lúc tốt nhất để có thai, - tôi nói, đó là lúc mà ta thật thảnh thơi, không phiền muộn gì cả.

          - Tôi biết, - Tuyết Hoa thở dài và đọc: "khi mặt hồ tĩnh lặng, cá sẽ lướt không trở ngại; khi gió dậy lên,cây cối sẽ vươn cao ".

          - Tôi và chị phải lợi dụng những đêm thanh tịnh, trăng sáng tròn vành vạnh trên bầu trời….

          - Tôi biết, - Tuyết Hoa lại thở dài, nhưng khó mà hội đủ tất cả những điều kiện ấy.

          - Chúng ta phải tự tạo cơ hội.

          Đó là lần gặp gỡ đầu tiên của chúng tôi tại đền Cầu Tự, sau ngày chúng tôi đám cưới. Chúng tôi đã lễ bái và dâng lễ vật. Thế mà chưa đứa nào trong hai đứa tôi có thai cả. Bạn có nghĩ rằng chuyện này dễ dàng không, khi mà một năm tôi chỉ được sang thăm nhà chồng có mấy bận thôi?

          Năm sau, khi chúng tôi trở lại đền Cầu Tự vào ngày lễ, chúng tôi cầu xin khẩn thiết hơn, lễ vật cũng phong phú hơn. Sau đó, theo thông lệ, chúng tôi rủ nhau ghé qua hàng bánh rán, để ăn món gà ưa thích, và chấm dứt bằng món bánh khoai rán ròn. Thức ăn vẫn thật ngon miệng, nhưng bầu không khí lại kém vui. Chúng tôi truyền cho nhau những kinh nghiệm, làm sao để sớm có con.

          Những tháng sau đó, mỗi lần viếng thăm nhà chồng, tôi đều cố gắng chiều chuộng, phục dịch mẹ chồng. Ở nhà, tôi tỏ ra dễ thương với cha mẹ tôi hơn. Nhưng tôi thấy rõ mọi người đang nhìn tôi bằng đôi mắt ngờ vực về sự không mau mắn của tôi trên đường con cái.

          Hai tháng sau, bà Quảng ghé qua nhà trao cho tôi lá thư của Tuyết Hoa. Tôi nóng lòng, chờ bà quay gót đi để mở lá thư Tuyết Hoa viết cho tôi bằng Nữ tự:

          - "Tôi đã có thai, ngày nào tôi cũng nôn mửa. Mẹ tôi nói rằng như thế là em bé đang sung sướng trong bụng của tôi. Tôi mong sẽ là đứa bé trai. Tôi cũng mong chị cũng được như thế"

          Tôi không thể nào tưởng tượng được Tuyết Hoa lại qua mặt tôi như thế! Chính là tôi có địa vị xã hội cao hơn cô, tôi phải có thai trước mới phải. Tôi cảm thấy điều đó là một sự sỉ nhục và tôi cũng chẳng thèm báo tin cho mẹ và thím tôi về chuyện Tuyết Hoa có thai. Tôi thừa biết hai người sẽ phản ứng ra sao khi tôi báo tin này: mẹ tôi thì sẽ trách mắng tôi dồn dập, còn thím thì sẽ nổ tung lên vì vui sướng trước tin này. Tôi không nói!

          Lần thăm nhà chồng sau đó, tôi hết lòng chiều chuộng âu yếm chồng tôi, trong lòng nghĩ đến ánh trăng tròn soi sáng không trung, và tiếng lá tre xào xạc bên ngoài song cửa sổ. Sáng sớm ra, chồng tôi dậy sớm, thay quần áo để bắt đầu một ngày mới. Có tiếng mẹ chồng tôi lục đục trong bếp, đang làm công việc mà lẽ ra tôi phải làm. Chồng tôi cảnh cáo, bảo tôi dậy ngay nếu không muốn có chuyện. Anh không nói lớn tiếng, cũng không lay tôi dậy, mà chỉ lặng lẽ ra khỏi phòng khi thấy tôi cứ nằm ì ra đó. Tôi nghe tiếng anh nói gì với mẹ anh ở trong bếp. Không có ai vào phòng tìm tôi cả. Khi tôi thức dậy, thay quần áo rồi vào bếp thì mẹ chồng tôi nhìn tôi với nụ cười hớn hở, còn Tâm Can và mấy cô người làm thì liếc nhau tủm tỉm cười.

          Hai tuần sau, tôi trở về nhà cha mẹ ruột. Một buổi tối đang nằm trên giường, tự nhiên tôi thấy xây xẩm mặt mày, trời đất chung quanh như đang quay cuồng khắp phía. Tôi vội vàng chạy lại chiếc thau để trong góc phòng và nôn thốc tháo ra. Thím tôi nghe tiếng động, chạy vội lên phòng, quỳ gối bên giường, dùng tay lau mồ hôi trán cho tôi. Thím nói:

          - Thế là cháu sắp xa chúng ta thật rồi đấy.

          Đã từ lâu, đây là lần đầu tiên, tôi mới thấy lại được nụ cười rạng rỡ của thím. Chiều hôm sau, tôi lấy giấy bút ra viết thư cho Tuyết Hoa:

          "Năm nay, khi chúng ta gặp nhau tại đền Cầu Tự, thì cả hai chúng ta đều có bụng tròn như mặt trăng…"

         

************

          Như tôi đã kể rồi, suốt thời gian tôi bắt đầu bó chân, mẹ tôi đã khe khắt với tôi như thế nào. Bây giờ cũng thế, bà chỉ nhìn sự việc dưới khía cạnh xấu nhất cũng như những rủi ro có thể xảy ra. "Đừng có leo đồi xuống núi nhiều quá". Mẹ cứ nói làm như tôi là chuyên viên leo đồi leo núi không bằng. Rồi thì "không được đi qua những cây cầu quá hẹp, không được tắm nước nóng quá, không được nhìn nguyệt thực, v.v…". Những việc này, thực ra có xảy ra bao giờ với tôi đâu. Lại còn chuyện ăn uống nữa mới là phiền phức chứ. Làng tôi nổi tiếng với những món ăn cay, đầy gia vị. Thế mà từ nay tôi không được ăn những thức ăn có tỏi, tiêu hay ớt, ảnh hưởng tới bào thai; thịt trừu cũng không được ăn, không được ăn cá mà chưa đánh vẩy, sợ sanh khó. Không được ăn những gì cay quá, chua quá, mặn quá, ngọt quá. Tóm lại, cái gì cũng bị cấm hết trọi: từ nay tôi hết được ăn đậu đen để lên men, dưa hấu, hạt hạnh nhân, súp chua ngọt, tức là thứ gì mà có chút gia vị là cấm tuốt. Tôi chỉ được ăn súp nhạt, rau xào ăn với cơm trắng, và dĩ nhiên được uống trà tàu. Tôi tuân lệnh không một lời phàn nàn vì tôi biết rằng tương lai của tôi ra sao sẽ tùy thuộc vào đứa bé sắp chào đời.

          Chồng tôi và gia đình chồng thì vui khỏi nói rồi, và đang sửa soạn để đón tôi về ở hẳn bên ấy. Nhưng trước khi về Cự Tống, tôi muốn dự lễ hàng năm tại đền Cầu Tự, để dâng lễ vật và cầu nguyện cho tôi có được con trai. Cha mẹ chồng tôi cũng không phản đối cuộc hành hương ấy. Ông bà sẵn sàng nhượng bộ tất cả những gì có thể bảo đảm cho con trai của ông bà có con nối dõi, miễn là tôi không được đi lại quá sức tại đó, và phải kiếm một khách sạn để ngủ qua đêm cho khỏe.

Gia đình chồng tôi cho một chiếc kiệu sang đón. Trước thềm nhà tôi, mọi người trong gia đình lại thổn thức ôm tôi từ biệt. Tôi lên kiệu, không lấy gì làm buồn lắm, vì tôi biết rằng tôi còn được trở về vào những dịp lễ tết, hay những dịp đặc biệt được tổ chức trong gia đình. Không phải là vĩnh biệt mà chỉ là tạm biệt thôi, như trường hợp chị hai của tôi.

          Lúc ấy, Tuyết Hoa cũng đã về ở hẳn bên nhà chồng rồi, vì cô có thai trước tôi. Trên đường đi, kiệu của tôi ghé qua nhà chồng của Tuyết Hoa để đón cô. Bụng của Tuyết Hoa đã lớn lắm rồi, tôi không thể tin là gia đình chồng cô lại có thể chấp nhận cho cô di chuyển như thế, dù là để đi cúng bái cầu xin con trai. Chúng tôi cùng nhau phác họa tương lai, trên con đường đi đầy bụi bặm. Cả hai chúng tôi cười vang như thời thơ ấu, nhưng không thể ôm nhau như xưa nữa, vì bụng đã quá lớn rồi. Tôi thấy Tuyết Hoa đẹp còn hơn xưa nữa, chưa bao giờ cô đẹp như thế trong suốt mấy năm vừa qua. Cả người cô tỏa ra một nguồn hạnh phúc khôn tả.

          Trên suốt đường đi, Tuyết Hoa nói không ngừng. Cô kể cho tôi nghe những thay đổi trong người cô ra sao, cô thương đứa con trong bụng đến thế nào, và mọi người trong gia đình chồng đối xử với cô rất tử tế từ khi cô sang   ở hẳn bên ấy. Tuyết Hoa chỉ cho tôi xem miếng ngọc trắng đeo ở cổ, hy vọng em bé sinh ra sẽ trắng trẻo như mẹ chứ không đen xạm như chồng cô. Tôi cũng có đeo một miếng ngọc như thế, nhưng với hy vọng trái ngược là mong cho em bé có nước da ít xậm hơn tôi! Bởi vì, cho dù lúc sau này tôi chỉ sống trong phòng, tôi vẫn không thể nào có nước da trắng như sữa như nước da của Tuyết Hoa.

          Những lần trước, chúng tôi chỉ đi thăm qua bên trong đền, dâng hương, trước khi dập đầu xuống đất để lạy Nữ thần. Nhưng lần này, chúng tôi đi chầm chậm trong đền, cố tình phô hai cái bụng tròn ung ủng, và nhìn qua khoé mắt, xem những người đàn bà khác, ai có cái bụng to và tròn nhất; đồng thời cũng ăn nói ý tứ, giữ gìn hơn xưa.

          Chúng tôi đến trước bàn thờ, bên dưới bày ngay hàng thẳng lối hàng trăm đôi hài bé tí xíu, cho những đứa bé mới chào đời. Mỗi đứa tôi viết một bài thơ trên quạt để dâng cho Nữ thần. Trên chiếc quạt của tôi, bày tỏ niềm sung sướng, nếu được có con trai, nối tiếp giòng dõi họ Lữ để làm vinh dự tổ tông… Nữ thần, lòng nhân ái của Bà soi sáng cho chúng con. Chúng con cầu xin Bà ban cho đứa con trai. Con mong Bà nghe được lời cầu xin và xin toại nguyện cho lời khẩn cầu của con. Tôi thấy thế là đủ rồi, nhưng tôi lại thắc mắc không hiểu Tuyết Hoa đã viết gì trên quạt của cô? Chắc hẳn phải là những lời thơ văn vẻ, phun châu nhả ngọc chứ không thô thiển như tôi. Tôi khấn thầm, mong cho Nữ thần đừng quá bị ảnh hưởng bởi lễ vật của người chị em kết nghĩa của tôi "Con lạy Nữ thần, con lạy Bà, xin nghe lời cầu nguyện của con".

          Chúng tôi cùng dâng quạt lên bàn thờ, và nhanh tay lấy trộm một đôi hài và dấu vào trong tay áo. Rồi chúng tôi lẹ làng rời khỏi đền, hy vọng không bị gọi lại chất vấn. Ở Vĩnh Châu, tất cả đàn bà có thai muốn sanh con khỏe mạnh đều phải ăn cắp một đôi hài dưới chân Thần Nữ, vì tại địa phương này, chữ “hài” được phát âm giống như chữ “tự”, nghĩa là con. Sau khi mẹ tròn con vuông rồi, thì chúng tôi lại phải đem một đôi hài mới đến, đặt dưới chân của Nữ thần để tạ ơn.

          Chúng tôi bước ra ngoài trời trong xanh mát, và hướng về phía cửa tiệm bán đồ thêu may, như thường lệ, để chọn những màu chỉ thêu phù hợp với hoàn cảnh của chúng tôi lúc này. Tuyết Hoa chỉ cho tôi một lô những chỉ màu xanh: tươi tắn như màu lá cây vừa trổ lúc đầu xuân, úa như màu cỏ khô, ngả vàng như những ruộng lúa cuối hè, đậm đà như bọt sóng, hay mờ mờ như mầu lá thu, lúc sắp ngả sang màu đỏ và mầu vàng đất.

          - Ngày mai, - Tuyết Hoa nói, chúng ta sẽ ngừng lại bên bờ sông trước khi về nhà, để nhìn mây bay lờ lững, nghe tiếng nước chảy qua những viên đá cuội, rồi cùng thêu và cùng hát với nhau. Như thế, tập cho con của chúng ta những thú vui thanh nhã.  

          Tôi ôm Tuyết Hoa, hôn lên má. Khi xa nhau, tôi đã từng có những ý nghĩ đen tối, nhưng giờ này, tôi thấy thương yêu Tuyết Hoa như những ngày chúng tôi còn bé. Trời ạ, tôi thật nhớ Tuyết Hoa làm sao!

          Nhưng chưa xong, chuyến hành hương của chúng tôi sẽ không hoàn toàn nếu không ghé qua quán hàng bánh khoai chiên. Ông Vũ cười móm mém khi nhìn thấy chúng tôi đến với hai cái bụng bầu to tướng. Ông sửa soạn thức ăn đặc biệt cho chúng tôi, thật chu đáo bỏ ít gia vị hơn cho hai bà bầu, không quên làm cho chúng tôi món tráng miệng ưa thích là bánh khoai chiên bọc ca ra men. Chúng tôi ngồi ăn với nhau một cách hồn nhiên,vô tư, như hai đứa bé gái ngày nào đến đây với bà Quảng, chứ không phải là hai người đàn bà có chồng và sắp đến ngày sanh.

          Đêm ấy, trong khách sạn, sau khi thay quần áo ngủ, chúng tôi lại nằm bên nhau như những ngày còn bé. Đó là lần cuối cùng chúng tôi nằm bên nhau trước khi làm mẹ.

          Tuyết Hoa đặt tay lên bụng tôi và tôi cũng đặt tay lên bụng cô, cảm thấy đứa bé đang cựa quậy trong đó. Giây phút ấy, chúng tôi thật là gần gũi và thân thương.

          - Tôi thật sung sướng khi chúng ta được ở lại với nhau đêm nay, - Tuyết Hoa nói trong khi ngón tay cô cứ xoa xoa bụng tôi, sờ vào chỗ vai và đầu gối của em bé.

          - Tôi cũng thế, tôi trả lời.

          -  Ê, tôi thấy con của chị. Nó sẽ rất mạnh mẽ, như mẹ của nó.

          Những lời lẽ của Tuyết Hoa khiến tôi hãnh diện. Ngón tay cô chợt ngừng lại, và một lần nữa, Tuyết Hoa lại nhẹ nhàng đặt tay lên bụng tôi.

          - Tôi thương đứa bé trong bụng chị như tôi thương chị vậy.

          Rồi, giống như khi còn bé, Tuyết Hoa đặt tay lên má tôi, cho đến khi cả hai chúng tôi cùng díp mắt lại.

          Vài tuần nữa, tôi được hai mươi tuổi rồi, đứa con của tôi cũng sắp sửa chào đời, và cuộc đời mới của tôi bắt đầu.

 

Chương 13 – Con trai

 

          "Bạch Huệ,

          Cuối cùng, tôi đã được làm mẹ rồi.

Tôi đã sanh một bé trai, hôm qua, một bé trai tóc đen, dài nhưng gầy.

Tôi sẽ còn phải ở cữ 100 ngày nữa.

Tôi nghĩ đến chị thật nhiều, những ngày trong Nữ phòng.

Tôi mong tin của chị và em bé,

Tôi cầu Thần Nữ phù hộ cho em bé của chị.

Tôi thật mong được gặp lại chị, bình an vô sự.

Đến với tôi trong dịp Đầy Tháng của con tôi nhé.

Chị sẽ thấy tôi viết về con trai của tôi trên chiếc quạt của chúng ta.

Tuyết Hoa"

          Tôi thật sung sướng khi thấy Tuyết Hoa mẹ tròn con vuông, và hy vọng tin vui này được xác thực. Trong vùng của chúng tôi, đời sống thật là mong manh lắm. Nếu may mắn có được năm người con sống đến tuổi trưởng thành thì coi như là hạnh phúc lắm rồi. Muốn được như thế, chúng tôi bắt buộc phải có thai liên tục, mà đa số thường bị xảy thai, hoặc là em bé bị chết non, hay chết lúc còn nhỏ tuổi vì bệnh tật. Con gái thường dễ bị nguy hiểm hơn con trai, vì thiếu vệ sinh, vì thiếu dinh dưỡng. Đàn bà chúng tôi cũng dễ chết trẻ, vì không chịu đựng được đau đớn khi bị bó chân, như trường hợp em gái của tôi; hoặc chết vì hậu sản. Nếu không, thì cũng sống để đưa tiễn những người thân.

          Con trai, thật quí giá đối với chúng tôi, cũng có thể bị tước đi bất cứ lúc nào trước khi kịp mọc rễ; chúng là những con mồi ngon cho những linh hồn lang thang không siêu thoát. Nếu chúng được lớn khôn, thì lại biết bao rủi ro chờ đợi: bị thương, bị ngộ độc vì thức ăn, tai nạn ngoài đồng ruộng hoặc đường xá, chưa kể gánh nặng mà người đàn ông phải gánh vác cho gia đình. Đó là lý do tại sao vùng của tôi lắm bà góa chồng! Tóm lại, dù trai hay gái, thì không có gì bảo đảm trước khi đứa bé được năm tuổi.

          Tôi không phải chỉ băn khoăn cho đứa con vừa chào đời của Tuyết Hoa mà cho cả đứa con trong bụng của tôi nữa. Khi còn ở nhà với cha mẹ, mẹ tôi quá bận rộn nên không có dịp giảng giải cho tôi những điều này. Thím tôi, sau mấy lần mất con khi vừa mới sanh, thím tránh không bàn đến những chuyện con cái với tôi, sợ mang ảnh hưởng xấu cho tôi. Bây giờ, ở với nhà chồng, tôi cô đơn chẳng có ai để tin cậy. Cha mẹ chồng và chồng tôi dĩ nhiên là bận tâm cho đứa bé lắm, nhưng lại chẳng có ai quan tâm là tôi sẽ ra sao khi sanh đứa con nối dõi cho họ.

          Cho nên, lá thư của Tuyết Hoa là một điềm lành cho tôi, Tuyết Hoa mẹ tròn con vuông, thì chúng tôi, tôi và đứa bé, cũng sẽ như thế. Điều này làm tôi phấn chấn, can đảm hẳn lên, nhất là khi thấy tình thương yêu của Tuyết Hoa dành cho tôi không hề thay đổi cho dù trong hoàn cảnh mới, trong cuộc sống mới; trái lại, càng ngày lại càng đậm đà hơn xưa, cái thưở “gạo muối” của chúng tôi. Qua những lá thư, chúng tôi chia xẻ với nhau những thử thách, những chiến thắng. Nhưng chúng tôi cũng không quên là mình đang sống trong gia đình nhà chồng, phải uốn mình theo một số qui luật, nên chỉ dám viết những lời thăm hỏi nhàm chán thôi, những câu thăm hỏi khuôn thước thôi. Chúng tôi chỉ là những người khách trong gia đình bên chồng, cũng như bất cứ ai cũng có thể dí mũi vào bức thư của chúng tôi.

          Chúng tôi phải thận trọng từng li từng tí một. Không phàn nào cuộc sống bên chồng, mà phải tìm cách nói mẹo thôi. Hay chỉ nói những lời thương nhớ quê nhà; chứ không bao giờ được viết những tình cảm thật của mình, nếu không muốn làm tủi hổ cho gia đình và cho chính mình. Đó là lý do, mà tôi phải chờ đến ngày các người thân của tôi lìa đời hết mới dám viết để thuật lại đời mình.

