Chương 16 – Mùa đông

 

           

          Bốn gia đình đến từ La Tân quây quần dưới tàng cây lớn, nhưng sự thử thách của chúng tôi chưa chấm dứt đâu. Nhiều ngày trôi qua mà tình hình cũng chưa có gì thay đổi cả. Năm ấy, tuyết cứ rơi không ngừng, như chưa bao giờ nhiều đến thế. Buổi sáng buổi chiều gì cũng lạnh căm căm. Mỗi hơi thở của chúng tôi là một làn mây mỏng tỏa ra bay bổng lên nền trời. Chúng tôi nhà nọ vẫn dòm chừng nhà kia, nhìn vào lương thực dự trữ của nhau bằng ánh mắt ganh tị, vì chẳng ai biết được sẽ còn ở đây bao lâu nữa. Nhiều người bị sưng phổi và đau cổ họng. Hàng ngày, số người chết vì lạnh, vì đói, vô số kể.

          Cũng như tất cả những người đàn bà khác, đôi chân của chúng tôi đau đớn, chịu đựng vô cùng trong cuộc trốn chạy này. Chẳng cần ý tứ nữa, chúng tôi đành phải tháo băng ra để giặt rửa trước mặt đàn ông chung quanh. Ngay cả những nhu cầu vệ sinh cũng thế, chúng tôi cũng phải tập đi vệ sinh sau những lùm cây hay trong những hố vệ sinh công cộng vừa được đào.

          Khác với những người đàn bà khác có chồng con bên cạnh, tôi chỉ có một mình, xa gia đình. Tôi thật nhớ các con tôi, và băn khoăn cho chồng tôi cùng các em chồng, em dâu, con cái của họ, và cả những người giúp việc nữa. Tôi không biết họ có tìm được chỗ nào lánh nạn ở Vĩnh Châu không?

          Gần một tháng trời chân tôi mới lành lại và tôi có thể đi đứng trở lại mà không bị chảy máu nữa. Vào đầu tháng mười hai âm lịch, tôi quyết định mỗi sáng thức dậy là đi tìm gia đình của chị hai và anh em trai của tôi, với hy vọng họ cũng an toàn ẩn trú đâu đây. Nhưng làm sao mà tìm được trong muôn vàn người tị nạn giữa rừng núi như thế này? Có lẽ đến hơn mười ngàn người tản mác khắp rừng sâu. Mỗi ngày, quấn chiếc mền vào người, tôi lên đường, không quên đánh dấu lối về, vì tôi biết rằng tôi sẽ tiêu tùng nếu không tìm được lối về với gia đình Tuyết Hoa.

          Sau hai tuần tìm kiếm, một hôm tôi gặp một gia đình đến từ Tân Nghệ, đang ẩn trú trên một mỏm đá. Tôi vui mừng hỏi họ có biết gia đình chồng của chị hai tôi cũng ở làng Tân Nghệ hay không?

          - Có chứ, tôi biết chị ấy, - một bà vui vẻ trả lời.

          - Chúng tôi đã lạc nhau từ đêm đầu tiên, - một bà bên cạnh nói tiếp. Nếu chị có gặp bà ấy, thì nói bà ấy đến tìm chúng tôi, ở đây còn có thể chứa thêm một gia đình nữa.

          Rồi như sợ là câu nói vừa rồi khiến tôi có ý định dọn vào, một bà khác lớn tuổi hơn, chừng như là người đứng đầu trong nhóm, nói thêm rằng chỗ này chỉ dành cho gia đình nào đến từ Tân Nghệ mà thôi!

          - Tôi hiểu, - tôi trả lời bà. Nhưng nếu như các bà có gặp chị tôi thì cũng xin nhắn dùm với chị là có em gái của chị đang tìm chị ấy.

          - Em gái? Thế ra bà là người mà mọi người vẫn gọi là Lữ phu nhân?

          - Thưa vâng, - tôi cẩn trọng trả lời.

          Nếu các người đàn bà này nghĩ rằng tôi có gì để họ có thể trục lợi, thì họ lầm to!

          - À, cách đây vài hôm, có vài người đàn ông đi tìm bà.

          Nghe đến đấy, tim tôi đập thình thịch trong lồng ngực.

          - Họ thế nào? Tôi hỏi, có phải là anh hay em trai của tôi không?

          Mấy người đàn bà nhìn nhau, rồi lại nhìn tôi. Cái bà như là trưởng nhóm trả lời:

          - Họ cẩn thận không nói gì với chúng tôi. Bà cũng biết ở tình trạng ở đây ra sao rồi. Nhưng người cầm đầu nhóm người ấy trông rất tráng kiện. Quần áo, giày dép ông ta có vẻ là đồ tốt. Tóc ông ta hơi rũ xuống trán, như thế này này, - bà vừa nói, vừa lấy tay làm hiệu.

          Không sai! Đúng là chồng tôi.

          - Ông ta có nói gì không? Bây giờ họ ở đâu? Làm sao….

          - Chúng tôi không biết, - bà ta chặn tôi lại. Nhưng nếu bà là Lữ phu nhân, thì cứ biết rằng ông đó đang đi tìm bà. Đừng có lo, - bà ta vừa nói, vừa vỗ vỗ vào tay tôi. Ông ta nói sẽ quay lại đây tiếp tục tìm nữa.

          Mặc dù tìm kiếm khắp nơi, cũng không có được một tiếng vang nào vọng lại. Cuối cùng, tôi nghi là mấy người đàn bà kia đánh lừa tôi thôi, vì ghen tị. Nhưng khi tôi đi lại chỗ mỏm đá đó, thì nhóm người đã đi đâu mất tiêu rồi, chỉ thấy có mấy gia đình lạ hoắc dọn vào. Thấy thế, tôi đành trở về chỗ ngụ của tôi, tràn trề thất vọng. Lẽ ra tôi phải là Lữ phu nhân, ai gặp cũng phải nhận ra. Thế nhưng bây giờ, chiếc áo lụa màu thiên thanh thêu hoa cúc trắng đã rách tả tơi, đôi giầy lấm lem bụi đất và máu. Mặt mũi hốc hác, bơ phờ vì đói, lạnh. Nhìn lại hai mươi bốn năm trời qua, có bao giờ tôi lại có thể tưởng tượng có một ngày tôi lại phải chịu đói khát, và lạnh run cầm cập thế này.

          Chồng của Tuyết Hoa thật là một vị anh hùng trong cái nhóm người bé nhỏ của chúng tôi. Là một người làm nghề không lấy gì làm trong sạch cho lắm, anh ta đã lãnh hết mọi việc nặng nhọc ở đây, mà không một tiếng cằn nhằn cũng chẳng chờ đợi ở ai một lời cảm ơn. Cầm tinh con Gà, anh ta hay "gáy" lắm, khoác loác đủ điều, và đôi khi hung hăng tợn. Với cá tính đó, dễ gì anh chết được, dù ở trong hoàn cảnh khó khăn nhất như hiện nay. Anh ta biết săn bắn; biết lóc da, xẻ thịt thú rừng; nướng thịt trên lửa; rửa da thú và sấy khô cho chúng tôi choàng cho đỡ lạnh. Anh ta gánh nước, vác củi từng bó to tướng, không bao giờ mệt. Ở đây, không ai coi anh là một người làm nghề uế tạp nữa, mà đúng là một vị anh hùng, một người bảo vệ cho chúng tôi. Tuyết Hoa rất hãnh diện vì anh. Riêng tôi, tôi mang ơn anh đã cứu mạng tôi.

          Với bà mẹ anh thì khác. Bà ta lúc nào cũng xục xạo, chúi mũi vào chuyện của người khác, cho đúng với cái cá tính của tuổi Chuột. Ngay trong hoàn cảnh thảm thương đến thế này, mà bà cũng không ngừng càu nhàu, trách móc đủ thứ, kể cả những chuyện nhỏ nhoi nhất. Lúc nào cũng là bà phải ngồi gần lửa nhất để sưởi. Bà không rời chiếc mền đã phát cho bà từ đêm đầu tiên, lại còn lấn sang dùng mền của người khác, cho đến khi người ta lên tiếng dành lại. Bà còn lén dấu thức ăn trong tay áo, rồi lúc tưởng là không ai để ý thì mới lấy ra nhấm nháp. Thật là một người tuổi Chuột điển hình. Bà không ngừng sai khiến và điều khiển con trai, một cách thừa thãi, bởi vì dù sao anh ta cũng rất vâng lời bà, rất hiếu thảo.

          Giả dụ như khi bà làu bàu là bà phải được phần ăn nhiều hơn con dâu, thì anh ta luôn tìm cách chia cho bà phần ngon và nhiều hơn vợ. Tôi thật khó lòng mà can thiệp vào chuyện nhà của họ, đành chia chung phần của tôi với Tuyết Hoa. Một hôm, sau khi vét cạn hết túi gạo mang theo rồi, thì bà ta tuyên bố rằng đứa cháu nội không được ăn những thức ăn do con trai bà săn lùng về. Bà nói:

          - Những thức ăn này quí hóa lắm. Không thể phí phạm cho một đứa trẻ quá yếu ớt như nó. Khi nó chết, chúng ta sẽ dễ thở hơn.