          Thời gian đầu  bên nhà chồng, không có gì đặc biệt để tôi kể. Lúc mới hứa hôn, tôi chỉ nghe kể rằng bác của chồng tôi đậu Tiến sỹ, bậc cao nhất của một văn quan triều đình. Tôi thường nghe nói khi còn nhỏ: "một người làm quan, cả họ được nhờ", thật đúng trong trường hợp nhà chồng tôi. Bác Lữ làm quan trong triều và giao hết cho người em trai, là cha chồng của tôi quản lý hết tài sản. Từ tờ mờ sáng, ông đã thức dậy để đi tuần tra đất đai, bàn thảo với các tá điền về mùa màng, kiểm soát vấn đề tưới vườn tược, hay gặp gỡ các gia trưởng trong làng. Một mình ông gánh vác hết gánh nặng gia đình. Bác Lữ tiêu tiền mà không hề thắc mắc làm cách nào tiền vào đầy túi? Ông hay cùng gia đình đến đây dùng cơm. Tóm lại, mọi người trong gia đình họ Lữ, cho đến năm người giúp việc chân to, đều sống rất thoải mái dưới sự bảo bọc của bác Lữ.

          Tôi là con dâu trưởng trong gia đình và lại sanh được con trai đầu lòng. Tôi thật vui sướng hãnh diện, quên cả đau đớn khi bà mụ trao đứa bé trai cho tôi; mà quên cả những rủi ro có thể xảy đến cho em bé, như tôi đã nói bên trên. Mọi người trong nhà đều hỉ hả, và mỗi người biểu lộ một cách khác nhau. Mẹ chồng tôi lụi hụi nấu súp cho tôi, đặc biệt là có gừng, đậu phộng, và có cả rượu để giúp tôi có nhiều sữa, và sớm phục hồi sức khỏe. Cha chồng tôi sai mấy bà thiếp đem đến cho tôi một xấp lụa xanh để may áo cho em bé. Chồng tôi đến bên giường chuyện trò với tôi một hồi.

          Về sau, tôi cũng đã khuyên tất cả các cô em dâu, và những cô gái mà tôi có dịp dạy Nữ tự sau này, là phải làm mọi cách để sanh được con trai càng sớm càng tốt, để có được địa vị bên nhà chồng; để được sự yêu chuộng của chồng. Đứa con trai là niềm hãnh diện lớn lao cho người chồng, cũng là một vòng vương miện cho cuộc đời phụ nữ chúng tôi, trong cái xã hội Trung Hoa này. Và tôi, bạn có biết không? Tôi cũng vừa được một vòng vương miện!

          “Tuyết Hoa,

          Tôi đang ở cạnh con trai tôi, tôi cũng đang ở cữ như chị,

          Sáng nay, chồng tôi có đến thăm, anh thật sung sướng.

          Con trai tôi cứ mở to mắt nhìn tôi, như đang muốn hỏi điều gì.

          Tôi thật nóng lòng muốn gặp chị trong ngày Đầy Tháng con chị.

          Chị viết vài giòng thật hay trên quạt về con trai của tôi nhé.

          Hãy nói chuyện về gia đình chồng của chị thế nào.

          Tôi ít có dịp gặp chồng tôi lắm. Còn chị thì sao?

          Tôi thường ngắm bầu trời qua song cửa sổ để nghĩ đến chị.

          Hình ảnh của chị sưởi ấm tim tôi.

          Tôi nhớ đến chị mỗi ngày.

          Bạch Huệ”

          Về phần tôi, mấy tuần sau khi tôi sanh xong, thì tôi lại phải đối đầu với một vấn đề nan giải, không có liên hệ gì đến cái bổn phận làm mẹ, làm vợ hay làm con dâu của tôi.

Đó là khi tôi xin phép mẹ chồng tôi để được mời Tuyết Hoa đến dự lễ Đầy Tháng của con trai tôi thì bà từ chối thẳng thừng. Sự cự tuyệt này đối với vùng chúng tôi, là một điều lăng nhục. Tôi rụng rời tay chân, và thật khổ tâm, nhưng không có cách chi làm thay đổi được sự quyết định của bà. Ngày đầy tháng con tôi là một ngày quan trọng và sung sướng nhất trong đời tôi, thế mà vắng mặt Tuyết Hoa!

Hôm ấy, cả gia đình họ Lữ đến đền thờ tổ tiên, để điền tên con trai tôi vào gia phả. Những quả trứng luộc nhuộm phẩm đỏ được phân phát cho họ hàng và khách khứa. Một bữa tiệc thịnh soạn được tổ chức, nào là súp yến, gà vịt phơi khô ướp muối từ sáu tháng trước, vịt hầm tỏi, gừng và tiêu xanh. Suốt buổi tiệc, sự vắng mặt của Tuyết Hoa làm lòng tôi nặng trĩu. Sau đó, tôi có biên thư kể cho Tuyết Hoa nghe về ngày đầy tháng của con tôi, mặc dù như thế rất có thể nhắc cho Tuyết Hoa về chuyện tôi không mời cô. Nhưng Tuyết Hoa cũng không lấy đó làm buồn. Cô gửi cho tôi mấy món quà mừng đầy tháng con tôi, một cái áo thêu, một cái mũ được tô điểm bằng những chữ phúc be bé.   

Khi nhìn thấy mấy món quà đó, mẹ chồng tôi nghiêm khắc bảo:

- Một người mẹ phải biết cảnh giác những người chung quanh mình. Nếu con biết quan tâm đến con trai của con thì con không thể giao du liên hệ với vợ của một người hàng thịt. Nếu muốn con cái của con hiếu thảo với con sau này, thì con cũng phải tỏ ra tôn kính cha mẹ. Và ta muốn con tuân theo ý muốn của chúng tôi.

          Nghe những lời này, tôi hiểu rằng không những cha mẹ chồng tôi không muốn cho Tuyết Hoa đến dự đầy tháng của con tôi, mà còn muốn tôi từ nay phải tuyệt giao với Tuyết Hoa. Tôi choáng váng! Tôi đã khóc liên miên mấy ngày sau đó. Tôi không biết phải làm sao. Tôi sẵn sàng chống đối đến cùng cái quyết định độc đoán của mẹ chồng, cho dù hậu quả ra sao cũng mặc.

          Suốt thời gian đó, chúng tôi vẫn lén lút viết đều đặn cho nhau bằng Nữ tự, mà tôi tin chắc rằng đàn ông không hề nghe nói đến loại chữ bí mật này. Nhưng bây giờ tôi sống trong gia đình họ Lữ, mọi người trong nhà đều biết chữ, tôi nhìn thấy rõ sự bí mật của Nữ tự chỉ là ảo tưởng thôi. Chắc chắn những người trong vùng biết đến sự hiện hữu của Nữ tự. Làm sao mà đàn ông họ không biết chứ? Họ nhìn thấy chúng tôi thêu Nữ tự lên giầy của họ, hay thêu lên vải, hoặc là nghe chúng tôi hát hoặc đọc những cuốn lưu bút trong ngày cưới. Nhưng bất quá, họ cho là chữ của chúng tôi sơ đẳng hơn chữ của họ, nên họ không cần chú ý tới mà thôi.

          Người ta nói trái tim đàn ông làm bằng đá, tim của phụ nữ thì mềm như nước. Điều này có thể chứng minh được nếu ta so sánh hai loại chữ khác nhau. Hoa ngữ của đàn ông gồm hơn năm mươi ngàn chữ, Mỗi chữ đều có nghĩa riêng của nó. Nữ tự của chúng tôi chỉ có chừng hơn sáu trăm chữ, chúng tôi dùng âm để diễn đạt được hơn mười ngàn chữ. Muốn học Hoa ngữ của đàn ông thì phải học cả đời; trong khi chúng tôi học Nữ tự trong một thời gian ngắn lúc còn bé, và tùy thuộc vào từng câu mà xác định nghĩa của mỗi chữ.

          Đàn ông viết chữ hướng ngoại, cho dù là viết về văn chương, thời sự hay mùa màng. Phụ nữ thì hướng về nội tâm, cảm xúc. Trong gia đình chồng tôi, đàn ông rất hãnh diện vì phụ nữ trong nhà đều rành rẽ Nữ tự, mặc dù dưới mắt họ thì chẳng có nghĩa lý gì.

          Do sự coi thường Nữ tự, nên các ông không bao giờ thèm để ý đến những lá thư tôi viết hay nhận từ Tuyết Hoa. Nhưng đối với mẹ chồng tôi thì khác. Tôi cứ phải tìm cách quanh co hầu thoát được sự kiểm soát nghiêm ngặt của bà. Hiện thời, thì bà chưa tìm hiểu tôi viết gì và viết cho ai. Những tuần sau đó, tôi và Tuyết Hoa đã dùng Tâm Can làm người qua lại giữa hai làng để trao đổi thư cho nhau, hay trao cho nhau những chiếc khăn thêu. Tôi thích ngồi sau chấn song cửa sổ để nhìn theo cô giúp việc bé nhỏ đi đi, về về. Đã nhiều lần tôi tự nhủ: tôi cũng có thể tự đi được, thật ra cũng không xa lắm, và chân tôi nay cũng lành lặn, đủ khỏe để đi. Nhưng, đành phải tuân theo qui củ thôi, cho dù là có sức đi xa, thì cũng không thể nào đi một mình trên đường. Sẽ mất hết thanh danh, nếu đi ra ngoài một mình không có chồng, hay con trai, hoặc cha mẹ, bà mai đi theo. Chưa kể là rủi mà lại bị cha mẹ chồng bắt gặp. Thế nên, dù là tôi có thể đi bộ sang làng bên để gặp Tuyết Hoa, nhưng tôi không bao giờ dám.

          "Bạch Huệ,

          Chị hỏi tôi về gia đình mới của tôi? Tôi thật may mắn.

          Khi ở nhà cha mẹ, tôi thiếu hạnh phúc.

Tôi và mẹ tôi cứ phải câm nín suốt ngày đêm.

          Các bà dì ghẻ, anh chị em, người giúp việc đều bỏ đi cả.

          Nhà trống vắng lắm.

          Ở đây, tôi có cha mẹ chồng, có chồng tôi và các cô em.

          Không có thiếp, không có ngưòi giúp việc trong nhà chồng của tôi.

          Tôi phải làm hết mọi việc. Nhưng tôi không sợ.

          Vì tôi đã học được tất cả, từ chị, từ mẹ và thím của chị.

          Nhưng phụ nữ ở nhà này không giống như người nhà của chị.

          Họ không thích cười đùa, cũng không hay kể truyện.

          Mẹ chồng tôi tuổi con Chuột.

          Chị có thấy là một sự kết hợp ngộ nghĩnh với tuổi con Ngựa của tôi không?

          Con Chuột xem con Ngựa là ích kỷ, khờ khạo, mà tôi có thế đâu?

          Con Ngựa thì coi con Chuột là người tính toán chi ly, khó khăn, sự thật đúng y boong như vậy.

          Nhưng được cái là mẹ chồng tôi không đánh tôi bao giờ.

          Bà cũng không la mắng tôi, vì dù sao tôi cũng là con dâu mới.

          Chị có tin tức gì của cha mẹ tôi không?

          Chỉ ít hôm sau khi tôi sang ở hẳn bên nhà chồng thì cha mẹ tôi đã bán hết những gì còn lại, rồi ôm tiền biến mất giữa đêm khuya.

          Đi làm hành khất, thì khỏi phải đóng thuế, khỏi lo chủ nợ đòi tiền.

          Nhưng cha mẹ tôi đi đâu?

          Tôi thật lo lắng cho mẹ. Mẹ còn sống không? Hay đã về Trời?

          Tôi không biết. Có thể tôi không bao giờ được gặp lại mẹ nữa.

          Ai biết được có ngày gia đình tôi gặp cảnh này? Cha mẹ đã làm điều gì thất đức ở kiếp trước?Nếu thế, thì tôi sẽ ra sao?

          Chị có nghe tin gì về gia đình tôi không?

          Và chị, chị hạnh phúc chứ?

          Tuyết Hoa”

          Thấy Tuyết Hoa bận tâm về cha mẹ cô như thế, tôi cố vểnh tai nghe ngóng tin tức trong nhà. Nghe những người bán hàng rong đồn đại rằng họ nhìn thấy cha mẹ Tuyết Hoa ăn mặc rách rưới, phải ăn xin để sống qua ngày, và ngủ với trăng sao. Tôi cứ nghĩ đến những quyền thế mà gia đình cô ngày xưa đã trải qua, cũng như những thử thách mà mẹ cô đã trải qua, khi vào làm dâu một nhà quan quyền. Thế mà ngày nay, tại sao lại xuống dốc thê thảm đến thế? Không có bạn bè thân thiết, bị xua đuổi, sống nhờ sự thương xót của những người qua đường. Tội nghiệp cho Tuyết Hoa, xa gia đình, tình trạng của cô còn tệ hơn một đứa trẻ mồ côi. Tôi nghĩ, thà là mất cha mẹ, ta còn có thể cúng tế, còn hơn thấy cha mẹ ở trong tình trạng ăn xin như thế. Ngay như tôi khi nghe tin này tôi còn rầu rĩ, huống hồ chi là Tuyết Hoa, chắc là cô không thể nào chịu đựng nổi.

          Về câu hỏi cuối cùng của Tuyết Hoa về cuộc sống hiện tại của tôi, thì tôi có nên nói về những người chung quanh tôi không? Căn phòng Phụ nữ ở tầng trên có quá nhiều phụ nữ ở, mà không ai ưa ai. Tôi là con dâu đầu tiên của gia đình. Chỉ ít lâu sau ngày tôi sang ở hẳn bên nhà chồng thì người em trai kế của chồng tôi cũng thành gia thất, và cô vợ đã có thai rất nhanh sau ngày cưới. Cô còn trẻ, mới mười tám tuổi, cứ khóc không ngừng và đòi về nhà. Khi cô sanh con gái thì mẹ chồng tôi không hài lòng, cho nên cũng không giải quyết gì cho cô hết. Phần tôi, cố gắng làm thân với cô cho có bạn, nhưng cô ta chỉ thu mình vào một góc với tờ giấy và cây cọ để viết thư cho gia đình và đám chị em nuôi của cô. Cô không ngượng ngùng luồn cúi lấy lòng mẹ chồng, khi thì uốn mình, lúc lại thì thầm to nhỏ. Hay là tôi có nên kể về ba người thiếp của cha chồng tôi, tối ngày ghen tuông nhau, dành hết thì giờ để cãi cọ, ấu đả nhau. Thế nhưng, tôi lại chẳng có tâm địa nào kể mấy cái chuyện đó.

          Tôi có nên kể về chồng tôi không? Tôi nghĩ là có, nhưng tôi lại chẳng biết kể gì bây giờ? Tôi ít khi gặp mặt chồng tôi lắm, nếu có gặp thì cũng là lúc mà anh đang bàn chuyện làm ăn. Trong ngày, anh hay ra ngoài để đi tuần tra ruộng đất, hay kiểm soát các mối làm ăn; trong khi tôi phải lo thêu thùa trong gian phòng Phụ nữ. Tôi lo bữa ăn sáng, ăn trưa, và tối cho chồng tôi, theo cái cung cách mà ngày xưa Tuyết Hoa cư xử với người nhà của tôi. Những lúc đó, anh cũng không nói không rằng gì với tôi cả. Thỉnh thoảng anh ghé vào phòng để nựng nịu con và ở lại âu yếm tôi một lúc. Tóm lại, quan hệ giữa chúng tôi cũng giống như quan hệ của bất kỳ vợ chồng nào, kể cả vợ chồng Tuyết Hoa. Cho nên, tôi cũng đâu có cần kể làm gì.

          Tôi biết trả lời Tuyết Hoa ra sao khi chính cô là đầu mối của mọi chuyện mà tôi phải đương đầu? Một hôm, khi nhìn thấy tôi hý hoáy ngồi viết thư cho Tuyết Hoa, mẹ chồng tôi đã bảo:

          - Ta biết Tuyết Hoa đã dạy cho con nhiều thứ, và chúng ta biết ơn chuyện đó. Nhưng cô ta không còn là người trong làng, và cũng không dưới sự che chở của Lữ Lão gia nữa. Trên thực tế, Tuyết Hoa thuộc về làng của chồng cô ta, cũng như thuộc về làng Cự Tống, nơi mà cha mẹ cô ta đã cư ngụ. Nhưng nếu có chuyện gì xảy ra cho cô ấy thì chúng ta cũng không thể nào can thiệp mà không sợ liên lụy.

          Tôi nghe những lời giải thích của Lữ phu nhân, nhưng tôi hiểu rõ đó chỉ là những lời khách sáo thôi. Lý do thật sự là vì gia đình Tuyết Hoa gặp cảnh sa sút, và cô đã phải ưng một người chồng với nghề nghiệp không được trong sạch cho lắm. Cha mẹ chồng tôi chỉ muốn là từ nay tôi không còn liên hệ với Tuyết Hoa nữa.

          Ngừng một lát, bà nói tiếp:

          - Số phận của Tuyết Hoa đã được định sẵn như vậy rồi, và chẳng có liên hệ gì đến số phận của con. Ta và lão gia chỉ mong có một nàng dâu biết tự quyết định ngưng hết mọi liên hệ với người đàn bà  mà con không thể tiếp tục coi là chị em kết nghĩa nữa. Nếu con muốn có bạn, ta nhắc lại, ta có thể giới thiệu cho con nhiều cô gái có chồng ở đây, ngay tại Cự Tống này.

          - Vâng, con nhớ. Và con xin nghe lời mẹ. Tôi thì thầm với giọng không được vui.

          Nhưng trong lòng tôi đang gào lên: "không bao giờ, không bao giờ!”.

          - Họ không mong gì hơn là cùng với con lập một nhóm chị em nuôi.

          - Cám ơn mẹ.

          - Con phải coi cơ hội này là một vinh dự.

          - Vâng.

          - Điều mà ta muốn nói, là con phải loại bỏ hẳn Tuyết Hoa ra khỏi sự suy nghĩ của con. Lữ phu nhân nói tiếp trước khi hạ tối hậu thư: ta không muốn những liên hệ của con với người đàn bà ấy ảnh hưởng xấu đến cháu nội của ta.

          Trong góc phòng, mấy bà thiếp của cha chồng tôi hớn hở. Họ chỉ mong tôi gặp chuyện rắc rối. Trong khoảnh khoắc, họ thấy địa vị của họ cao hẳn hơn tôi. Nhưng nói thật, ngoại trừ những lời chỉ trích cứ lập đi lập lại như vậy, làm vui lòng người khác cũng như làm tan nát lòng tôi; thì mẹ chồng tôi cư xử với tôi tử tế hơn là mẹ ruột của tôi ngày xưa.

          Lữ phu nhân tôn trọng qui luật, như Tuyết Hoa thường giảng giải cho tôi về Tam Tòng: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử, mà tôi đã được nghe từ những ngày thơ dại. Mẹ chồng  tôi còn dạy tôi một câu ngạn ngữ khác vào một hôm vắng mặt cha chồng tôi: "bây giờ, hãy nghe lời, nghe lời, nghe lời. Và sau này, con làm những gì con muốn”. Hiện giờ, cha mẹ chồng tôi chỉ có thể cấm tôi không gặp Tuyết Hoa, nhưng không thể cấm tôi thương yêu Tuyết Hoa.

         

          “Tuyết Hoa,

          Chồng tôi đối xử tốt với tôi,

          Tôi không biết nơi đâu là đất của chúng tôi.

Tôi cũng phải làm việc nặng nhọc lắm.

          Mẹ chồng tôi kiểm soát mọi hành vi của tôi.

          Phụ nữ trong nhà này rành Nữ tự lắm.

          Mẹ chồng tôi cũng dạy thêm cho tôi những chữ mới.

          Tôi sẽ chỉ lại cho chị khi chúng ta gặp nhau lần tới.

          Tôi vẫn thêu thùa, dệt tơ, và may hài.

          Ngoài ra, còn phải ủi quần áo, và nấu ăn.

          Tôi có con trai của tôi, tôi cầu Thần nữ cho tôi thêm đứa con nữa.

          Chị cũng phải cầu như vậy nghe.

          Nghe tôi nhé: chị phải vâng lời chồng chị, và tuân lệnh mẹ chồng.

          Tôi mong chị đừng bận tâm lo nghĩ.

          Mà hãy nhớ lại những ngày chúng ta bên nhau, cùng thêu thùa,

          Cùng trao đổi những thầm kín mỗi tối.

          Chúng ta là đôi uyên ương,

          Là đôi phượng hoàng cùng nhau vượt trời xanh

          Bạch Huệ"

 

          Trong lá thư sau, Tuyết Hoa không nói về gia đình chồng cô nữa, ngoại trừ việc con trai của cô đã biết ngồi. Trước khi dừng bút, Tuyết Hoa lại hỏi han tôi:

          "Nói cho tôi biết những bữa ăn của chị ra sao?

          Bên nhà chị có đọc kinh trước bữa ăn không?

          Mẹ chồng của chị có hay kể truyện không?

Bà có hát để ăn ngon miệng không?...."

          Tôi cố gắng trả lời thành thật nhất: trong gia đình chồng tôi, đàn ông chỉ nói chuyện tiền nong và áp phe: mẫu đất nào sẽ được cho thuê? Ai sẽ canh tác? Tiền thuê bao nhiêu? Hay là chuyện thuế má. Họ chỉ muốn vươn lên càng cao càng tốt. Nhất là vào dịp tết thì mọi gia đình đều chúc tụng nhau như thế, bày những bữa tiệc thịnh soạn kèm theo lời chúc. Nhưng trong gia đình chồng tôi, thì không phải chỉ là lời chúc xuông, mà họ mong muốn thực hiện cho bằng được; tạo nên những mẩu đối thoại mà tôi chán ngấy, chẳng hiểu gì hết trơn, mà tôi cũng chẳng muốn tìm hiểu nữa.

          Gia đình chồng tôi đã có nhiều đất đai nhất làng Cự Tống này rồi, tôi chẳng hiểu sao họ cứ muốn có thêm nữa, để lên đến tột đỉnh.

          Tôi ao ước lúc này Tuyết Hoa sung sướng hơn một chút và chấp nhận - như mọi người vợ khác phải chấp nhận, hoàn cảnh sống mới của cô, thật khác xa với những gì mà cô đã từng có trước đây. Nhưng một hôm, trong lúc tôi đang thay tã cho con, thì nghe tiếng kiệu của bà Quảng dừng trước thềm nhà. Tôi nghĩ rằng bà mai đang đi lên lầu, nhưng không, là mẹ chồng tôi, với giọng nói không hài lòng cho mấy, đặt lá thư lên bàn, cạnh chỗ tôi đang đứng. Khi con trai tôi đã thiu thiu ngủ, tôi ngồi lại gần chiếc đèn dầu và mở lá thư, nhận ngay ra tuồng chữ quen thuộc:

          "Bạch Huệ,

          Tôi đang ngồi ở trên lầu, và đang khóc! Ngoài kia, chồng tôi đang thọc tiết một con heo. Anh không lấy gì làm ngại ngùng khi làm công việc sát sinh này.

          Thoạt đầu, khi mới cưới, mẹ chồng tôi còn bắt tôi phải chứng kiến những cuộc hành quyết như thế, ngay trước sân nhà. để tôi biết giá trị đồng tiền mà chúng tôi tiêu xài. Chồng tôi cũng như cha chồng dắt con heo ra trước thềm, treo nó vào một cái gậy thật to mà mỗi người gác lên một bên vai, để đầu con heo chúc xuống đất, nó kêu lên những tiếng kêu thảm thiết, vì biết trước chuyện gì sẽ xảy ra.

          Chuyện đó đã tái diễn nhiều lần và những tiếng hú rợn người cứ vang lên trong những con đường hẹp của làng tôi. Chị biết không, tiếp đó, cha chồng tôi vật con thú xuống đất, ngay cạnh cái chậu khổng lồ đựng nước sôi. (Chắc chị đã nhìn thấy cái chậu đó rồi, được quây bằng gạch, ngay trước nhà, trong một mặt bằng, có một cái lò gạch để đốt than). Chồng tôi thọc tiết con vật, hứng lấy máu, rồi vất nó vào cái chậu nước sôi, đun một hồi cho đến khi da nó mềm ra. Rồi chồng tôi bảo tôi vào phụ cạo lông con heo. Tôi chỉ biết khóc la dữ dội, chỉ kém thảm thiết hơn con heo đáng thương vừa bị giết thôi. Từ đó, tôi tuyên bố không bao giờ tham dự vào cái trò này nữa, ngay cả chứng kiến cũng không! Mẹ chồng tôi không ngừng nhiếc móc, châm biếm tôi và chê tôi là đồ gà chết toi!

          Càng ngày, tôi thấy số phận tôi càng giống câu truyện"Bà Vợ Của Ông Chu". Chị có nhớ câu truyện này dì Quảng của tôi đã kể trước khi đám cưới của chị? Từ đấy, tôi ăn chay trường. Gia đình chồng chế diễu tôi, vì họ được thêm một phần thịt nữa.

          Tôi không bao giờ muốn nói dối chị. Tôi đã hứa từ rày về sau sẽ luôn luôn nói sự thật, nhưng thật là ngại ngùng khi chị biết sự thật thảm thương này của tôi.

          Tôi đang ngồi trước chấn song cửa sổ, và đang nhận ra làng tôi ở bên kia ruộng lúa. Tôi cũng đang tưởng tượng ra chị, cũng ngồi sau chấn song cửa sổ, nhìn sang làng tôi.

          Tim tôi đang bay đi tìm chị. Chị có ngồi bên song cửa không? Có cảm nhận được sự hiện hữu của tôi không?

          Thiếu chị, đời tôi chỉ còn buồn thảm. Hãy viết ngay cho tôi, hay là đến gặp tôi được không?

          Tuyết Hoa"

          Thật là kinh khủng! Tôi nhìn qua song cửa sổ, về hướng làng La Tân, hy vọng được nhìn thấy Tuyết Hoa. Tâm tư tôi nặng trĩu khi thấy Tuyết Hoa đang chịu đựng mà tôi lại không làm gì được để an ủi cô. Không cần để ý đến mẹ chồng, tôi lấy giấy và mài mực. Trước khi cầm bút, tôi đọc lại lá thư của Tuyết Hoa. Khi đọc lá thư lần đầu tiên, tôi bị xúc động bởi nỗi buồn ray rứt trong thư mà không để ý đến một chi tiết: Tuyết Hoa đã bỏ hẳn cái cung cách viết thư thường lệ, mà chỉ viết theo cảm hứng của ngòi bút, để không làm gián đoạn giòng tư tưởng.

          Những lời nói mạnh bạo của Tuyết Hoa cho tôi thấy rõ cái lợi ích của tuồng chữ bí mật này của chúng tôi, cho phép chúng tôi nói lên được tiếng nói của mình mà không sợ đàn ông trong nhà khám phá ra. Chúng tôi là những người phụ nữ phải bó chân, phục tùng. Nhưng nhờ Nữ tự, chúng tôi đã có thể truyền đạt tư tưởng cho nhau đến tận bên kia làng mạc. Đàn ông trong nhà không thể tưởng tượng được là chúng tôi có những điều quan trọng để nói với nhau. Dưới mắt họ, chúng tôi làm sao dám diễn đạt chút mảy may ý kiến nào. Còn mẹ chồng và những phụ nữ khác trong nhà thì chỉ muốn phong tỏa chúng tôi với thế giới bên ngoài. Nhưng bây giờ, tôi và Tuyết Hoa vẫn có thể liên lạc, viết cho nhau những sự thật trong đời sống. Tôi bỏ hết các câu sáo ngữ khuôn thước đi, để chỉ viết những tình cảm thật trong lòng, như là chúng tôi đang nói chuyện với nhau, tay trong tay, trên căn gác nhà tôi thưở nhỏ.

          Tôi muốn đi gặp Tuyết Hoa ngay để nói với cô rằng mọi việc sẽ tự nó đâu vào đó. Nhưng nếu tôi lén mẹ chồng để đi thì lại vi phạm vào điều cấm kỵ trong gia đình. Chỉ còn cách dùng mẹo để nói với nhau qua thư thôi.

          "Tuyết Hoa,

          Tôi đã khóc thật nhiều khi tưởng tượng ra chị trong hoàn cảnh đó. Chị phải xứng đáng để có một cuộc sống hơn hẳn cuộc sống ti tiện đó. Chúng ta nhất định phải gặp nhau. Chị hãy đi cùng tôi trong dịp tôi sẽ được về thăm cha mẹ tôi vào dịp lễ Diệt Chim Chóc. Chúng ta sẽ đem con của chúng ta theo, sẽ sung sướng bên nhau trong dịp lễ đó, để chị quên bớt những phiền muộn.

          Hãy nhớ rằng chúng ta không chết khát bên cạnh một con suối. Và chúng ta không mất niềm tin khi ở cạnh người chị em của mình. Trong tim tôi, chị vĩnh viễn là chị em thương yêu của tôi.

          Bạch Huệ"

          Tôi dựng lên cái mưu đó, khi ngồi trong căn phòng Phụ nữ của gia đình chồng. Nhưng tôi cũng hơi sờ sợ. Tôi nghĩ cách tốt nhất và giản dị nhất là tôi sẽ ghé qua làng của Tuyết Hoa, đón cô vào kiệu và cùng tôi về nhà cha mẹ ở Phủ Quỳ. Nhưng đó cũng là cách dễ bị bại lộ nhất. Mấy bà thiếp của cha chồng tôi có thể rình mò sau chấn song cửa sổ, và khám phá ra chiếc kiệu của tôi đi về hướng La Tân. Nguy hiểm hơn nữa là dịp ấy sẽ có nhiều phụ nữ, kể cả mẹ chồng tôi sẽ ra đường để về gặp cha mẹ, anh em ruột. Bất kỳ ai cũng có thể nhận ra chúng tôi và sẵn sàng thọc mạch với Lữ gia để tâng công. Nhưng khi đến ngày lễ, thì tôi quyết định lấy can đảm thực hiện kế hoạch, tôi tin rằng tôi sẽ thành công.

          Ngày mồng một tháng hai âm lịch đánh dấu khởi đầu của công việc đồng áng trong năm, cũng là ngày lễ Diệt Chim Chóc. Trong gia đình tôi, hôm ấy đàn bà phải dậy sớm để nắm cơm nếp. Ngoài đồng, đàn ông bắt đầu gieo mạ. Tôi cùng với mẹ chồng nặn những viên nếp để tế lễ, cầu cho mùa gặt sắp tới. Đến giờ lễ, những cô gái chưa chồng trong làng dùng đũa cắm những viên nếp vừa nặn xong, rồi đem ra đồng cắm xuống đất để nhử chim chóc. Trong khi đó, thì đàn ông sẽ rải những hạt độc chung quanh ruộng lúa. Khi mà đàn chim bị mắc lừa, lao xuống ăn những hạt độc chết người ấy, là lúc mà đàn bà có chồng trong làng lên kiệu để về nhà cha mẹ ruột. Người già trong làng kể rằng ở Cự Tống, tục truyền rằng, nếu phụ nữ không ra khỏi làng, thì chim chóc sẽ ăn hết hạt do đàn ông vừa gieo, đồng thời, chúng tôi cũng không thể sanh con trai được.

          Như dự tính, chiếc kiệu ghé qua làng La Tân. Tôi tránh không xuống kiệu để đừng bị ai khám phá. Cánh cửa nhà mở ra và Tuyết Hoa xuất hiện trên bậc thềm, cậu con trai đang ngủ trên vai cô. Tuyết Hoa chạy vội đến bên tôi. Tám tháng rồi, chúng tôi không được gặp nhau, kể từ lần cuối cùng đi thăm đền Cầu Tự. Cho dù với tất cả các công việc nặng nhọc mà Tuyết Hoa phải làm, cũng như cô có hơi đẫy đà hơn sau khi sanh con, tôi nghĩ rằng Tuyết Hoa đã lấy lại được vóc dáng bình thường của cô. Nhưng chiếc áo ngắn và chiếc váy có căng ra khoe những đường nét tròn trịa.

          Tuyết Hoa xoay nhẹ mặt của đứa bé để cho tôi nhìn mặt. Đứa bé con nào mà chẳng đẹp! và không chối cãi được là con tôi cũng thế. Thế nhưng, con trai của Tuyết Hoa, dù có mái tóc đen nhánh, nhưng lại ẻo lả như cây sậy, mặt mũi cau có, cộng thêm nước da màu vàng sáp, khiến nó trông có vẻ bệnh hoạn. Nhưng tôi không dám nói ra, mà vẫn phải khen thằng bé luôn miệng, như Tuyết Hoa đang khen con tôi.

          Ngồi trên chiếc kiệu cứ đong đưa, lắc lư, chúng tôi kể lể cho nhau nghe đời sống mới bên gia đình chồng. Tuyết Hoa đang dệt một mảnh vải và từ từ thêm vào đó mấy lời thơ, thật là lãng mạn. Còn tôi, tôi đang tập làm gà vịt muối khô, không có gì đặc biệt cả. Nhưng chúng tôi còn bao nhiêu chuyện khác nghiêm trọng hơn để nói với nhau. Khi tôi hỏi Tuyết Hoa hiện nay cô sống ra sao, Tuyết Hoa không ngần ngại:

          - Cứ mỗi sáng thức dậy, - Tuyết Hoa kể, tôi không vui chút nào, trừ lúc thấy con trai tôi. Chị biết không, tôi thật thích ca hát lúc làm việc, nhưng cứ nghe tôi ư ử là chồng tôi nổi cáu! Lúc nóng giận thì anh ta cấm cửa tôi, lúc vui vẻ thì cho phép tôi ra sân, nơi anh ta vẫn thọc tiết heo. Nhưng tôi không thể nào quên được những con thú đã chết nơi đó dưới tay chồng tôi. Mỗi tối đi ngủ, lại nghĩ đến sáng mai thức dậy, không thấy bình minh….

          Tôi cố an ủi Tuyết Hoa:

          - Chị nói thế chỉ vì chị mới làm mẹ không lâu, và chị về nhà chồng vào mùa đông.

          Tôi không có quyền so sánh sự cô đơn của tôi với hoàn cảnh của Tuyết Hoa. Nhưng tôi cũng buồn thảm lắm, mỗi khi nghĩ đến quê nhà thời thơ ấu, trong những ngày đông giá. Tôi nói thêm:

          - Mùa xuân sẽ đến, với những ngày dài hơn. Chúng ta chắc chắn sẽ sung sướng hơn.

          - Tôi thì tôi lại mong ngày càng ngắn càng tốt. Chỉ khi đêm xuống, mới là lúc thảnh thơi: không nghe tiếng cha chồng tôi phàn nàn trà không đủ đặc, mẹ chồng nhiếc móc tôi quá mẫn cảm, các bà chị, em chồng sai bảo giặt giũ quần áo cho các bà ấy, hay chồng tôi cằn nhằn là tôi làm mất mặt anh ta với dân làng. Ấy là chưa kể đến tiếng kêu khóc không ngừng của con trai tôi.

          Tôi rụng rời về những nhận xét mà Tuyết Hoa vừa nêu ra, về cuộc sống quay quắt của cô. Cách đây vài hôm, tôi còn tự hứa là sẽ hết sức thẳng thắn với Tuyết Hoa. Nhưng giờ đây, tôi lại không biết nói gì nữa, ngoài những câu khách sáo.

          - Tôi cố gắng chiều ý chồng tôi và mẹ chồng, - tôi nói, như thế sẽ dễ thở hơn. Tôi nghĩ chị cũng nên làm như vậy. Chị chịu đựng hôm nay, nhưng sau này khi mẹ chồng mất, chị sẽ là người đàn bà nối tiếp trong gia đình. Chị là dâu trưởng lại có con trai, chắc chắn là sẽ có địa vị sau này.

          Tuyết Hoa cười gượng gạo. Tôi nói đến lời phê phán của cô về đứa con. Tôi thật không hiểu. Đó là bổn phận của Tuyết Hoa, và lẽ ra cô phải vui lắm khi được săn sóc cho con chứ? Tôi nói:

          - Con trai chị rồi sẽ lẫm chẫm biết đi, cho chị phải chạy theo nó cả ngày cho coi. Chị sẽ thấy sung sướng lắm.

          Tuyết Hoa ôm ghì đứa bé sát hơn, thì thầm:

          - Tôi đang đợi một đứa bé nữa!

          Tôi vui vẻ chúc mừng cô. Nhưng cái tin này làm tôi đảo lộn. Điều này đã xác nhận đôi ngực căng tròn và vóc dáng hơi đẫy đà của Tuyết Hoa. Cô đã cố gắng đốt giai đoạn? Nhưng làm sao mà Tuyết Hoa lại có thể có bầu nhanh chóng như thế chứ? Có phải đó là điều mà cô muốn ngụ ý trong lá thư khi cô nói đến chuyện không tôn trọng truyền thống? Có nghĩa là Tuyết Hoa và chồng cô đã không tôn trọng thời gian ở cữ một trăm ngày theo như tục lệ? Chỉ có cách giải thích duy nhất như thế thôi.

          - Tôi hy vọng chị sẽ có thêm đứa con trai, - cuối cùng tôi cũng cố nói với cô được một câu như vậy.

          - Tôi cũng thế. Chồng tôi không ngừng lải nhải đến điếc cả tai rằng thà là nuôi một con chó còn hơn đẻ con gái! - Tuyết Hoa vừa nói vừa cười buồn.

          Cả hai đứa chúng tôi rất hiểu nhau khi Tuyết Hoa nói câu đó. Số phận của chúng tôi trong xã hội Trung Hoa là như thế. Vận mạng của chúng tôi không do chúng tôi định đoạt. Nhưng nói ra một điều như thế với vợ, khi vợ mình đang có thai. Thật là bất nhẫn!

          Chiếc kiệu dừng lại bất thình lình, và tiếng kêu thích thú của anh và em trai tôi khiến tôi ngơ ngác, vén màn cửa sổ nhìn ra. Thì ra, tôi đã đến nhà. Chữ "Nhà" sao mà thân thương, êm đềm quá.

          Bao nhiêu là thay đổi trong nhà tôi. Anh cả của tôi nay đã có hai con. Chị dâu tôi cũng theo phong tục, trở về nhà cha mẹ ruột trong dịp lễ này. Nhưng chị để hai đứa con lại nhà cho chúng tôi được gặp mặt các cháu. Em trai út của tôi chưa lập gia đình nhưng giai đoạn chuẩn bị cũng tiến hành thuận lợi. Chị hai tôi cũng được về nhà, cùng với hai con gái và con trai. Chị có già hơn xưa, nhưng tôi nhìn chị không khác gì những ngày tôi còn bé. Mẹ tôi thì vẫn thế, tuy không thể chỉ trích tôi một cách thẳng thừng như xưa, nhưng thỉnh thoảng cũng cứ vẫn lời ong tiếng ve. Cha tôi tỏ vẻ sung sướng, nhưng tôi thấy rõ gánh nặng mà cha phải chịu khi phải nuôi ngần ấy miệng ăn, dù chỉ trong một vài ngày. Đếm ra, thì có đến bảy đứa con nít trong nhà, từ sáu tháng đến sáu tuổi. Trong nhà tràn ngập tiếng cười nói, tiếng chân chạy rầm rập của đám trẻ, chạy tứ tung khắp căn phòng nhỏ. Chưa bao giờ thím tôi lại vui đến thế, thím luôn luôn mơ ước một gia đình đầy con trẻ. Nhưng, thỉnh thoảng tôi bắt gặp ánh mắt mờ lệ của thím. Nếu thế giới này có công bằng, thì hôm nay, em Diễm Nguyệt cũng phải có mặt ở đây trong đám chúng tôi, cùng với con của em.