          Tôi nhìn đứa bé. Nó mười một tuổi, bằng tuổi với con trai lớn của tôi. Nó nhìn bà nội bằng đôi mắt ngao ngán, không biết phản ứng thế nào. Tôi tưởng là Tuyết Hoa sẽ bênh vực cho nó, dù sao, nó cũng là con trai lớn của cô. Nhưng Tuyết Hoa không thương đứa bé này. Ngay trong lúc thập tử nhất sinh này, cô vẫn không nhìn đến nó, mà chỉ lo cho đứa em kế của nó. Tôi mủi lòng, làm sao không phản ứng trước sự cư xử như vậy đối với một đứa trẻ nhỏ như con tôi chứ? Lương tâm tôi sẽ ăn nói sao khi để đứa bé chết dần chết mòn vì thiếu ăn? Làm sao nhìn mặt ông bà tổ tiên đã khuất hay sau này khi tôi về trời, có gặp lại đứa bé trên ấy, làm sao tôi nhìn mặt nó? Lẽ ra, là con trưởng, nó có quyền được phần ăn lớn nhất. Tôi chia phần của tôi cho Tuyết Hoa và cậu con trai. Khi chồng cô nhìn thấy, anh ta la lên:

          - Phần ăn này của Lữ phu nhân.

          Chưa ai kịp lên tiếng, thì bà mẹ lợi dụng ngay câu nói đó:

          - Con trai, tại sao chúng ta lại phải nuôi cái người đàn bà này chứ? Cô ta chỉ là một người xa lạ với gia đình chúng ta. Chúng ta phải bảo vệ dòng họ của chúng ta trước, nghĩa là con, cháu nội thứ của ta, và ta.

          Bà không đả động gì đến đứa cháu nội lớn, và Xuân Nguyệt, mà theo bà thì chúng có sống cũng chỉ là gánh nặng, chỉ tốn thức ăn!

          Lần đầu tiên, chồng của Tuyết Hoa dám cãi lại bà:

          - Lữ phu nhân là khách của nhà ta, - anh ta nói. Nếu chúng ta có thể đem bà ta an toàn về với gia đình, thì ta cũng có lợi.

          - Tiền chăng? Bà thắc mắc.

          Thật đúng là con Chuột. Cái tính tham lợi và bủn xỉn toát ra từ khắp các kẽ chân lông của bà.

          - Gia đình họ Lữ sẽ mang ơn và có thể giúp chúng ta bằng nhiều cách, - anh ta trả lời mẹ.

          Đôi mắt của bà mẹ nhíu lại chứng tỏ bà đang lắng nghe. Trước khi để bà kịp lên tiếng, tôi ra lệnh:

          - Nếu như các người muốn được gia đình tôi đền bù ư? Trước tiên, phải tăng khẩu phần của tôi đã. Nếu không, - tôi nhấn mạnh với một giọng đe dọa mà tôi học được từ một bà thiếp của cha chồng tôi, thì tôi sẽ nói với chồng tôi rằng tôi không được các người tiếp đón ân cần, mà chỉ bị coi thường, đối xử cộc cằn và bủn xỉn thôi.

          Tôi đã phải mạo hiểm khi nói câu đó. Chồng của Tuyết Hoa là đồ tể, anh ta có thể hạ tôi tại chỗ! Thế nhưng không ngờ lại có kết quả! Kệ những lời ta thán của mẹ anh, anh vẫn chia cho tôi phần ăn lớn nhất, để tôi có thể xẻ bớt cho Tuyết Hoa, con trai lớn của cô và Xuân Nguyệt. Thế mà vẫn đói rạc người. Ai nấy chỉ còn là bộ xương khô, nằm dài cả ngày, mắt nhắm lại để hà tiện chút sức lực còn lại. Bệnh tật lại tàn sát vô khối người tị nạn. Thiếu ăn, chúng tôi chỉ trông cậy vào chút trà nóng, rễ cây, cỏ dại, cơ thể làm sao chống lại được vi khuẩn. Càng ngày người chết càng nhiều. Thân nhân họ cũng không còn hơi sức để đem xác về nữa.