          Chúng tôi có ba ngày hạnh phúc, cùng nói đùa, cùng cười vui, cùng ăn, cùng ngủ, tránh nói những chuyện không vui hay bất đồng. Những giây phút riêng tư nhất của Tuyết Hoa và tôi là lúc trời tối, trong căn phòng Phụ nữ của gia đình. Chúng tôi đặt hai con trai nằm giữa chúng tôi. Nhìn chúng nằm cạnh nhau, tôi lại càng thấy rõ sự khác biệt. Con trai tôi trông bụ bẫm mũm mĩm với mái tóc đen nhánh, như cha. Nó háu đói, và bú sữa mẹ thật ngon lành cho đến khi cạn sữa mới chịu ngừng. Con trai của Tuyết Hoa thì cứ ọc sữa trên vai mẹ khi Tuyết Hoa vỗ lưng cho nó ợ. Nó cũng thất thường, nhất là buổi tối, nó hay kêu khóc, mặt đỏ tía tai, và trên mông đầy những mảng đỏ. Nhưng khi cả bốn đứa chúng tôi cùng chui vào chăn, thì hai đứa bé say sưa ngủ bên nhau, và chúng tôi thì thầm trao đổi những chuyện thầm kín. Một đêm, sau khi chắc chắn rằng mọi người đều ngủ cả rồi, Tuyết Hoa hỏi tôi:

          - Chị thấy sao về đời sống vợ chồng? Chị hạnh phúc chứ?

          Đã bao năm qua, chúng tôi đã từng nghe thím nói về hạnh phúc lứa đôi của chú thím, nhưng đối với chúng tôi, đó là những chuyện mơ hồ lắm. Nhưng hôm nay, tôi biết rõ Tuyết Hoa muốn hỏi chuyện gì.

          - Tôi và chồng tôi, - Tuyết Hoa vội tiếp lời khi thấy tôi lặng thinh, là đôi uyên ương về điểm này. Chúng tôi thật sự hạnh phúc lắm.

          Tôi nghi ngờ. Có phải là Tuyết Hoa cũng lại đang nói dối tôi, như cô đã từng dối gạt tôi trong suốt bao nhiêu năm qua? Thấy tôi vẫn im lặng, Tuyết Hoa nói tiếp:

          - Chúng tôi thật sự hòa hợp với nhau. Nhưng tôi cũng có chút bận tâm khi chồng tôi không tôn trọng thời gian ở cữ của tôi…

          Tuyết Hoa ngừng một chút rồi tiếp:

          - Tôi chẳng biết làm sao là tuân theo thôi…

          Dù gì, tôi cũng thấy được nhẹ nhàng trong tâm tư. Ít ra, Tuyết Hoa cũng đã thành thật với tôi, khi nói ra sự thật. Ai có thể đặt ra những chuyện như thế chứ? Và đặt chuyện thì có ích lợi gì?

          - Như thế không tốt đâu, - tôi thì thầm. Cần phải tôn trọng qui luật và truyền thống chứ.

          - Chị sợ là tôi sẽ phải tội như chồng tôi?

          Tôi cũng đã có ý tưởng như vậy, nhưng tôi nói trớ đi:

          - Tôi không muốn chị bị bệnh. Lại càng không muốn vì thế mà chị bị chết.

          Tuyết Hoa cười nhẹ trong bóng đêm:

          - Không ai bị bệnh vì chiều chồng cả. Tôi quần quật cả ngày dưới ách đô hộ của bà mẹ chồng. Tại sao không tận hưởng chút hương vị của ban đêm chứ? Nhất là, nếu may mắn có thêm đứa con trai nữa, thì thật là hạnh phúc.

          Về điểm này, thì tôi hoàn toàn đồng ý với Tuyết Hoa. Đứa bé nằm bên chúng tôi vừa xanh xao, vừa yếu ớt. Tuyết Hoa nên có thêm đứa con trai khác, đề phòng…

          Ba ngày trôi qua nhanh chóng quá. Tuy nhiên tôi thấy lòng nhẹ nhõm hẳn đi. Chiếc kiệu lại mang Tuyết Hoa về trước thềm trước khi đưa tôi về nhà chồng. Tôi kín đáo nên không ai nhìn thấy tôi đi một vòng như vậy, và tôi cũng cẩn thận cho tiền đầy đủ cho các người phu khuân kiệu để giữ bí mật. Sau lần ấy, tôi can đảm hơn, và biết rằng từ nay tôi có thể gặp Tuyết Hoa thường xuyên hơn. Trong năm biết bao nhiêu là dịp lễ bắt buộc chúng tôi phải trở về nhà cha mẹ ruột, chưa kể là còn dịp lễ Cầu Tự hàng năm nữa. Dù mẹ chồng tôi không đồng ý đi nữa, thì dù sao, chúng tôi cũng là chị em kết nghĩa.

          Những ngày tháng kế tiếp, chúng tôi vẫn thường xuyên viết cho nhau. Những lá thư cứ đi đi về về như những cánh nhạn tự do bay trong gió, nhờ sự tiếp tay của cô bé giúp việc Tâm Can. Dần dần, những lời ta thán của Tuyết Hoa cũng bớt hẳn đi, và tôi cũng giới hạn than thở. Chúng tôi đâu còn thì giờ than thở nữa bởi chúng tôi đã là mẹ rồi, và đang phải sống trong thời kỳ thay đổi liên miên của các con: ôi thôi, nào là mọc răng, biết lẫy, biết bò, nào là tập đi. Trong tâm tư, chúng tôi khuyên nhủ nhau uốn mình trong gia đình chồng, tuân lệnh mẹ chồng và chiều chuộng chồng mình. Ngay như khi viết thư cho Tuyết Hoa, tôi cũng chia xẻ những giây phút âu yếm vợ chồng. Bây giờ tôi hiểu rất rõ câu ngụ ngôn: "ở nhà làm chồng, ra ngoài làm đàn ông của thế giới". Chồng tôi, ban ngày tôn trọng chín điều lễ nghĩa. Anh rất tử tế minh mẫn, cẩn thận, nhẹ nhàng. Anh luôn chứng tỏ sự khiêm nhường, trung thành, lễ độ và công bằng với kẻ dưới. Khi có điều gì nghi ngờ, anh hay hỏi ý kiến của cha anh. Ít khi thấy anh cáu giận hay nếu có thì cũng khéo léo không để tôi biết. Đêm về, anh âu yếm chiều chuộng tôi, và tôi chiều ý anh. Nhưng tôi vẫn không sao hiểu được những ngụ ý mà thím tôi thường nói đến hay những hạnh phúc tuyệt vời mà Tuyết Hoa đã đề cập về vợ chồng cô. Nhưng, cho dù không hiểu hết, nhưng ít nhất tôi hiểu một điều: không có sự vi phạm truyền thống nào mà không phải trả giá!

          "Bạch Huệ,

Con gái của tôi đã chết khi vừa chào đời, Nó đã xa lìa chúng tôi khi chưa kịp mọc rễ cũng như chưa nhuốm những đau khổ của cuộc đời. Tôi cầm hai bàn chân cháu trong tay. Ít nhất, cháu nó không phải trải qua cái nhục hình bó chân như chúng ta đã trải qua, chị nghĩ có đúng không?

Tôi vuốt mắt cháu, đôi mắt không phải đượm buồn khi lìa xa tổ ấm gia đình, không phải ứa lệ khi nhìn mẹ lần cuối, không phải đớn đau khi tiễn con mình lìa đời.

Tôi đặt tay lên tim cháu. Trái tim chưa hề nhỏ lệ: sự chịu đựng, cô đơn và xấu hổ, là những điều xa lạ. Tôi đang nghĩ đến cháu ở trên trời, không biết nó có ở cạnh mẹ tôi không? Tôi hoàn toàn không biết số phận của họ ở trên đó ra sao?

Mọi người ở đây không ngừng nhiếc móc tôi. Mẹ chồng tôi trách: "ta cũng không hiểu tại sao chúng tôi lại chấp nhận cuộc hôn nhân này, lấy phải một nàng dâu để sanh con gái?". Chồng tôi cũng thế, an ủi tôi bằng cách: "em còn trẻ, sẽ còn sanh con khác. Mà lần sau, thì phải sanh cho anh con trai."

Tôi chẳng có cách chi khuyây khỏa. Chẳng có ai cho tôi một lời an ủi. Tôi chỉ muốn nghe một mình tiếng chân của tôi lên xuống cầu thang mà thôi.

Tôi tưởng tượng ra tôi như con chim: bay lên tận chín tầng mây, để lại thế giới thật xa bên dưới.

Chiếc dây chuyền mặt ngọc để cầu xin bình an cho đứa con sắp sanh vẫn còn trên cổ của tôi. Tôi nhìn nó mà không ngớt nghĩ đến đứa con vừa mất.

Tuyết Hoa "

Cái chuyện sanh non, chết yểu là chuyện thường tình trong vùng của chúng tôi, đã không khiến ai bận tâm cả, nhất là khi đứa bé lại là con gái. Chỉ có khi nào đứa bé chết là con trai thì mới là thảm họa. Trường hợp ngược lại thì đôi khi lại làm cha mẹ thở phào: ít nhất đỡ được một miệng ăn! Phần tôi, tuy là khi có thai, tôi cũng lo sợ lắm: sợ sẽ sanh con gái sẽ bị cả nhà chồng ruồng bỏ, hay là con tôi sẽ chết yểu. Điều tôi muốn nói là tôi vẫn không sao hiểu được tại sao Tuyết Hoa lại xúc động mạnh mẽ như thế?

Tôi chỉ mong Tuyết Hoa cư xử thành thật với tôi, nhưng bây giờ, trước sự thành thật ấy, tôi lại chẳng biết nói gì. Tôi muốn an ủi Tuyết Hoa, song lại lo sợ cho cô, không biết phải viết ra sao. Cái thảm cảnh của Tuyết Hoa vượt khỏi sự tưởng tượng của tôi. Tôi mới hai mươi mốt tuổi thôi, và may mắn được cuộc sống hạnh phúc, nên sự thông cảm của tôi đã bị giới hạn.  

Tôi nghĩ nát óc để tìm lời lẽ viết cho người đàn bà mà tôi thương yêu. Nhưng, thật là xấu hổ, tôi chỉ nghĩ ra được những lời khuôn thước, khách sáo đã học được từ tấm bé. Cầm chiếc cọ trong tay, tôi quyết định chỉ viết ngắn gọn để nhắn nhủ Tuyết Hoa rằng mọi việc chỉ là phù du, rồi sẽ qua đi. Điều quan trọng là Tuyết Hoa phải cố gắng có thai lần nữa, càng sớm càng tốt, để giữ địa vị trong gia đình. Bởi vì nghĩa vụ đầu tiên của đàn bà chúng tôi là sanh được càng nhiều con trai càng tốt.

"Tuyết Hoa,

Tôi đang ngồi trên phòng, tràn ngập suy nghĩ.

Tôi muốn viết để an ủi chị.

Xin chị hãy nghe tôi.

Xoa dịu trái tim lại, người bạn yêu mến của tôi.

Hãy nghĩ rằng tôi đang ở bên chị, tay trong tay."

Hãy tưởng tượng tôi cũng đang khóc bên cạnh chị,

Như thế, dòng lệ của chúng ta sẽ không bao giờ chảy nữa.

Hãy lau khô nước mắt.

Sự đau buồn của chị thật sâu đậm, nhưng chị không cô đơn.

          Đừng buồn nữa,

          Mọi sự do tiền định, dù là hạnh phúc hay đau khổ.

          Biết bao nhiêu đứa trẻ lìa đời, gánh nặng cứ đè lên vai người mẹ.

          Chúng ta không làm chủ được vận mệnh của mình.

Điều duy nhất chúng ta có thể làm là cố gắng làm lại từ đầu.

Lần sau, chắc chắn sẽ là con trai…

Bạch Huệ"

 

Hai năm trời trôi qua, hai đứa bé đã biết đi và biết nói. Con trai của Tuyết Hoa biết trước con tôi, vì sanh trước sáu tuần. Tuy nhiên, đôi chân của nó vẫn không cứng cáp như con tôi. Nó vẫn mảnh khảnh thế nào ấy, và rất yếu ớt. Tôi không muốn nói là nó không thông minh, trái lại là đằng khác. Nhưng vẫn không thông minh như con trai tôi, mới ba tuổi đã muốn cầm cọ tập viết chữ. Nó thật khỏe mạnh và hoạt náo. Ngay cả mấy bà thiếp của cha chồng tôi cũng yêu thích nó, nói chuyện về nó một cách náo nhiệt không khác gì lúc nhận được xấp lụa mới.

Lúc con trai tôi được ba tuổi, thì tôi sanh đứa con trai thứ nhì. Số mạng của Tuyết Hoa không may mắn như vậy. Có thể Tuyết Hoa vẫn hạnh phúc trong đời sống vợ chồng, nhưng không mang lại kết quả gì nhiều, ngoại trừ đứa con gái thứ nhì, cũng chết yểu lúc vừa sanh.

Sau lần mất mát đó, tôi viết thư khuyên Tuyết Hoa nên đi khám thầy lang, để xin thuốc uống cho có con trai và gia tăng sức khỏe của người chồng. Tuyết Hoa biên thư cho tôi, nói rằng cả hai vợ chồng sẽ nghe theo lời khuyên của tôi.

 

Chương 14 – Buồn vui

 

          Khi con trai của tôi lên năm tuổi, thì chồng tôi ngỏ ý muốn mời một gia sư đến để chăm sóc việc học cho con tôi. Vì chúng tôi sống cùng với cha mẹ chồng nên đâu có nguồn lợi riêng, đành phải hỏi cha mẹ chồng xin trả chi phí đó. Lẽ ra, tôi phải xấu hổ lắm trước tham vọng của chồng tôi, nhưng chuyện đó đã trái ngược hẳn với điều tôi nghĩ, và sau đó, tôi đã không bao giờ hối hận. Về phía cha mẹ chồng tôi, thì chưa bao giờ ông bà lại vui mừng và chờ đợi cái ngày vị gia sư đến ở trong nhà, cũng là ngày mà con tôi sẽ phải rời gian phòng Phụ nữ của gia đình. Hôm đó, tôi đã khóc vì sung sướng và chưa bao giờ tôi lại hãnh diện đến như thế. Tôi thầm ao ước, ngày nào đó con trai tôi cũng sẽ được lên kinh ứng thí. Tuy là đàn bà nhưng tôi cũng biết là triều đình cho phép những thư sinh dù nghèo đến đâu cũng được quyền đi thi để hy vọng cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhưng khi nghĩ đến lúc con trai tôi phải rời tôi, thì tôi lại cảm thấy trống vắng kinh khủng. Tôi không còn tâm địa nào để xem con làm trò hề nữa, hay nghe mấy bà thiếp của cha chồng tôi nói xiên nói xỏ, mấy cô em dâu thì cứ ủng oẳng cãi cọ nhau. May mắn thay, ngay tháng giêng năm đó, tôi lại có bầu.

          Dạo ấy, trên lầu đầy nhóc người. Cô em dâu thứ ba của tôi vừa dọn vào với chúng tôi, và vừa sanh con gái. Cô em dâu thứ tư cũng theo bén gót, và cũng sanh đứa con gái, cô ta không ngừng càu nhàu luôn miệng. Chẳng ai làm hài lòng cô hết. Mẹ chồng tôi ghét cô ta thậm tệ và hằn học ra mặt. Liên tiếp sau đó, cô đã mất hai đứa con trai. Khỏi phải nói, thì các bạn cũng biết rằng mọi người trong nhà thèm thuồng sự may mắn của tôi đến thế nào.

          Trong gian phòng Phụ nữ, không có gì của người nọ mà người kia không biết, nhất là chuyện thai nghén của chúng tôi. Lữ phu nhân đặc biệt theo dõi các tin tức này, và không ngừng đe dọa chúng tôi: "một người vợ mà không sanh được con trai, thì đừng trách có ngày bị thay thế". Câu nói đó không che dấu được sự ganh ghét của bà đối với mấy bà thiếp của chồng.

          Lần có thai này, tôi thấy rõ sự ghen tị của những người đàn bà khác trong gia đình. Nhưng họ làm gì được tôi chứ? ngoại trừ họ phải tự cố gắng được như tôi. Phần tôi, tôi lại muốn lần này có con gái. Con trai thứ nhì của tôi rồi một ngày kia cũng sẽ xa tôi để sáp nhập vào thế giới đàn ông. Còn con gái thì có thể ở gần tôi cho đến ngày lấy chồng. Sự ao ước của tôi càng gia tăng khi tôi hay tin Tuyết Hoa cũng đang mang thai. Tôi cũng mong sao Tuyết Hoa cũng sanh con gái.

          Lần gặp sắp tới của chúng tôi là vào dịp lễ Khai Tửu, rơi vào ngày mồng sáu tháng sáu âm lịch. Năm năm rồi, từ khi tôi vào nhà họ Lữ và mẹ chồng tôi vẫn không thay đổi nhãn quan đối với Tuyết Hoa. Tôi không biết mẹ chồng tôi có nghi ngờ về chuyện chúng tôi vẫn lén lút gặp nhau vào những dịp lễ tết hay không, nhưng ngày nào tôi không lộ liễu quá và tôi vẫn làm đầy đủ công chuyện nhà, thì bà cũng mắt nhắm mắt mở, và tránh không nhắc đến chuyện này.

          Cũng như những lần trước, chúng tôi thật sung sướng khi gặp lại nhau, trên gian phòng Phụ nữ của gia đình tôi. Các con của chúng tôi cũng nằm chung giường với hai đứa tôi. Tôi tâm sự với Tuyết Hoa là tôi muốn có một đứa con gái để bầu bạn với tôi. Tuyết Hoa xoa cái bụng tròn trĩnh của cô, rồi nhắc nhở tôi rằng con gái chỉ là những nhánh cây vô dụng, không thể nối dòng dối dõi.

          - Nhưng đối với chúng ta, - tôi trả lời Tuyết Hoa, thì con gái hữu ích lắm. Chúng ta có thể kết giao ngay từ bây giờ để sau này chúng trở thành chị em kết nghĩa.

          - Nhưng chúng ta thật vô dụng Bạch Huệ à, - Tuyết Hoa trả lời tôi, mắt ngước nhìn ánh trăng lung linh ngoài song cửa. Chị cũng như tôi biết rõ điều đó mà.

          - Nhưng chính đàn bà sẽ sanh ra con trai mà. Tôi trả lời.

          Chính điều này đã bảo đảm địa vị của tôi trong gia đình chồng. Và tôi tin rằng Tuyết Hoa cũng thế, vì cô cũng đã có một đứa con trai.

          - Đúng thế, - Tuyết Hoa nói, đúng là có đàn bà thì mới sanh con trai cho đàn ông. Nhưng…

          - Con gái sẽ bầu bạn với chúng ta….

          - Nhưng tôi đã mất hai đứa con gái rồi.

          - Tuyết Hoa, - tôi ngắt lời cô, chị không muốn chúng ta có con gái để rồi chúng cũng như chúng ta, trở thành chị em kết nghĩa?

          Cái ý nghĩ để làm hài lòng Tuyết Hoa vừa nảy ra trong ý của tôi. Tuyết Hoa cười buồn:

          - Dĩ nhiên làm muốn chứ. Cô nói. Hơn nữa, chúng ta phải có hai đứa con gái, để chúng tiếp nối tình yêu của chúng ta khi tôi với chị về trời.

          - Thế thì tốt quá, vậy là quyết định như thế nhé. Bây giờ, hãy nằm gần tôi, và đừng suy nghĩ gì nữa cả. Hãy tận hưởng những giây phút chúng ta được gặp nhau.

          Mùa xuân năm sau, chúng tôi trở lại Phủ Quỳ, cùng với hai đứa con gái vừa sanh, nhưng chúng không sanh cùng ngày, cũng không cùng tháng. Chúng tôi so sánh đôi bàn chân của hai đứa bé: dù là còn nhỏ, nhưng kích thước cũng không giống nhau. Dù là có thiên vị con gái của mình đến đâu, tôi cũng phải công nhận một điều: Xuân Nguyệt, con gái của Tuyết Hoa đẹp như mẹ, hơn hẳn Tiểu Ngọc của tôi. Theo tiêu chuẩn của nhà họ Lữ chúng tôi, thì nước da Tiểu Ngọc hơi xậm; còn Xuân Nguyệt có màu da như trái lê trắng mởn. Tôi chỉ mong sao Tiểu Ngọc sẽ cứng cáp như cái tên của con; cũng như mong sao số phận Xuân Nguyệt sẽ tốt đẹp hơn số phận hẩm hiu của em họ của tôi, Diễm Nguyệt, mà Tuyết Hoa muốn tưởng niệm nên đã dùng tên của em họ tôi mà đặt tên cho con gái. Tám đặc điểm của hai đứa bé không phù hợp nhau. Nhưng mặc kệ. Chúng tôi vẫn quyết định sẽ để hai đứa nó kết nghĩa làm chị em.