          Những lúc có dịp, con trai củaTuyết Hoa đến ngồi xà bên cạnh tôi. Nó không được gia đình thương yêu, nhưng tôi thấy nó không đến nỗi vụng về như mọi người tưởng. Tôi nhớ rõ cái lần tôi và Tuyết Hoa đi lễ ở đền Cầu Tự, để xin được con trai thông minh đĩnh ngộ. Tôi thấy cậu bé này cũng có khả năng mặc dù không được chút giáo dục nào. Tôi chắc chắn không thể nào dạy dỗ cho nó học Hoa ngữ, nhưng tôi có thể lập lại những bài học mà tôi đã học lóm từ bác Lữ, khi bác dạy học cho con trai lớn của tôi: "Năm điều mà người Trung quốc chúng ta tôn thờ, đó là: Trời, Đất, Vua, Cha mẹ, và Thầy dạy…". Sau khi đã nặn óc ra hết những gì tôi học lóm rồi, tôi kể một câu truyện được lan truyền trong làng của tôi, truyện cậu bé học hành đỗ đạt làm quan, về gặp lại gia đình. Nhưng tôi sửa đi chút chút cho phù hợp với hoàn cảnh của đứa bé đáng thương này:

          - Cậu con trai trưởng chạy dọc theo bờ sông, - tôi bắt đầu. Xanh như tàu lá, cậu ta nào hay biết thế nào là cuộc đời. Cậu bé sống với cha mẹ. em gái và em trai út. Em trai út thì sẽ nối bước của cha. Em gái sẽ lấy chồng xa. Nhưng cha mẹ cậu không bao giờ để mắt đến cậu. Khi nhìn đến, thì chỉ là để đánh cho đến khi cái đầu sưng lên như quả dưa hấu.

 

          Cậu bé nép người vào tôi, giương to mắt nghe tôi kể tiếp:

          - Một ngày, cậu con trưởng mở chiếc hộp đựng tiền của cha, lấy một nắm tiền cho vào túi, và mở tủ thức ăn của mẹ, lấy đầy một bao. Không chào từ biệt, cậu ta rời nhà, băng qua đồng, qua sông, tìm đường đến Quế Lâm. Cháu có thấy con đường chúng ta tới đây gian nan thế nào rồi chứ? Không thấm thía gì so với những gian khổ mà cậu bé kia phải chịu đựng. Trên đường, cậu ta không có bạn bè, không một ân nhân. Cậu ta chỉ có bộ quần áo trên người, khi ăn hết thức ăn mang theo rồi, cậu ta phải đi ăn mày để sinh sống.

         

          Cậu con trai đỏ bừng mặt. Tôi kể tiếp:

          - Nhiều người cho rằng làm như thế thật xấu hổ, nhưng khi chúng ta không còn cách nào để tồn tại, thì cũng phải can đảm mà làm vậy thôi.

 

          Từ đầu bên kia, mẹ chồng của Tuyết Hoa lẩm bẩm:

          - Cái đoạn này không có trong truyện…

          Tôi lờ đi. Dĩ nhiên là tôi biết câu truyện nguyên thủy chứ, nhưng tôi đã có chủ đích:

          - Đến Quế Lâm rồi, cậu bé lang thang trên các con đường nhỏ, quan sát những người ăn mặc lịch sự, nghe người ta nói chuyện và cậu cũng học cách thức nói chuyện của họ. Ngồi trước trà lầu, cậu quan sát và học cách thức của khách hàng ra vào nơi đó. Khi đã học được những phong thái tốt rồi, một hôm có người để ý đến cậu ta.

 

          Nói đến đây, tôi ngừng lại, vuốt tóc nó:

          - Cháu phải nhớ, - tôi nói: trên đời này có những người quảng đại. Có thể cháu không tin ta, nhưng ta đã gặp người như thế rồi. Lúc nào cháu cũng phải cảnh giác: có ngày sẽ có người trở thành ân nhân của cháu.

          - Như là cô chẳng hạn, có phải không? - Cậu bé hỏi tôi.

          Bà mẹ chồng của Tuyết Hoa xịt mũi một cách khinh khỉnh. Nhưng tôi vẫn phớt lờ đi.

         

          - Người đàn ông này đem đứa bé trai về nhà để giúp việc cho ông ta, - tôi kể tiếp. Để trả công, ông ta dạy cho cậu bé những gì ông biết. Ngày kia, ông thuê một gia sư đến dạy học cho cậu bé. Bao năm ròng rã, cậu bé con, nay đã là một thanh niên, được cha nuôi cho lên kinh ứng thí, đỗ đạt hiển vinh.