          Chúng tôi mở chiếc quạt. Cả cuộc đời của hai chúng tôi được tóm tắt trong đó, đang mở  ra trước mặt. Bao nhiêu là hạnh phúc chứa chan: ngày chúng tôi kết nghĩa, lúc lấy chồng, sanh con trai, bây giờ sanh con gái, và dịp kết nghĩa sắp tới của hai đứa trẻ.

          "Một ngày kia, - tôi viết, hai cô gái sẽ gặp nhau và sẽ kết nghĩa thành chị em. Chúng sẽ trở thành một cặp uyên ương mới. Hai bên cha mẹ, lòng tràn ngập niềm vui, cùng đứng trên cầu ngắm nhìn đôi chim tung cánh….".

          Bên trên nếp quạt, Tuyết Hoa vẻ đôi chim đang mở rộng đôi cánh, bay về phía ánh trăng. Bên dưới, một đôi chim khác đang ngắm nghía bầu trời.

          Trong khi chờ cho ráo mực, chúng tôi ngồi bên nhau, đong đưa hai đứa con gái. Tôi thấy hạnh phúc vô bờ. Tuy nhiên, tôi không khỏi băn khoăn là cuộc kết nghĩa này đã không tôn trọng những qui luật từ xưa đã đặt ra. Chúng tôi vừa phạm phải một điều cấm kỵ.

          Hai năm sau, Tuyết Hoa biên thư báo cho tôi là cô vừa sanh đứa con trai thứ nhì. Cô vui mừng khôn xiết và tôi cũng thấy vui lây, mừng cho cô và tin rằng từ nay địa vị của cô bên nhà chồng sẽ được củng cố.

          Niềm vui ấy chưa kéo dài được bao lâu thì ba hôm sau, một tin buồn lan tràn trên toàn quốc: Hoàng đế Đạo Quang đã băng hà. Cả vùng của chúng tôi nhuộm một màu tang tóc, dù rằng thái tử Hàm Phong đã được lên kế vị.

          Lấy kinh nghiệm đau thương của gia đình Tuyết Hoa, tôi hiểu rằng khi một vị hoàng đế băng hà, thì tất cả triều đình bị đảo lộn. Mỗi triều đại mới đều đem lại những thay đổi, không phải chỉ ở trong triều chính mà còn ảnh hưởng đến toàn cõi. Buổi tối, trong bữa ăn, cha chồng tôi, chồng tôi và các cậu em chồng bàn về chiến sự xảy ra bên ngoài làng Cự Tống, tôi nghễnh ngãng nghe, không chú ý lắm. Những cuộc nổi dậy bắt đầu đây đó trong vùng, và địa chủ tăng giá đất. Tôi xót xa nghĩ đến gia đình cha mẹ ruột của tôi, có thể đang là nạn nhân của chiến dịch tăng giá ruộng cho thuê này. Nhưng thành thật mà nói, với sự sung túc của nhà chồng tôi, thì những tin tức này không làm tôi lo ngại lắm.

          Như mọi thay đổi triều đại khác, như kinh nghiệm mà gia đình Tuyết Hoa đã trải qua, những cựu thần bị thất sủng sẽ được hồi hưu, trả về nguyên quán, trong số đó có bác chồng của tôi. Khi ông về làng, bước ra khỏi kiệu, cả gia đình đã tụ tập ở cổng làng để đón ông, mọi người quỳ rạp xuống đất, dập đầu vái lạy. Ông yêu cầu chúng tôi đứng lên, và tôi nhận ra một ông lão quắc thước, mặc áo gấm. Ông thật uy nghiêm và đẹp lão. Những người già thường chăm sóc chu đáo cho ngoại hình, nhưng bác chồng của tôi thật là vượt bực. Ông có hàm râu trắng bạc, mà sau này tôi mới khám phá ra là ông rất thích vuốt hàm râu ấy.

          Ông đảo mắt nhìn từng người một trong gia đình, trước khi dừng mắt lại nhìn thật lâu đứa con trai đầu lòng của tôi, lúc ấy lên tám tuổi. Bác Lữ, thay vì phải chào hỏi cha chồng của tôi trước, thì ông lại dịu dàng đặt bàn tay gân guốc lên vai của con trai tôi và bảo: "hãy đọc cả ngàn thiên sử và cháu sẽ phun châu nhả ngọc", ông nói bằng giọng của một người học cao hiểu rộng, cũng như đã trải qua những năm tháng dài trong triều chính.

          "Bây giờ, cậu nhỏ, hãy dắt ta về nhà". Nói xong câu này, bác chồng tôi, người được trọng vọng nhất trong gia đình, dắt tay con trai tôi và clùng nhau bước qua cổng làng.

         

          Hai năm trời lại trôi qua. Tôi lại vừa sanh thêm đứa con trai thứ ba, và chúng tôi phải làm việc đầu tắt mặt tối để giữ được cuộc sống như xưa. Nhưng ai cũng biết là sau sự thất sủng của bác chồng tôi, cũng như những cuộc nổi dậy của nông dân vì vấn đề tăng giá thuê ruộng, thì cuộc sống của chúng tôi cũng không còn như xưa nữa. Cha chồng tôi bắt đầu hạn chế thuốc lá, và chồng tôi cũng phải ra đồng ruộng nhiều hơn, đôi lúc anh không ngại săn tay áo để giúp đỡ tá điền. Vị gia sư đã được cho nghỉ việc, và bác chồng của tôi đã đích thân dạy dỗ con trai trưởng của tôi. Trên gian phòng Phụ nữ, những sự cãi cọ tranh chấp cứ gia tăng giữa các nàng dâu và các bà thiếp của cha chồng; sau khi mẹ chồng tôi ra lệnh giảm thiểu chi tiêu về vải vóc, kim chỉ thêu may.

           Năm ấy, khi tôi và Tuyết Hoa trở về làng tôi, chúng tôi không bỏ qua giây phút nào để được ở bên nhau: cùng ăn cơm chung, buổi tối, cùng nhau đi dạo trước cửa nhà, như những ngày còn bé. Lần ấy, tôi trở về nhà không phải để gặp lại cha mẹ, mà cốt là để gặp Tuyết Hoa. Chúng tôi vừa được ba mươi ba tuổi, sau hai mươi ba năm kết nghĩa chị em. Thật khó mà kể hết nhưng năm tháng dài đã trải qua, lại càng khó mà tưởng tượng là qua bao thăng trầm, chúng tôi vẫn còn gần gặn nhau, thân thiết nhau như thế. Tôi vẫn thương yêu Tuyết Hoa, nhưng lại quá bận rộn chăm sóc con cái và làm công việc nhà: tôi đã có ba con trai và một con gái. Phần Tuyết Hoa cũng vậy, dù cô chỉ có hai trai, một gái.

          Liên hệ của chúng tôi vẫn thân thiết như xưa, còn hơn cả liên hệ với người chồng của mình, những tưởng là không có gì chia cách được, tuy tình yêu thương có biến dạng với thời gian, với nghĩa vụ gia đình. Tình yêu sôi nổi lúc ban đầu đã nhường chỗ cho những tâm sự, chia xẻ những nỗi khó khăn trong thời buổi gạo muối, những công việc nặng nhọc chất chồng hàng ngày. Chúng tôi mong rằng vào buổi xế chiều của cuộc đời, khi ngồi yên tịnh, không bị chi phối bởi quá nhiều trách nhiệm như ngày nay, thì mối giao tình sẽ trở lại như xưa, không có gì thay đổi.

          Bên gia đình chồng của Tuyết Hoa, các cô em chồng cũng đã theo chồng, để lại mọi công việc nhà cho Tuyết Hoa một mình gánh vác. Cha chồng của cô thình lình qua đời: ông đang sửa soạn để thọc tiết một con heo, thì bất ngờ thay, con thú hung hăng quay ngược lại, khiến con dao mổ trên tay ông quay ngược cắm sâu vào đến tận xương. Máu của ông đã trút ra ngay trên sân nhà, nơi mà bao nhiêu con thú đã bỏ mạng nơi đó.

          Chồng của Tuyết Hoa trở thành gia trưởng, dĩ nhiên dưới sự điều khiển, sai khiến của mẹ anh. Mẹ chồng cô biết rằng Tuyết Hoa không còn gia đình cũng như của cải gì hết, nên không ngừng hành hạ Tuyết Hoa làm đủ mọi việc nặng nhọc, mà chồng cô không hề hé môi phản đối. Tuyết Hoa chỉ còn đứa con trai thứ nhì làm an ủi, vì đứa bé thật là vạm vỡ, mạnh khỏe. Ai cũng yêu mến cậu bé, cũng vì sự lo ngại về đứa con trai đầu tiên của Tuyết Hoa quá mảnh mai, yếu ớt, sợ không qua khỏi sinh nhật năm thứ mười, lại càng khó có thể qua được sinh nhật thứ hai mươi.

          Tuy rằng số phận của Tuyết Hoa kém may mắn hơn tôi, nhưng cô lại hay để ý đến cuộc sống bên ngoài. Tuyết Hoa giải thích cho tôi về nhóm phản loạn Thái Bình mà tôi đã nghe nói đến, và triều đình đang tìm cách tái tạo lại trật tự. Nhóm phản loạn này tin là trời đất, thánh thần đã ảnh hưởng đến mùa màng, sức khỏe và sự sanh sản của trẻ con. Họ cấm dân chúng dùng rượu, thuốc lá, nhảy múa và cờ bạc. Họ chống đối chế độ địa chủ, giới này chiếm đến 90% tài sản quốc gia, và thu đến 70% kết quả thu hoạch của tá điền. Trong vùng của chúng tôi, nhiều thanh niên bỏ gia đình, làng xóm để gia nhập vào nhóm phản loạn và xông vào các làng xóm, thành thị. Người cầm đầu nhóm phản loạn tự xưng là con thứ của Thượng Đế. Họ tuyên truyền về những sự việc sẽ xảy ra của cái mà họ gọi là Thái Bình Thiên Quốc, tự xưng là Thiên Vương. Họ đọc ra những lời răn dạy và nói là Thượng đế truyền, tín đồ tin theo hàng vạn. Họ cũng như tạo lòng căm phẫn của dân chúng đối với ngoại bang và sự thối nát của guồng máy chính trị. Tôi không hiểu hết những gì Tuyết Hoa giảng giải cho tôi. Đối với tôi, ngoại bang là một người đi sang sinh sống ở một vùng khác. Tôi chỉ sống trong bốn bức tường của gian phòng Phụ nữ, nhưng Tuyết Hoa lại luôn luôn nhìn đến những vùng xa xôi, tìm hiểu những nơi mà cô chưa hề đặt chân tới.

          Khi về đến nhà, tôi hỏi chồng tôi về nhóm phản loạn Thái Bình, nhưng chồng tôi trả lời:

          - Đàn bà chỉ cần chăm sóc con cái và hạnh phúc gia đình. Nếu mỗi lần về thăm nhà mà em lại băn khoăn thắc mắc về những chuyện như thế nữa, thì từ nay anh cấm em về bên đó.

          Từ đó, tôi tránh không nói đến thế giới bên ngoài nữa.

          Hạn hán và mất mùa đã lan tràn khắp vùng, nhưng tôi không để ý lắm, cho đến một hôm, tôi giật mình khám phá ra rằng mọi dự trữ trong nhà đã gần cạn. Mẹ chồng của tôi đã mắng xa xả khi chúng tôi lỡ tay làm đổ trà, hay bỏ quá nhiều củi vào lò. Cha chồng tôi cũng ăn ít thịt thà mà ông rất thích, để nhường cho các cháu nội. Bác Lữ, đã quen cuộc sống trong triều, cũng không khiếu nại gì như ông có quyền làm như thế, trái lại, ông cũng hòa mình vào sự khó khăn chung của gia đình. Ông chú tâm vào con trai lớn của tôi, đặt hết hy vọng vào đứa bé này, mong rằng nó sẽ đỗ đạt hiển vinh, đem cả gia đình ra khỏi cơn khó khăn, ngặt nghèo.

          Điều này khiến chồng tôi nảy ra một ý tưởng. Một buổi tối, trước khi đi ngủ, dưới ngọn đèn chỉ thắp mờ mờ, chồng tôi tâm sự:

          - Bác Lữ đã khám phá ra nhiều điều về con trai của chúng ta. Bác rất hài lòng khi đã tự tay giáo dục cho nó. Nhưng hiện nay anh lại có ý định gửi nó đi nơi khác học. Nhưng làm sao thực hiện được điều đó chứ, khi mà cả làng cả xã đều biết rằng chẳng bao lâu nữa, gia đình ta sẽ phải bán đất đi để mà có cái ăn.

          Chồng tôi cầm tay tôi trong bóng tối:

          - Anh có ý nghĩ này, cha anh tán thành lắm, nhưng anh lại băn khoăn về em và về con trai của chúng ta.

          Tôi lo âu chờ đợi.

          - Ai ai cũng cần những thứ cần thiết để sinh sống. Không khí, mặt trời, nước, cây để sưởi, là những thứ ai cũng có thể có được, tuy không nhiều như trước. Nhưng muối thì không có được miễn phí. Ai cũng cần có muối.

          Anh siết chặt tay tôi. Anh muốn nói gì đây?

          - Anh đã hỏi cha nếu có thể tom góp tiền nong, anh sẽ sang Quế Lâm để buôn muối, đem về đây bán. Cha đã đồng ý rồi.

          Thật là mạo hiểm. Quế Lâm ở bên tỉnh Quảng Tây. Muốn đi qua đó, phải qua vùng chiếm cứ bởi quân phản loạn. Nhóm nông dân nghèo họp nhau thành đạo tặc và chỉ chực cướp của những thương gia đi qua địa phận của họ. Việc buôn muối đã khó khăn rồi, đó là lý do mà nhiên liệu này luôn luôn hiếm quý. Nhóm thương gia buôn muối ở trong vùng có vũ khí riêng của họ, trong khi chồng tôi đơn độc một mình, lại không có kinh nghiệm gì về việc thương lượng giá cả. Những lý do này chưa đủ, trực giác của đàn bà khiến tôi còn lo ngại ngày nào đó anh bị lôi cuốn bởi nhan sắc và sự duyên dáng của các cô gái Quế Lâm, một vùng nổi tiếng sông nước hữu tình bên bờ Li Giang. Nếu anh thành công trên thương trường, biết đâu lại mang theo vài cô tì thiếp về nhà. Chính cái ý nghĩ này đã khiến tôi lo ngại hơn cả:

          - Tránh hái hoa dại! Tôi thốt lên.

          - Giá trị của đàn bà là ở đức hạnh, không phải ở sự lôi cuốn. Em đã sinh cho anh ba đứa con trai. Thân xác anh đi xa, nhưng tâm hồn anh ở lại đây, mắt anh không nhìn những gì không đáng nhìn.

          Anh ngừng lại vài giây rồi nói tiếp:

          - Hãy yên tâm chung thủy chờ anh. Đừng có lộn xộn gì cả. Hãy nghe lời mẹ, và chăm sóc các con.

          - Em đâu có thiếu những điều đó. Nhưng không hề thấy anh quan tâm đến em?

          Tôi đang cố nói những điều mà tôi đang lo ngại trong lòng. Nhưng chồng tôi phản đối:

          - Không phải là chúng ta sẽ ngừng sinh sống vì những sự bất hạnh của người khác. Đất nước này là của chúng ta, sông nước này là của chúng ta, ai cấm chúng ta tự do đi lại trên đất nước chứ?

          Anh nói thêm là anh sẽ vắng nhà trong cả năm trời.

          Tôi bắt đầu nóng lòng lo lắng ngay lúc chồng tôi ra khỏi nhà. Hàng tuần, rồi hàng tháng trôi qua, càng ngày nỗi lo âu của tôi càng gia tăng. Nếu có chuyện gì xảy ra cho anh, tôi sẽ ra sao? Một bà góa thì có thể làm được gì chứ? Các con tôi còn quá nhỏ để có thể lo lắng cho sự sống của tôi. Biết đâu cha chồng tôi chẳng bán tôi cho một người đàn ông khác? Như vậy, tôi không còn hy vọng gặp lại được các con. Bây giờ tôi hiểu tại sao biết bao nhiêu góa phụ đã tự giải thoát bằng cách tự tử. Nhưng than vãn lo âu những chuyện sẽ xảy ra cũng không ích lợi gì. Tôi đành làm mặt vui vẻ trong gian phòng Phụ nữ, nhưng xót xa trong lòng lo cho số phận của chồng tôi.

          Để tìm một chút an ủi nơi con trai lớn của tôi, tôi tình nguyện lo trà nước cho mọi người trong Nữ phòng, để có dịp đi xuống nhà dưới. Mỗi lần như thế, tôi vểnh tai, lắng nghe bác Lữ đang giảng bài cho con tôi:

          - Ba thế lực quan trọng nhất là Trời, Đất và Con Người, - con trai tôi đọc bài. Ba nguồn ánh sáng là Mặt Trời, Mặt Trăng, và Sao. Những tặng vật của trời khác xa những gì trái đất cho chúng ta, lại càng khác xa những gì do con người tạo nên.

          - Bất cứ đứa trẻ nào cũng có thể học thuộc lòng một bài văn, - bác Lữ ngắt lời, nhưng các câu nói đó có nghĩa như thế nào?

          Nếu con trai tôi không trả lời đúng, thì tôi bảo đảm là bác Lữ sẽ không ngần ngại mà khẻ vào tay nó một cái roi mây. Và nếu hôm sau, nó làm lại cùng lỗi đó, thì hình phạt lại tăng gấp đôi.

          - Trời cho loài người khí hậu cần thiết, - con trai tôi trả lời. Nhưng nếu Đất không mầu mỡ thì cũng vô dụng thôi. Và đất mầu mỡ cũng không ích lợi gì, nếu loài người không hòa hợp được với nhau.

          Lòng tôi bừng lên sự hãnh diện thầm kín. Nhưng bác Lữ lại nói tiếp:

          - Giỏi lắm! Bây giờ chúng ta nói về quyền lực. Nếu ta tôn trọng những điều lệ trong sách Nghi Lễ, thì trật tự được thể hiện trong mọi gia đình, rồi lên dần tới làng, xã, cứ tuần tự như thế cho đến phạm vi của Hoàng đế. Nếu không thì xã hội sẽ rối loạn, mọi sự sẽ đảo lộn. Cháu nhỏ, hãy chú ý đến điều này: gia đình cháu sở hữu nhiều đất đai. Ông nội của cháu quản trị tất cả tài sản gia đình trong lúc ta vắng mặt vì bận rộn với triều đình. Nhưng hôm nay, ai cũng biết là ta đã bị thất sủng rồi. Họ cũng biết có quân phản loạn nổi lên. Do đó, chúng ta phải hết sức đề phòng.

          Thế nhưng cuối cùng thì sự bất hạnh mà bác Lữ tiên liệu đã không đến từ nhóm phản loạn Thái Bình, mà từ một thiên tai khác.

          Phần tôi, tin tức cuối cùng mà tôi nhận được trước những tin chết chóc lan tràn, là Tuyết Hoa lại vừa mang thai. Tôi thêu một chiếc khăn để chúc mừng cho cô. Thêu xong chữ, tôi thêm vào đó một con cá màu bạc đang bơi tung tăng trong giòng nước mát, mà tôi cho là hình ảnh dịu dàng nhất cho một người đàn bà mang thai vào mùa hè nóng nực này.

          Mùa hè năm ấy nóng sớm. Chưa đến lúc được trở về thăm gia đình, chúng tôi chỉ còn cách nhốt mình trong gian phòng Nữ phòng một cách bứt rứt, mất kiên nhẫn. Trời càng ngày càng nóng dữ tợn. Đàn ông ở Cự Tống và các làng lân cận dắt trẻ con ra sông tắm, nơi mà tôi cũng đã ra tập bơi bì bõm lúc còn bé. Cũng tại con sông này, mà mấy cô giúp việc có đôi chân to bè bè, đã ra đây rửa chén đĩa, và gánh nước về nhà uống, kể từ khi nước giếng trong làng đã bị ô nhiễm bởi côn trùng.

          Trường hợp đầu tiên xảy ra bệnh sốt thương hàn ở Cự Tống, nạn nhân là con trai của một tá điền thuê ruộng đất của gia đình tôi, rồi lan ra gây tử vong cho cả gia đình này. Triệu chứng đầu tiên là sốt cao rồi nhức đầu như búa bổ, và đau bụng. Tiếp theo đó là ho khan, và nổi những đốm đỏ khắp người. Khi bắt đầu bị tiêu chảy, bụng đau như quặn, là lúc chỉ chờ chết trong vòng vài tiếng đồng hồ. Ngay khi nghe tin một đứa bé bị nạn thì chúng tôi đã biết ngay việc gì sẽ tiếp nối: trước hết, đứa bé sẽ chết, rồi đến lượt anh em của nó, và cuối cùng là cha mẹ. Tai nạn cứ tái diễn một cách không thay đổi như thế. Chẳng bao lâu đã lan tràn ra cả làng, rồi cả vùng.

          Gia đình họ Lữ chúng tôi tự nhốt mình trong nhà, và bịt hết các cửa sổ cửa cái lại. Gia nhân biến mất hết. Chắc là cha chồng tôi đã cho họ nghỉ việc hết, trừ khi họ tự trốn chủ mà tẩu thoát hết. Cho đến nay tôi vẫn không biết câu trả lời. Đàn bà tụ hết lên phòng Phụ nữ, cùng với con cái, nơi mà chúng tôi cho là an toàn nhất. Con trai của cô em dâu thứ ba của tôi là người đầu tiên thấy có triệu chứng. Da nó tự nhiên khô đi, trán nóng bừng bừng, hai má đỏ tía. Thấy thế, tôi đem hết các con tôi vào phòng riêng và nhốt chúng lại rồi gọi con trai lớn của tôi. Chồng tôi đi vắng, lẽ ra tôi phải để nó ở chung với ông bác và đàn ông trong nhà như ý nó muốn thế. Nhưng tôi không cho phép nó lựa chọn.

          - Mẹ cấm các con rời khỏi phòng. Tôi dặn các con tôi. Chỉ một mình mẹ được phép rời phòng thôi. Anh cả các con sẽ trông chừng các con khi mẹ vắng mặt. Các con phải triệt để nghe lời anh con.

          Trong suốt thời gian khủng khiếp đó, mỗi ngày tôi ra khỏi phòng hai lần, sáng và chiều. Tôi tự tay đi đổ ống bô trong phòng mỗi ngày, tránh không để một giọt nào dính vào tay hay quần áo. Tôi tự đi múc nước giếng, đun sôi và lọc cho đến khi nào càng trong càng tốt. Tôi nghi ngờ thức ăn cũng có thể bị nhiễm trùng, nhưng cũng phải ăn thôi. Tôi chẳng biết phải làm gì để ăn. Có nên ăn rau sống hái trong vườn không? Có lẽ không phải là giải pháp tốt vì thời đó vẫn còn dùng phân người để bón cây. Tôi nhớ đến món ăn duy nhất mà mẹ tôi vẫn cho tôi ăn mỗi khi tôi bị bệnh: cháo trắng. Tôi cứ thế mà nấu cho con ăn, ngày hai lần.

          Ngoài ra, chúng tôi cứ ở miết trong phòng. Ban ngày, chúng tôi nghe tiếng chân người qua lại. Ban đêm, là tiếng rên siết đau đớn của người bệnh và tiếng kêu thét kinh hoàng của các bà mẹ vọng đến tận phòng chúng tôi. Sáng ra, tôi ghé tai vào cửa phòng nghe tin tức trong nhà, xem ai là nạn nhân đêm qua. Chẳng có ai chăm lo cho người bệnh cả. Các bà thiếp của cha chồng tôi, cứ lần lượt nằm xuống, hết người nọ đến người kia, bên cạnh những người đàn bà khác mà họ đã người nọ âm mưu hại người kia.

          Ngày cũng như đêm, tôi lo ngay ngáy cho Tuyết Hoa và chồng tôi. Tuyết Hoa có cẩn thận như tôi không? Cô còn sống chứ? Hay chết rồi? Con trai lớn của cô, vốn mảnh mai yếu đuối, có thoát khỏi hiểm nghèo này không? Gia đình cô thế nào? Còn chồng tôi? Anh có chết tha phương hay chết trên đường về làng không? Nếu như có chuyện gì xảy ra cho một trong hai người thân yêu đó của tôi, tôi không biết sẽ phải làm sao. Tôi có cảm tưởng tôi đang bị nhốt trong lồng, run lên vì lo sợ.

          Phòng của tôi chỉ có mỗi cái cửa sổ, lại quá cao nên không thể nào thấy việc gì xảy ra bên ngoài. Hơi bốc lên từ bệnh dịch và từ những xác người chồng chất nhau trước nhà, tạo nên một không khí ẩm ướt khó chịu. Chúng tôi tự bảo vệ tối đa: dùng vải bọc quanh mặt, nhưng cũng không thoát được, cái mùi hôi thối đó xông vào mắt làm ngứa ngáy, và bám vào da thịt. Tôi làm đủ mọi thứ mà tôi có thể làm được: cầu nguyện với Thánh nữ, quấn các con tôi vào những mảnh vải hồng điều, quét phòng ba lần một ngày để xua đuổi tà ma đang lẩn quẩn tìm mồi.

          Một hôm, tôi đang nấu cháo ở trong bếp, thì mẹ chồng tôi xông vào, trên tay xách một con gà dính máu, lẩm bẩm:

          - Giữ lại mấy con vật này cũng vô dụng thôi.

          Rồi, bà tự tay làm gà, và thái mấy lát tỏi:

          - Các con của con sẽ chết, nếu thiếu thịt và rau cỏ. Con không cho chúng ăn thì dù bệnh chưa tới, chúng cũng chết đói rồi!

          Tôi nhìn con gà mà bao tử tôi cồn cào. Nhưng, lần đầu tiên kể từ khi về làm dâu, tôi đã lặng thinh không trả lời. Tôi lẳng lặng múc cháo ra chén, đặt vào khay đem về phòng. Đi ngang qua phòng của bác chồng, tôi gõ cửa, đặt một chén cháo cho bác. Tôi chỉ làm bổn phận thôi. Không những bác Lữ là người lớn tuổi đáng kính trọng nhất trong gia đình, mà bác còn là thầy dạy của con trai tôi. Con tôi phải tôn sư trọng đạo.

          Những chén cháo khác dành cho các con tôi. Tiểu Ngọc cằn nhằn là cháo không có hành lá, không có thịt heo hay củ cải mặn, tôi tát cho nó một cái không nhân nhượng. Những đứa khác thấy thế sợ, không dám hó hé nữa, trong lúc Tiểu Ngọc bậm môi cố giữ nước mắt lại. Tôi vớ lấy cái chổi và quét lia quét lịa sàn nhà nhẵn bóng không có hạt bụi nào!

          Ngày lại ngày trôi qua, trong phòng không có ai có triệu chứng bị bệnh. Nhưng cái nóng bức mùa hè thì càng ngày càng gia tăng, làm cho mùi hôi ẩm càng lúc càng khó chịu.

          Một buổi tối, tôi vào bếp thì gặp cô em dâu thứ ba của tôi đang lang thang như một cái bóng ma trong vùng tranh tối tranh sáng của gian phòng, mặc áo tang trắng từ đầu đến chân. Tôi đoán là chồng con của cô đã chết hết rồi. Nhưng điều làm tôi xúc động là lúc nhìn đôi mắt thất thần của cô, không biểu lộ một cảm xúc nào cả. Cô cứ bất động, không tỏ vẻ gì là nhìn thấy tôi, mặc dù tôi chỉ đứng cách cô chưa đầy một thước. Tôi kinh hãi, đứng chết sững ở đó, không tiến cũng không lùi được. Bên ngoài, tôi nghe tiếng chim đang hót về đêm, và tiếng rống thật dài của một con trâu. Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu tôi: những con vật đó, tại sao chúng lại không chết? Nhưng chẳng ai trả lời tôi cả.

          Một giọng nói đanh ác chợt cất lên sau lưng tôi:

          - Con heo vô dụng này vẫn còn sống à?

          Cô em dâu thứ ba của tôi vẫn không động đậy, nhưng tôi quay ngoắt lại nhìn thì bắt gặp mẹ chồng của tôi. Bà không kẹp tóc, mái tóc bù xù xổ tung ra, rũ xuống mặt.

          - Không bao giờ chúng ta để mày bước chân vào nhà này, - bà nói tiếp. Mày đang diệt giòng họ Lữ nhà ta, con heo dơ bẩn kia!

          - Ta nguyền rủa mày. Lữ phu nhân lại gào thét, mặt đỏ lên vì giận dữ. Ta cầu cho mày chết đi. Nếu không, thì mùa thu này, lão gia sẽ bán mày đi. Mày sẽ không nhìn thấy ánh mặt trời.

          Nói xong, không biết bà có để ý đến sự hiện diện của tôi không, bà quay ngoắt đi, bước chân chập choạng, tay vịn vào tường. Tôi quay lại nhìn cô em dâu, vẫn đang thẫn thờ như ở thế giới nào. Tôi tiến lại gần, đặt tay lên vai cô và đặt cô ngồi xuống. Tôi đặt nước sôi, rồi dùng hết can đảm, thấm ướt chiếc khăn lau mặt cho cô. Xong, tôi ném chiếc khăn vào hỏa lò cho ngọn lửa thiêu cháy rụi. Lúc ấm nước sôi, tôi pha trà, rót một tách đặt trước mặt cô, nhưng cô vẫn không làm một cử chỉ nào cả. Không biết làm gì hơn, tôi bắc nồi nấu cháo, tay không ngừng khuấy đều cho gạo đừng dính đáy nồi.

          - Tôi mong được nghe tiếng khóc của các con tôi. Tôi tìm chồng tôi khắp nơi. Nếu tôi phải đi lấy chồng khác, làm sao tôi nhìn mặt họ ở trên trời?

          Tôi quay lại nhìn cô em dâu, tưởng cô đang nói với tôi. Nhưng không phải. Tôi không biết phải an ủi cô thế nào. Cô không có một bóng cây nào để nương tựa, cũng không có khu rừng nào để ẩn nấp. Cô đứng lên, đi ra khỏi bếp, bước đi lảo đảo, yếu ớt và không định hướng, như một chiếc đèn lồng biến mất trong bóng đêm. Tôi quay trở lại tiếp tục nồi cháo.

          Sáng hôm sau, khi xuống nhà, dường như tất cả đều mới lạ. Tâm Can và hai cô giúp việc khác đã trở lại và lau dọn nhà cửa từ trên xuống dưới, chất củi vào để nhúm bếp. Tâm Can báo cho tôi biết sáng sớm nay, người nhà đã khám phá ra xác chết của cô em dâu thứ ba của tôi. Cô ta uống dấm thanh để tự tử. Tôi luôn luôn tự hỏi sự thể sẽ ra sao nếu cô chỉ cố gắng đợi thêm vài giờ nữa, bởi vì vào giờ ăn sáng, thì mẹ chồng tôi đột nhiên lên cơn sốt. Có lẽ bà đã nhuốm bệnh từ đêm qua, lúc bà lên cơn thịnh nộ với cô con dâu.

          Tôi đứng giữa sự lựa chọn thật ghê gớm. Tôi phải rút vào phòng để bảo vệ cho các con tôi? Nhưng làm vợ, làm dâu, tôi cũng có bổn phận phải lo lắng, chăm sóc cho cha mẹ chồng. Không phải chỉ hầu trà, giặt giũ quần áo, hay nghe những lời chỉ trích chói tai, mà còn phải phục tòng cha mẹ chồng trên cả cha mẹ ruột, hay chồng con của mình. Chồng tôi đang vắng nhà, tôi phải nén lòng với các con để làm bổn phận của tôi. Nếu lỡ mà mẹ chồng có mệnh hệ nào, thì tôi sẽ không bao giờ sống được với sự xấu hổ này. Những nàng dâu khác cũng nhốt mình trong phòng với các con của họ. Ai biết đâu họ có đang bị bệnh hay không, hay thậm chí đã chết rồi? Tôi cũng không thể trông cậy vào cha chồng tôi. Ông có ở bên vợ không? Hay cũng là nạn nhân kế tiếp? Bác Lữ thì tôi đã không thấy bác từ khi bắt đầu có bệnh dịch, mặc dù là mỗi sáng bác vẫn để cái chén rỗng trước cửa phòng để tôi múc cháo cho bác.

          Tôi ngồi trong bếp, thừ người ra suy nghĩ. Tâm Can đến quì gối trước mặt tôi, và nói:

          - Thiếu phu nhân, tôi sẽ chăm sóc cho các con của bà.

          Tôi nhớ làm sao lần mà cô đi theo tôi sang nhà Tuyết Hoa, rồi sự trung thành và kín đáo mà cô dành cho tôi khi lén lút trao thư qua lại giữa tôi và Tuyết Hoa. Suốt thời gian qua, cô luôn ở cạnh tôi. Cô bé mười tuổi năm xưa nay đã trở thành thiếu nữ hai mươi bốn tuổi, vạm vỡ khỏe mạnh. Dưới mắt tôi, cô ta xấu xí không thua gì con heo trong đầm, nhưng mạnh khỏe và hiển nhiên là cô đã tránh được bệnh dịch hiểm nghèo lần này, nếu giao con tôi cho cô, chắc chắn rằng cô sẽ tận tình chăm sóc như con ruột của chính cô.

          Tôi cho cô mọi chỉ thị làm sao nấu nướng thức ăn và nước uống. Tôi cũng trao cho cô một con dao để có thể tự vệ khi cần. Rồi giao các con cho cô trước khi tôi sang chăm sóc cho mẹ chồng tôi.

          Suốt năm ngày sau đó, tôi luôn ở cạnh Lữ phu nhân như một nàng dâu thuần thục. Tôi thay rửa cho bà, khi bà quá yếu sức không tự đứng lên đi vệ sinh được. Tôi cũng nấu cháo cho bà ăn, giống như tôi đã nấu cho các con tôi. Thậm chí tôi dùng dao, rạch cánh tay để nặn chút máu vào chén cháo, như tôi đã từng thấy mẹ tôi làm vậy. Đó là món quà quí giá nhất mà một nàng dâu có thể dâng hiến cho mẹ chồng, với hy vọng có phép mầu nào đó, có thể truyền chút sinh khí còn lại của tôi cho mẹ chồng.

          Nhưng tôi không cần phải tả thêm là bệnh dịch này đã kinh khủng đến thế nào. Bạn cũng đoán được đoạn cuối của câu chuyện rồi. Lữ phu nhân đã mất. Bà luôn tỏ ra quyến luyến, thỉnh thoảng còn có vẻ ân cần với tôi, cho nên sự ra đi đã không dễ dàng. Khi bà trút hơi thở cuối cùng, tôi biết là tôi đã làm hết bổn phận rồi. Tôi ngâm thân thể bà vào một bồn nước nóng, có tẩm mùi thơm của gỗ đàn hương. Tôi mặc quần áo liệm cho bà và đặt tất cả các trang giấy bà viết bằng Nữ tự và tay áo bà trước khi tẩm liệm. Trái với đàn ông, Lữ phu nhân không mong muốn tên tuổi của bà được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Bà chỉ viết thư tâm sự với bạn bè mà thôi. Một cách bình thường, tất cả những giấy tờ này sẽ được đốt trước mộ. Nhưng trong hoàn cảnh tang tóc vì bệnh dịch lan tràn hiện nay, thì việc trước tiên là phải lo chôn cất càng sớm càng tốt, chẳng cần coi phong thủy, Nữ tự hay là lễ nghi nữa. Tất cả mà tôi có thể làm cho mẹ chồng là cuốn theo bà những thư từ nhận được từ bạn bè để bà có thể đọc ở trên trời. Ngay sau đó, thi hài của bà được đem chôn ngay lập tức.

          Mẹ chồng tôi sống cũng thọ. Bây giờ bà mất đi, tôi trở thành người nối tiếp bà, mặc dù là chồng tôi vẫn còn đang vắng mặt. Từ nay, các cô em dâu sẽ phải lệ thuộc vào tôi. Các cô sẽ phải tự lo thân để sống dưới sự quản trị của tôi. Các nàng thiếp cũng thế, tôi hy vọng sẽ cai quản thật tốt cho mọi việc hài hòa. Bởi vì, dưới mắt tôi, từ nay trong nhà sẽ không còn thêm một người thiếp nào nữa.

          Như mấy cô giúp việc đã đoán, bệnh dịch đã chấm dứt trong vùng này. Dân chúng có thể mở cửa lại, và kết toán tình hình. Trong gia đình tôi, ngoài mẹ chồng, thì cô em dâu thứ ba cùng chồng con và mấy người thiếp đã bị thiệt mạng. Gia đình những người em chồng khác của tôi thì thoát nạn. Bên làng tôi, thì cha mẹ tôi cũng đã mất. Tôi tiếc rằng đã không để thêm thì giờ với cha mẹ trong lần cuối cùng tôi về thăm nhà. Nhưng nói thật, liên hệ của tôi với cha tôi đã gần như chấm dứt kể từ khi tôi bị bó chân, thu mình trên căn phòng Phụ nữ. Đối với mẹ, mọi thân tình cũng đã thay đổi kể từ ngày tôi khám phá ra mẹ đã toa rập với bà mai để dấu diếm tôi về hoàn cảnh của Tuyết Hoa suốt bao nhiêu năm trời. Là đàn bà có chồng, sống trong gia đình khác, nghĩa vụ duy nhất của tôi là để tang cho cha mẹ một năm. Tôi cố gắng tưởng niệm mẹ tôi, nghĩ đến tất cả những gì mẹ đã làm cho tôi, nhưng thú thật là tôi không hề ân hận.

          Về bác Lữ, chúng tôi đã có dịp gặp nhau. Tuy không trao đổi với nhau lời nào, nhưng một hôm bác ra khỏi phòng, chỉ còn là một ông già còm cõi, một cựu thần hồi hưu, sống quy ẩn suốt đời còn lại. Bác lại tiếp tục dạy học con trai tôi như trước, dốc hết tâm trí vào việc giáo dục này, cho nên tại sao lại cần phải có một gia sư khác làm gì chứ?

          Con trai tôi không hề xao lãng việc học hành, quan niệm rằng ngày tân hôn của cháu và ngày cháu được bảng hổ đề danh sẽ là hai dịp trọng đại nhất trong đời. Việc thứ nhất để làm tròn nhiệm vụ người con. Việc thứ hai để tên tuổi cháu vượt ra ngoài cái tỉnh bé nhỏ của chúng tôi, lan rộng trên toàn Trung quốc.

          Trong lúc ấy, chồng tôi đã trở về. Tôi làm sao diễn tả được sự khuây khỏa trong lòng tôi khi nhìn thấy chiếc kiệu của chồng tôi xuất hiện trên con đường cái dẫn vào làng, theo sau là một toán xe chở hàng do bò kéo, chứa đầy muối và những sản phẩn, hàng hóa khác. Mọi lo âu đè nặng tôi bấy lâu nay, mọi e sợ bỗng dưng tan biến, ít nhất là trong lúc này. Các phụ nữ trong làng đến chia xẻ niềm vui với chúng tôi, trong khi đàn ông phụ giúp giỡ hàng xuống xe. Chúng tôi cùng nhau khóc, xua tan đi bao bồn chồn lo sợ suốt thời gian qua. Đối với mọi người trong gia đình, sự trở về của chồng tôi là một tia hy vọng mà chúng tôi có, sau nhiều tháng lo buồn.

          Muối được phân phối ra bán cho khắp làng cho dân chúng. Số tiền khổng lồ thu được đã kéo gia đình tôi ra khỏi cơn khó khăn tài chánh. Chúng tôi lại có tiền đóng thuế và mua lại những mẫu đất đã bán trước đây. Hoàn cảnh sống lại được sung túc như xưa.

          Năm ấy được mùa, mùa thu huy hoàng tráng lệ lại ngập tràn trên nương ruộng. Những ngày đen tối đã qua. Cha chồng tôi thuê những tá điền trong làng đến để làm lại cái diềm trang trí nơi mặt tiền của căn nhà. Hàng xóm, khách qua đường từ nay lại có thể ngắm nghía, chiêm ngưỡng quá trình của sự phú quý và vinh hiển mà trời đã ban cho gia đình tôi. Đến ngày nay, tôi chỉ cần bước ra ngoài là để nhìn các tấm biển đó để thấy chồng tôi đứng trên boong tàu đi dọc trên dòng Li Giang, những mối thương lượng với các doanh thương của Quế Lâm, phụ nữ thêu thùa trong phòng và cuối cùng chuyến trở về thành công huy hoàng.

          Tất cả được tô đúc khá trung thực, ngoại trừ cha chồng tôi. Trên tấm biển, cha chồng tôi đang ngồi hãnh diện kiểm điểm tài sản của ông. Nhưng trên thực tế, sau khi mẹ chồng tôi mất đi, thì ông đã bị ảnh hưởng nặng nề không còn thiết gì trên đời này nữa. Ông lặng lẽ lìa đời trong một chuyến đi dạo loanh quanh. Nhiệm vụ của chúng tôi là tổ chức một đám tang trọng thể nhất trong quận. Thi thể của cha chồng tôi được để trong quan tài năm ngày liên tiếp trước cổng nhà. Chúng tôi thuê nhạc công đàn suốt ngày đêm. Mọi người trong vùng đều đến nghiêng mình trước linh cữu và đem phúng lễ đến như là bao thơ trắng đựng tiền, những tấm liễn bằng lụa, hay những giải lụa có chữ viết của cha chồng tôi với những lời ban khen thưở trước. Con cái và các bà thiếp đều phải quỳ gối đi ra tận mộ, theo sau là dân làng và người vùng lân cận. Trong tang phục, chúng tôi như một dòng sông lụa trắng trải dài trên cánh đồng xanh.

          Cứ mỗi bảy bước, đoàn người lại dừng chân, quỳ xuống đất vái lạy. Mộ phần xa độ một cây số, tưởng tượng biết bao nhiêu lần chúng tôi phải ngừng như thế trên con đường gập ghềnh đá sỏi như thế.

          Già trẻ đều rên rỉ ai oán, trong khi toán nhạc cứ nổi trống kèn, sáo và phèng la đình đám. Chồng tôi là con trưởng, đã đốt vàng mã và pháo. Đàn bà, đàn ông bắt đầu hát. Mấy vị sư tụng niệm, đọc kinh cho cha chồng tôi và những nạn nhân trong gia đình đã thiệt mạng vì bệnh dịch vừa qua, được siêu thoát.

          Sau tang lễ, chúng tôi mời toàn thể dân chúng trong thị trấn dùng tiệc. Trước khi mọi người tan hàng, chúng tôi nhờ các anh em họ phân phát những đồng tiền giả để lấy phúc, cùng bánh ngọt và khăn tẩm nước thơm để lau mặt lau tay, khử đi mùi tang tóc.

          Suốt bốn mươi chín ngày ròng rã, lễ bái cứ liên miên, nào là cúng tế, diễn văn, ca hát, nhạc đám tang, và nước mắt.

          Dù thời gian để tang chưa hết, nhưng đối với dân làng thì từ nay, chúng tôi sẽ trở thành gia trưởng mới của nhà họ Lữ: Lữ Gia và Lữ Phu nhân.

 

Chương 15 – Trong rừng núi

 

          Lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi đã quên người chị em kết nghĩa của tôi, trong suốt thời kỳ có bệnh dịch. Tôi lo lắng cho số phận của các con tôi, phải chăm sóc mẹ chồng bị bệnh dịch, lụi hụi trăm chuyện khi chồng tôi trở về, đám táng của cha chồng tôi. Tôi đã hoàn toàn không hay biết gì về phía gia đình bên chồng của Tuyết Hoa. Chính cô lại là người viết cho tôi trước.

          “Bạch Huệ,

Người ta nói rằng chị còn sống. Thật đáng tiếc cho cha mẹ chồng của chị. Càng buồn hơn nữa khi được tin cha mẹ của chị cũng qua đời. Chị có biết rằng tôi thương yêu ông bà lắm.

Phần chúng tôi, tất cả được may mắn sống còn sau bệnh dịch. Lúc đầu, tôi bị xảy thai một bé gái, chồng tôi nói thế càng tốt. Nếu tất cả được sanh đúng kỳ hạn thì giờ này tôi đã có bốn đứa con gái rồi. Thật là tai họa! Tuy nhiên, tôi đã ôm trong tay ba xác chết của con gái vừa sanh ra đời, thật quá nhiều cho một người mẹ. Chị luôn khuyến khích tôi cố gắng làm lại, tôi đã cố gắng. Tôi ao ước có ba con trai như chị. Chị cũng từng nói, đàn bà nếu không có con trai thì chẳng có nghĩa lý gì cả.

Trong làng tôi, nhiều người chết lắm. Bây giờ tình hình khá ổn định lại rồi, nhưng mẹ chồng tôi thì vẫn sống nhăn! Bà chỉ trích tôi mỗi ngày, và kéo cả chồng tôi vào phe để chống đối lại tôi.

Chị có thể sang gặp tôi không? Thềm nhà tôi không có gì để so sánh với thềm nhà chồng của chị, nhưng tôi mong được thố lộ những lo âu của tôi với chị, cũng như được chia xẻ những tâm sự của chị.

Nếu thương tôi, chị hãy đến nhé, tôi xin chị. Tôi thiết tha mong được gặp chị trước ngày con gái của chúng ta bắt đầu bị băng chân. Chúng ta nhân dịp đó sẽ bàn về việc này.

Tuyết Hoa

          Từ khi mẹ chồng tôi chết đi, tôi không ngừng nghĩ đến câu nói của bà: "bây giờ: vâng lời, vâng lời, vâng lời, và sau này, con làm những gì con muốn”. Giờ đây, bà không còn trên cõi đời để theo dõi tôi nữa, tôi có thể hiên ngang gặp gỡ Tuyết Hoa giữa ban ngày!

          Chồng tôi đưa ra biết bao nhiêu là lý lẽ bài bác: nào là ba đứa con trai nay đã mười một, tám và hai tuổi. Con gái tôi vừa sinh nhật sáu tuổi, chồng tôi muốn thấy tôi ở nhà chăm sóc chúng. Liên tiếp nhiều ngày, tôi cố gắng thuyết phục chồng tôi. Các con cũng có việc của chúng để qua thời gian, tôi làm những món ăn mà chồng tôi ưa thích. Tôi xoa bóp chân cho anh mỗi tối khi anh từ đồng ruộng trở về, và đấm bóp. Thế nhưng chồng tôi vẫn không chịu cho tôi đi. Sau này, tôi đã thật hối hận đã không nghe lời anh.

          Ngày hai mươi tám tháng mười, tôi khoác một bộ áo bằng lụa xanh, có thêu những bông cúc hợp với mùa thu. Ngày xưa, tôi ngỡ là sẽ phải mặc những quần áo mà tôi tự may để vào rương đám cưới, cho đến suốt đời. Tôi không hề nghĩ đến một ngày mẹ chồng tôi chết đi để lại biết bao nhiêu là xấp lụa là chưa dùng. Ngay cả chồng tôi cũng không đủ giàu để mua cho tôi những xấp lụa Hàng Châu thượng thặng như thế. Nhưng ngày xưa, khi Tuyết Hoa đến nhà tôi, cô mặc quần áo của tôi và chị hai, nên lần này, sang nhà Tuyết Hoa ở ba ngày, tôi cũng theo tục ấy mà không đem theo quần áo thay đổi.

          Chiếc kiệu thả tôi xuống trước nhà Tuyết Hoa. Cô ngồi trước thềm nhà, mặc chiếc áo cánh, quần dài và một chiếc tạp dề bằng vải thô, dính bẩn lấm chấm. Chúng tôi không vào nhà ngay. Tuyết Hoa vui mừng gặp lại tôi, vào buổi cuối chiều dịu mát. Vừa nghe Tuyết Hoa kể lể chuyện trò, lần đầu tiên tôi nhìn kỹ chiếc chậu khổng lồ dùng để luộc những bộ xương heo. Qua khung cửa, tôi nhìn vào trong nhà, treo lủng lẳng thịt bằng những thanh móc. Mùi thịt sống làm bao tử tôi cồn cào. Nhưng tệ hơn nữa là thấy một con heo đang được đưa vào sàn gạch, cùng với đàn heo con. Khi chúng tôi vừa ăn xong cơm với rau, Tuyết Hoa cầm lấy cái chén vừa ăn xong, đặt xuống dưới chân cho đàn heo ăn nốt những hạt dư thừa.

          Khi nhìn thấy chồng Tuyết Hoa về, đang đẩy một chiếc xe kéo, trên đó có bốn con heo nằm nghiêng, bốn chân bị trói lại, thì chúng tôi lên lầu, nơi đó, con gái của Tuyết Hoa đang ngồi thêu, và mẹ chồng của cô thì đang kết sợi vải. Căn phòng vừa tối vừa ẩm mốc. Cái cửa sổ có chấn song còn bé và kém đẹp hơn cửa sổ phòng của nhà cha mẹ tôi hồi trước. Dù lên lầu rồi, mà vẫn không tránh được mùi thịt heo bốc lên.

          Tôi và Tuyết Hoa ngồi nói về chuyện mà chúng tôi quan tâm nhất, đó là chuyện của hai đứa con gái của chúng tôi.

          - Chị nghĩ chừng nào chúng ta bắt đầu băng chân cho hai đứa nó? Tuyết Hoa hỏi tôi.

          Thông thường, năm nay là đến tuổi băng chân rồi. Nghe Tuyết Hoa hỏi thế, tôi mong rằng cô cũng nghĩ như tôi.

          - Mẹ chúng ta đợi đến bảy tuổi mới băng chân cho chúng ta, - tôi dè dặt nói, và việc đó cũng không ảnh hưởng gì đến chuyện chúng ta sung sướng bên nhau sau này.

          Tuyết Hoa cười:

          - Tôi không nghĩ như chị. Tám đặc điểm của tôi và chị hợp với nhau hoàn toàn. Chị nghĩ rằng nếu băng chân các con cùng tuổi như chúng ta thì chúng sẽ được thừa hưởng phần nào từ chúng ta chăng?

          Tôi liếc nhìn con gái của Tuyết Hoa. Xuân Nguyệt thừa hưởng nét đẹp của mẹ lúc Tuyết Hoa ở trạc tuổi đó. Nước da mịn như lụa trắng, mái tóc đen huyền. Nhưng phong thái của nó có chút gì nhẫn nhịn: mắt cúi xuống, nhìn chăm chăm vào miếng vải đang thêu, tránh nghe mẩu đối thoại liên quan trực tiếp đến cháu.

          - Hai đứa nó cũng sẽ là một đôi uyên ương. Tôi nói, nếu chúng ta đồng ý.

          Cũng may mà Tuyết Hoa có Xuân Nguyệt, chứ không thì cô ở nhà cả ngày với bà mẹ chồng cau có. Bà ta vẫn hung dữ và kém tế nhị như trong ký ức của tôi. Bà ta luôn miệng lải nhải: “Con trai lớn của con chẳng hơn gì đứa con gái. Nó ốm yếu đến nỗi giết con heo cũng không xong.” Tuy chẳng liên quan gì đến tôi, mà tôi cũng phải tự hỏi sao mà thần linh không đem bà đi cho rồi, vào thời kỳ bệnh dịch.

          Bữa cơm tối gợi lại cho tôi mùi vị những bữa ăn thời thơ ấu nơi nhà cha mẹ ruột: đậu ve muối mặn, chân giò hầm sốt cay, gạo lức và bí rợ cắt lát xào. Suốt trong những ngày ở đây, tôi có cảm tưởng bữa ăn nào cũng giống nhau: bữa nào cũng có thịt heo! Từ da heo xào đậu đen, tai heo nhồi, lòng heo xào tỏi ớt… Tuyết Hoa không bao giờ đụng đến thịt, cô chỉ ăn cơm với rau.

          Sau bữa ăn, mẹ chồng cô đi ngủ. Theo lệ, khi hai chị em kết nghĩa đến nhà nhau thì chúng tôi được ngủ chung giường. Nhưng chồng của Tuyết Hoa tuyên bố anh ta không thích thay đổi thói quen của anh. Anh ta nhấn mạnh thêm: “không có gì gian xảo bằng lòng dạ đàn bà”. Câu tục ngữ này có thể có phần nào đúng, nhưng dù sao cũng quá bất lịch sự khi nói trước mặt tôi, giờ đây đã là Lữ phu nhân. Dù sao, anh ta là chủ nhà, chúng tôi cũng phải chiều ý của anh ta thôi.

          Tuyết Hoa theo tôi lên lầu, trải giường cho tôi trong phòng Phụ nữ, trải một chiếc mền đã mòn nhưng sạch sẽ, lấy từ trong chiếc rương cưới của cô. Cô đặt một thau nước nóng cho tôi rửa mặt. Ah! Tôi ước mong sao có thể nhúng một chiếc khăn để lau cho sạch những nét lo âu trên khuôn mặt người chị em kết nghĩa của tôi!

          Tuyết Hoa đưa cho tôi bộ quần áo gần như giống hệt bộ đồ cô đang mặc, tôi nhớ ra ngày xưa đã nhìn thấy Tuyết Hoa cắt may từ chiếc rương cưới của mẹ cô. Tuyết Hoa cúi xuống, hôn lên má tôi và thì thầm:

          - Ngày mai, chúng ta tha hồ nói chuyện và ôn lại kỷ niệm. Tôi sẽ cho chị coi những mẫu thêu mới đây, và những câu cuối cùng tôi viết trên chiếc quạt của chúng ta.

          Rồi cô quay xuống nhà. Tôi thổi tắt ngọn đèn và chui vào trong chăn. Đêm nay trăng gần như tròn hẳn, chiếu ánh sáng xanh qua song cửa sổ, nhắc cho tôi những năm tháng xa xưa. Tôi rúc mặt vào mảnh chăn, có mùi nước hoa của Tuyết Hoa, vẫn còn thơm mát như những ngày còn búi tó. Những kỷ niệm lúc hai đứa chúng tôi còn bé lại trở về ngập hồn tôi. Một mình trong căn phòng tối, tôi không thể nào xua đuổi được những hình ảnh thời thơ ấu, trong căn phòng nghèo nàn của gia đình tôi. Thình lình tôi nghe có tiếng xì xầm nho nhỏ, chắc chắn không phải do sự tưởng tượng của tôi: tiếng động phát ra từ phòng của Tuyết Hoa. Tôi nghĩ thầm: có lẽ Tuyết Hoa trở thành người ăn chay trường, nhưng thực sự cô cũng chưa hẳn trở thành chay tịnh như trong câu truyện “Bà Vợ Của Ông Chu”. Tôi bịt tai lại cố ngủ nhưng thật là khó chịu. Số phận may mắn của tôi đã khiến tôi trở thành người thiếu khoan dung cho người khác. Cái tính chất dung tục và thiếu trong sạch trong gia đình chồng của Tuyết Hoa đã làm tôi ớn lạnh và thiếu thoải mái, về vật chất cũng như tinh thần.

          Sáng hôm sau, chồng của Tuyết Hoa ra khỏi nhà, và bà mẹ chồng lại trở về phòng. Tôi giúp Tuyết Hoa rửa chén dĩa, xách nước và củi vào nhúm bếp, cắt rau để làm cơm trưa, và ra nhà kho lấy thịt heo. Xong, Tuyết Hoa đun nước sôi để chúng tôi tắm rửa. Cô đem ấm nước sôi lên lầu, vào phòng Phụ nữ. Căn nhà này thật là nóng, mặc dù lúc này đã là tháng mười rồi, thế mà tôi vẫn rùng mình khi Tuyết Hoa bắt đầu trút bỏ bộ quần áo ướt trên người.

          Tôi giải thích ra sao đây? Tôi nhìn Tuyết Hoa, cơ thể cô đã bắt đầu xồ xề. Bàn tay cô cũng không còn mềm mại như xưa nữa, khi cô vuốt má tôi. Hai bên mép và trên khóe mắt đã bắt đầu có vết nhăn. Tóc cô búi lên sau gáy và nhiều sợi đã bạc. Tuyết Hoa cùng tuổi với tôi: ba mươi hai tuổi. Đàn bà trong vùng này hiếm khi sống quá bốn mươi tuổi. Nhưng, mẹ chồng tôi vừa qua đời cách đây không lâu, mà vẫn còn đẹp lắm, mặc dù bà mất lúc khá lớn tuổi: năm mươi mốt tuổi.

          Buổi tối, chúng tôi lại ăn cơm với thịt heo. Dạo ấy, tôi không để ý chuyện bên ngoài, nhưng dường như thế giới bên ngoài, thế giới nhộn nhịp của đàn ông, đang can thiệp vào đời sống của chúng tôi. Đêm thứ nhì tôi ở nhà Tuyết Hoa thì cả nhà giật mình thức giấc vì một tiếng động kinh hoàng. Chúng tôi xuống hết dưới nhà, run sợ người nọ ôm người kia trong gian phòng chính, kể cả chồng của Tuyết Hoa. Mùi khói xông vào đến tận phòng. Gần đó, một căn nhà, hay có thể là cả làng xóm đang cháy bùng bùng. Quần áo của chúng tôi phủ đầy bụi và tro. Tiếng kim khí chạm nhau và tiếng vó ngựa làm rung chuyển cả vách tường. Chúng tôi không hiểu chuyện gì xảy ra, cũng không đo lường được tai họa gì sẽ đến.

          Chắc hẳn là có một tai biến gì đó vừa xảy ra. Dân chúng ở làng bên dưới thung lũng đang bỏ chạy, để lại ruộng đất để lên lánh nạn ở vùng đồi núi cao hơn. Sáng hôm sau, từ cửa sổ phòng trên lầu nhà Tuyết Hoa nhìn ra, hàng trăm hàng ngàn người lũ lượt trên đường. Đàn ông, đàn bà, trẻ con, đi chân hay đi ngựa, chồng chất nhau trên những chiếc xe kéo bằng tay hay bằng trâu bò. Chồng của Tuyết Hoa chạy ra tới tận đầu làng, la to:

          - Chuyện gì xảy ra? Chiến tranh à?

          Có những tiếng trả lời:

          - Hoàng đế đã viết thư cho Tổng đốc tỉnh Vĩnh Châu rằng đây là thời điểm tấn công bọn phản loạn Thái Bình.

          - Quân đội đang tiến tới để tiêu diệt bọn phản loạn.

          - Đang giao tranh khắp nơi kìa!

          Chồng của Tuyết Hoa bắc tay làm loa, hỏi:

          - Thế phải làm sao?

          - Bỏ chạy!

          - Quân đội sắp tràn tới nơi rồi.

          Tôi rụng rời tay chân, cuống cuồng. Tại sao chồng tôi không cho người đến đón tôi về? Tôi không ngừng tự trách tôi sao lại chọn ngay thời điểm này để đến thăm Tuyết Hoa sau bao nhiêu năm trời? Nhưng đó chính là số mạng. Chúng ta chọn một đàng mà ta cho là hợp lý thì ông trời lại sắp xếp một nẻo.

          Tôi giúp Tuyết Hoa thu góp chút vật dụng cá nhân cho cô và các con. Vào bếp, chúng tôi vơ vét một bọc gạo lớn, trà, và rượu, đề phòng dùng băng bó vết thương. Rồi chúng tôi cuốn bốn chiếc mền cho thật chặt, để trước bậc thềm. Xong, tôi mặc vội bộ quần áo bằng lụa xanh của tôi và ra ngồi trước sân nhà, mong xem chồng tôi có đến đón không. Nhưng vẫn bặt tăm. Tôi nhìn con đường dẫn về Cự Tống. Ở đó, từng đoàn người cũng đang lũ lượt tản cư, nhưng thay vì lên núi họ băng qua đồng, hướng về Vĩnh Châu. Hai đoàn người đi về hai hướng khác nhau: một lên núi, một về thành thị, làm tôi hoang mang. Không phải là Tuyết Hoa đã nói với tôi rằng núi rừng là chỗ dung thân thiên nhiên nhất hay sao? Nếu thế, thì tại sao đoàn người bên Cự Tống lại đi ngược lại?

          Chiều xuống, tôi thấy một chiếc kiệu lẩn vào trong đoàn người tị nạn đi từ hướng Cự Tống tiến về La Tân. Tôi biết là chiếc kiệu tới đón tôi, nhưng chồng của Tuyết Hoa không cho tôi chần chờ đợi nữa.

          - Tới giờ phải lên đường rồi. Anh ta rống lên.

          Tôi chỉ muốn ở lại chờ người nhà đến đón. Nhưng anh ta phản đối:

          - Nếu thế, - tôi nói, tôi sẽ tự đi đến gặp chiếc kiệu.

          Tôi đã từng ngồi hàng giờ bên cửa sổ, tưởng tượng ra một ngày tôi phải đi trên con đường ấy. Cái gì khiến tôi chần chừ trong lúc này?

          Chồng của Tuyết Hoa giơ tay lên để bảo tôi im. Anh ta nói:

          - Trên đường biết bao nhiêu người đang chạy tán loạn. Chị có biết họ sẽ làm gì nếu bắt gặp chị đi một mình? Nếu chị xảy ra chuyện gì, gia đình chị…

          - Nhưng…

          - Bạch Huệ, đi với chúng tôi, - Tuyết Hoa xen vào. Chúng ta chỉ tạm lánh ít tiếng đồng hồ thôi. Rồi sau đó, chị trở về gia đình chị. Tốt hơn cả là phải được an toàn.

          Chồng của Tuyết Hoa đỡ từng người chúng tôi lên chiếc xe kéo: mẹ của anh, Tuyết Hoa, các con anh, và tôi. Khi anh bắt đầu kéo xe, với sự phụ giúp của đứa con trai lớn, tôi nhìn về phía thung lũng kéo dài đến tận La Tân. Lửa ngùn ngụt và từng cụm khói vươn lên từ khắp mọi phía.

          Tuyết Hoa không ngừng đưa nước uống cho chồng cô và con trai. Bây giờ đang là giữa mùa thu, khi mặt trời lặn, cái khí lạnh đã bao trùm cây cỏ. Nhưng chồng của Tuyết Hoa và cậu con trai thở hồng hộc, mồ hôi nhễ nhại như đang vào mùa hè. Không chờ ai bảo, Xuân Nguyệt nhảy xuống xe, bế theo đứa em nhỏ, lúc đầu bế bên hông, rồi trên lưng, và cuối cùng nó đặt đứa bé xuống đất, dắt tay đi bộ với nó.

          Chồng của Tuyết Hoa cứ nói đi nói lại là gần đến nơi rồi, nhưng chúng tôi cứ đi mãi trong đêm. Đến gần sáng, chúng tôi đến sườn đồi, ở đó đường đã bắt đầu dốc dần. Khuôn mặt của chồng Tuyết Hoa đỏ gay, cổ nổi gân xanh, đôi tay run rẩy khi anh phải cố đẩy chiếc xe lên đồi. Cuối cùng anh bỏ cuộc, đặt tất cả xuống đất. Tuyết Hoa bò ra tới đầu chiếc xe trước khi bước xuống. Khi chân vừa đụng đất, cô quay lại nhìn tôi. Hai ánh mắt chạm nhau. Bầu trời phía sau cô đỏ rực ánh lửa. Và những tiếng kêu đàng sau thúc giục tôi phải xuống xe. Mỗi người chúng tôi mang một cái mền cuộn tròn. Chồng của Tuyết Hoa ném túi gạo lên lưng, trẻ con thì mang những thứ còn lại. Tôi tự hỏi nếu chỉ vắng mặt ít giờ tại sao lại mang theo nhiều thức ăn như thế? Như thế, chắc là tôi phải xa chồng và các con tôi trong nhiều ngày, giữa núi rừng thăm thẳm này, bên cạnh một ông đồ tể chuyên giết súc vật! Tôi úp mặt vào hai bàn tay, để định thần. Không, tôi không được tỏ ra là tôi yếu đuối.

          Chúng tôi nhập vào đoàn người đi bộ. Tôi và Tuyết Hoa, mỗi người đỡ một bên cánh tay của mẹ chồng cô để giúp bà leo lên đồi. Bà không nhẹ lắm, nhưng thấy rõ là bà tuổi con Chuột! Nhưng chúng tôi có thể làm gì khác được trên con đường mòn đáng sợ này.

          Đàn ông chung quanh chúng tôi, ai nấy đều có vẻ mặt thê thảm. Họ đã bỏ lại nhà cửa, tài sản sau lưng, và ai biết được lúc trở về có khi chỉ còn là đống tro tàn hay gạch vụn? Đàn bà thì nhăn nhó, khóc lóc, vì sợ, cũng vì chỉ có một đêm thôi mà họ đã đi bộ bằng như họ đã đi bộ suốt cuộc đời của họ. Con nít thì sợ quá, không dám hó hé cằn nhằn gì cả. Cuộc trốn chạy của chúng tôi mới chỉ mới bắt đầu thôi.

          Hôm sau, vào cuối chiều, chúng tôi vẫn chưa được ngừng một giây. Con đường càng ngày càng hẹp lại. Bao nhiêu là cảnh tượng hãi hùng xảy ra trước mắt chúng tôi, chưa kể những tiếng kêu la thảm thiết bên tai. Chúng tôi dẫm qua xác biết bao nhiêu cụ già, đã ngồi lại nghỉ một chút thôi, nhưng đã không bao giờ đứng dậy nữa. Chưa bao giờ tôi chứng kiến cái cảnh con cái phải bỏ rơi lại cha mẹ như thế. Thỉnh thoảng lại nghe tiếng một đứa trẻ van xin yếu ớt: "Để con lại đây, khi nào hết chuyện thì quay trở lại đón con"; hay là "Hãy đi đi, mặc con. Tha cho trẻ con đi. Nhớ làm cho con một bàn thờ vào dịp Tết sắp đến". Mỗi lần nhìn thấy thế, tôi lại nghĩ đến mẹ tôi. Mẹ không thể nào chịu nổi một chuyến đi như thế với chiếc gậy chống của mẹ. Không biết trong hoàn cảnh này, mẹ có yêu cầu mọi người bỏ mẹ lại không? Cha có bỏ rơi mẹ không? Anh cả của tôi nữa, có bỏ mặc mẹ không?

          Chân tôi nhức nhối như thời kỳ phải băng chân, và cứ mỗi bước đi lại đau điếng. Tôi thấy những người đàn bà khác trạc tuổi tôi hay trẻ hơn, sau khi đi quãng đường dài như thế, hay bị vấp phải đá, đã bị thương ở chân, không đi được nữa, đành đứng chết dí bên sườn đồi, nước mắt chảy dài, chờ chết lạnh hay chết đói. Tuy vậy, chúng tôi vẫn tiếp tục đi không ngừng, không nhìn lại đằng sau, nuốt sự xấu hổ lại, làm ngơ những tiếng kêu hấp hối chung quanh.

          Khi màn đêm buông xuống, bóng tối bao trùm khắp khu đồi núi, chúng tôi chán nản tột cùng. Mọi người phải vất bỏ bớt đồ đạc mang theo. Gia đình bị phân tán. Vợ chồng tìm nhau, cha mẹ hú gọi con cái. Cuối mùa thu là mùa theo truyền thống phải băng chân cho các bé gái đến tuổi. Thử tưởng tượng những đứa bé vừa bị dập xương chân chưa lâu sau khi bó chân, bị cha mẹ bỏ rơi lại bên đường như họ bỏ rơi lại những đồ đạc quá nặng. Chúng tôi cũng gặp những bé trai kêu cứu dọc đường. Nhưng các bà làm sao mà giúp chúng được chứ, khi họ lết đi còn không nổi, phải nhờ chồng đỡ một bên, tay thì ôm con của mình. Khi gặp nguy hiểm đến tính mạng, người ta không nghĩ đến người khác, trừ khi đó là người thương yêu của mình. Và còn nữa….

          Chúng tôi không có đồng hồ để xem giờ, nhưng đêm đã dày đặc và chúng tôi cũng đã kiệt sức. Hơn ba mươi sáu tiếng đồng hồ đi không ngừng nghỉ, không có cái gì vào miệng, trừ vài hụm nước. Những tiếng kêu khủng khiếp vang lên đây đó, mà chẳng ai tìm hiểu nguyên do. Trời trở lạnh, cành lá chung quanh phủ lớp đá mờ mờ. Tuyết Hoa mặc áo bằng vải thô, tôi mặc áo lụa, chúng tôi không mặc đủ ấm cho cuộc hành trình này. Dưới chân, những tảng đá càng ngày càng trơn tuột. Tôi chắc chắn rằng chân tôi đang chảy máu. Nhưng chúng tôi vẫn phải tiến lên. Mẹ chồng Tuyết Hoa vẫn đi giữa hai đứa tôi. Bà ta thật yếu ớt, nhưng bản tính của tuổi Chuột đã thúc đẩy bà chống chọi để sống còn.

          Bây giờ, con đường mòn hẹp chưa đầy nửa thước, Bên tay phải là sườn đồi dốc ngược, thật phi lý khi còn gọi đây là ngọn đồi. Bên trái là con dốc mất hút, không nhìn thấy bên dưới. Suốt con đường, đàng trước cũng như đàng sau tôi, bao nhiêu là đàn bà trong đôi chân bó chặt, như những cánh hoa quay cuồng trong cơn lốc. Đôi bàn chân bị bó của chúng tôi không phải là sự bất lợi duy nhất, mà đôi chân ấy chưa bao giờ từng được tôi luyện để đi bộ như thế này. Chúng tôi đi lảo đảo, run rẩy, từng bắp thịt co thắt lại.

          Từ một tiếng đồng hồ, chúng tôi theo sau một gia đình có hai vợ chồng và ba đứa con. Bất thình lình, bà vợ vấp vào một viên đá, trượt chân và rơi xuống cái hố sâu thăm thẳm dưới chân chúng tôi. Tiếng rú của bà kéo dài vô tận trước khi ngừng hẳn. Suốt trong đêm, chúng tôi đã nghe biết bao tiếng hú như thế. Từ lúc ấy, tôi cứ dùng tay bám chặt vách đá, và dò dẫm trên từng viên đá trước khi bước đi. Tôi làm mọi cách để không chung số phận với những người xấu số đó, để không bị đến lượt mình phải kêu rú lên khủng khiếp như thế.

          Cuối cùng chúng tôi đến một mảnh đất bằng vòng tròn. Chung quanh chúng tôi, những chỏm núi vươn lên tận trời. Đó đây, thấy có ánh đèn của vài nhà đâu đó. Chúng tôi đã ở trên một độ cao lắm, và khoảng đất bằng được thành vách che khuất, bọn giặc Thái Bình khó lòng mà nhận ra những đóm lửa của chúng tôi. Ít nhất, chúng tôi cố tin như thế. Chúng tôi thận trọng đi vào giữa lòng đất bằng. Không biết có phải vì xa gia đình hay không, mà tôi nghe tiếng trẻ con chung quanh ngọn lửa. Tất cả thẫn thờ mất hồn. Chắc chắn rằng chúng vừa bị mất người thân, ông bà, cha mẹ hay anh em. Trông chúng như bị khủng hoảng, không bao giờ tưởng tượng trẻ con lại có thể ở trong tình trạng đó.

          Tuyết Hoa gặp lại ba gia đình ở La Tân, vừa tìm được một chỗ trú thân khá an toàn dưới gốc một cây già. Thấy bao gạo to tướng mà chồng của Tuyết Hoa vẫn vác trên vai, họ ngồi sát lại, nhường cho chúng tôi ngồi chung bên ngọn lửa. Tôi vừa ngồi xuống thì cái chân của tôi bắt đầu hành hạ, nóng ran, không phải vì lửa mà vì rát và đau thấu đến xương.

          Tôi giúp các con của Tuyết Hoa xoa tay để sưởi. Chúng ngủ ngay không cần đòi ăn, kể cả đứa lớn nhất. Chúng tôi đặt chúng sát vào nhau trước khi đắp chiếc mền cho chúng. Tôi và Tuyết Hoa nằm chung một chiếc mền, mẹ chồng cô dành riêng một cái, chiếc mền cuối cùng để cho chồng của Tuyết Hoa. Nhưng anh ta gọi một người đàn ông khác ở La Tân ra, nói gì đó, rồi đến bên Tuyết Hoa, quỳ xuống nói:

          - Anh đi kiếm củi.

          Tuyết Hoa níu tay anh lại:

          - Anh đừng đi, đừng bỏ mặc tụi em ở đây một mình.

          - Nếu lửa tắt, chúng ta không thể sống qua đêm. Anh ta nói. Trời sắp đổ tuyết, em không thấy sao? Đừng sợ gì cả, còn có các người chung quanh nữa chi? Nếu cần thì ngồi sát vào lửa hơn cho ấm.

          Tuyết Hoa không dám làm, tôi nghĩ thế. Riêng tôi, tôi không thể nào bị chết lạnh, không có gia đình bên cạnh.

          Dù mệt lả, chúng tôi vẫn không tài nào ngủ được. Chúng tôi cũng không dám nhắm mắt, chưa kể là còn vừa đói, vừa khát.

          Trong nhóm người vừa cho chúng tôi nhập bọn, các bà, về sau tôi mới biết họ là một nhóm chị em nuôi của nhau, muốn chúng tôi chia trí nên đã cùng nhau hát một câu truyện. Thật là lạ, dù mẹ chồng tôi là một người thâm hiểu về Nữ tự, nhưng bà lại chỉ chú trọng đến thơ văn, hay viết thư từ cho bạn bè để trau giồi chữ viết hơn là chú trọng đến các bài hát, bài vè. Thế cho nên, tôi và các cô em dâu trong nhà đã quên gần hết những bài hát mà chúng tôi học từ thưở nhỏ. Bài hát mà tôi nghe đêm nay không xa lạ gì, nhưng tôi đã không được nghe lại từ những ngày còn thơ ấu. Bài hát kể lại thời nhà Chu lập quốc, từ lúc sơ khai đến giai đoạn đấu tranh dành độc lập.

          - Chúng ta thuộc về Dao tộc, - cô Liên, trẻ hơn tôi chừng mươi tuổi bắt đầu hát, ngày xưa, đời vua Cao Tổ nhà Hán, vua bị đe dọa bởi một phản quan hiểm ác và nhiều tham vọng. Ngài ra lệnh ai trừ được tên phản quan này thì được làm phò mã. Lúc ấy, chú chó bảy màu tên là Bản Hồ, trung thành với vua nên tình nguyện khai chiến với phản quan, và đã chiến thắng. Quân bất hí ngôn, hoàng đế giữ lời hứa gả công chúa cho Bản Hồ. Chú chó Bản Hồ vui mừng lắm, nhưng người vợ chưa cưới của Bản Hồ thì rất khổ sở: thâm tâm Công chúa, nàng nào muốn làm vợ một con chó! Tuy vậy, nàng không thể không tuân lệnh vua cha. Bản Hồ cùng Công chúa lên núi cao sinh sống và sinh được sáu người con trai, sáu người con gái, lập thành Yao tộc (còn gọi là Dao tộc). Khi trưởng thành, các người con đã định cư tại Thiên Đông.

         

          Phần đầu của bài hát vừa dứt, thì Liễu Chi bắt giọng hát đoạn tiếp. Ngồi cạnh tôi, Tuyết Hoa rùng mình. Có phải cô đang nhớ lại những ngày xa xưa đã nghe chị hai của tôi cùng nhóm chị em đã hát về nguồn cội của chúng tôi?

          - Chúng ta có thể nào tìm mảnh đất khác giàu có và mầu mỡ hơn, - Liễu Chi hát, và phải thật an toàn mà loài người chỉ có thể đến đó bằng đường hầm khúc khuỷu, quanh co? Dưới mắt Dao tộc thì Thiên Đông thật là thần diệu. Nhưng thiên đường đó liệu có thể tồn tại vĩnh viễn mà không bị kẻ gian dòm ngó?

 

          Tôi nghe tiếng những người đàn bà khác lập lại lời ca, quanh đám lửa hồng. Lẽ ra đám đàn ông phải bắt chúng tôi im đi, vì đám loạn quân có thể nghe được mà phát hiện ra chúng tôi. Nhưng tiếng hát trong cao vút kia đã đem lại sức mạnh và can đảm cho tất cả mọi người.

          Liễu Chi lại tiếp tục hát:

          - Bao thế hệ tiếp nối, đến đời nhà Chu, một vị quan tuần phủ địa phương trong một chuyến tham quan, đã tình cờ khám phá ra đường hầm bí mật và Dao tộc sống nơi này, trong những y phục lộng lẫy và người người đều giàu có, vì đất đai thật mầu mỡ. Khi được nghe nói về nơi chốn thần tiên này, nhà vua đã bắt Dao tộc phải đóng thuế thật cao.

 

          Vừa lúc đó, thì những hạt tuyết đầu tiên bắt đầu rơi. Tuyết Hoa luồn tay cô dưới cánh tay tôi và tiếp tục bài hát:

          - Tại sao chúng tôi phải đóng thuế? Dao tộc muốn biết. Trên đỉnh núi nơi làng của họ, họ đã xây một hàng rào bằng đá để ngăn chặn. Vua sai ba người đến hang động để thương lượng, nhưng họ đã không trở về. Ngài lại gửi ba người nữa…

 

          Các người đàn bà khác hòa theo giọng hát của Tuyết Hoa:

          - Và họ cũng đã không trở về.

          - Nhà vua lại gửi một đội quân thứ ba.

 

          Tiếng hát của Tuyết Hoa mạnh mẽ, vang dội cả núi rừng. Trước kia, tôi chưa từng nghe Tuyết Hoa hát trước mặt tôi bao giờ. Nếu kẻ địch có nghe được, chắc chắn cũng bỏ chạy thôi, vì chúng sẽ tưởng là tiếng hú âm hồn!

         

          - Họ đã không trở về, nhóm đàn bà lập lại.

          - Vua gửi một đạo quân đến, vây hãm dân làng. Dao tộc chết cả chục người: đàn ông, đàn bà và trẻ con. Làm sao đây? Vị trưởng làng lấy chiếc sừng trâu, chẻ ra làm mười hai mảnh, trao mỗi mảnh cho một nhóm rồi ra lệnh phân tán ra và đi định cư nơi khác.

          - Phân tán ra và đi định cư nơi khác, mọi người lập lại.

          - Vì thế mà Dao tộc đã đi và định cư trên núi, trong các thung lũng, trong vùng này và tên cao, Tuyết Hoa chấm dứt đoạn nhạc.

          Đào Hoa, trẻ nhất trong nhóm, hát tiếp đoạn cuối cùng:

          - Tục truyền rằng, năm trăm năm sau, dù ở đâu, Dao tộc vẫn tìm về hang động cũ, góp lại mười hai mảnh sừng trâu, và dựng lại thôn làng.

 

          Đã bao năm rồi, tôi không nghe lại bài hát này, khiến tôi bâng khuâng. Dao tộc tưởng rằng được bình an trên núi cao, sau hàng rào bằng đá, và hang động bí mật, nhưng họ đã lầm. Còn chúng tôi hiện giờ thì sao? Cũng đang ẩn mình trên núi cao, rừng thẳm. Chuyện gì sẽ xảy ra cho chúng tôi? Nếu là bọn giặc Thái Bình, chắc chắn chúng sẽ dụ chúng tôi gia nhập. Nhưng nếu là quân binh của triều đình, thì rất có thể họ cho chúng tôi là phản loạn. Trong trường hợp nào đi nữa, có phải chúng tôi cũng sẽ giống như tổ tiên của Dao tộc, chưa đánh đã thua? Và sẽ không bao giờ trở về nữa? Tôi nghĩ đến bọn giặc Thái Bình, đã nổi dậy, - như Dao tộc ngày xưa, để chống lại triều đình, chống sưu cao thuế nặng. Họ đúng hay sai? Chúng tôi có nên theo phe họ không? Nếu thế, có làm hổ thẹn vong linh ông cha không?

          Đêm ấy, không một ai trong chúng tôi nhắm mắt được.

 

(xem tiếp Phần 3)