          Chàng thanh niên đã mũ áo xênh xang trở về làng. Trước thềm nhà, con chó của gia đình nhận ra chàng, sủa lên ba tiếng. Nhưng cha mẹ, và em trai thì không nhận ra chàng. Em gái thì đi lấy chồng ở xa rồi. Khi biết là chàng đã đỗ đạt thành danh, cha mẹ chàng không ngừng xin xỏ. "Nhà cần cái giếng, con có thể thuê thợ về đào giếng không?", - cha chàng nói. Mẹ chàng thì: "Mẹ không có tấc lụa trong tay, cả đời mẹ chỉ thèm một bộ quần áo lụa". Đến lượt em trai chàng: "Em phải nuôi dưỡng cha mẹ. Anh có thể cho em tiền coi như đền bù công lao?". Chàng thanh niên hồi tưởng lại ngày xưa, chàng đã bị hất hủi ra sao. Chàng quay lên kiệu, trở về Quế Lâm với cha nuôi, lập gia đình, con cái đầy đàn và sống cuộc đời hạnh phúc.

 

          - Tại sao cô lại kể những chuyện tầm phào như vậy chứ? Bà mẹ chồng Tuyết Hoa thốt lên. Rồi kết cục ra sao? Tại sao lại cho cháu ta những hy vọng hão huyền đó chứ, trong khi đời nó chỉ là tăm tối thôi?

          Tôi có câu trả lời chứ, nhưng đâu cần phải trả lời cái bà già khó chịu này chứ? Đúng thế, chúng tôi không ở trong hoàn cảnh thông thường. Nhưng hiện giờ, tôi đang xa gia đình, tôi cần có một người để chăm sóc. Tôi tưởng tượng ra chồng tôi sẽ là vị Ân Nhân trong truyện. Tại sao không? Tuyết Hoa đã làm cho tôi biết bao nhiêu việc trong thời thơ ấu của chúng tôi, thì giờ đây, tại sao gia đình tôi lại không đưa tay ra để thay đổi tương lai của cậu con trai của nàng?

         

          Thú rừng trở nên khan hiếm vì đã bị đám người tị nạn lùng bắt, hay chúng cũng ngã quị như đa số dân tị nạn chúng tôi, vì cái lạnh nghiệt ngã của mùa đông. Sinh sống quen trong vùng đồng bằng, nhiều người đàn ông cũng yếu dần. Họ chỉ còn sức đem được những gì họ có thể đem. Khi lương thực tích trữ đã cạn, nhiều gia đình đã phải chết đói. Nhiều người đã sai vợ xuống núi kiếm lương thực. Trong vùng của chúng tôi, có lệ không được bắn giết đàn bà trong khi có chiến tranh. Đó là lý do đàn ông đã sai vợ đi tìm nước uống, thức ăn hay những thức cần thiết khác trong lúc hỗn loạn này. Nhưng, bọn giặc Thái Bình, cũng như binh lính triều đình đâu có biết lệ ngày của Dao tộc chúng tôi. Vả lại, làm sao đàn bà chúng tôi, với đôi chân bó chặt, lại có thể xuống núi ngay giữa mùa đông thế này, rồi lại lên núi với lương thực khi chúng tôi cũng đã bị kiệt sức vì đói, vì lạnh?

          Do đó, một nhóm đàn ông đã phải thận trọng xuống núi để vơ vét lương thực và các nhu yếu phẩm trong những làng, xóm bỏ hoang. Không mấy người trở lại. Những người thoát hiểm trở về, thuật lại rằng đồng bọn của họ đã bị chém đầu. Các bà vợ không chịu được tin tức này, đã lao mình xuống vực sâu thăm thẳm mà chính họ đã bỏ công sức để leo lên. Có bà thì nuốt cả cục than hồng đang cháy dở, hay nhịn đói cho đến chết. Những người khác thì không biết xấu hổ, đã tìm quan hệ với những người đàn ông khác ngay trong khu tị nạn, quên cả tam tòng tứ đức.

          Xa nhà, vắng bóng các con, tôi ngắm nghía quan sát các con của Tuyết Hoa, và nhìn thấy rõ ảnh hưởng của cô đối với các con. Tôi nhớ con tôi kinh khủng, và không ngừng so sánh chúng với các con của Tuyết Hoa. Trong gia đình tôi, con trai lớn đã có chỗ đứng vững vàng, và một tương lai xán lạn đang chờ đón. Nhưng con trai lớn của Tuyết Hoa thì lại chiếm một địa vị còn thấp kém hơn là mẹ nó. Nó như kẻ bị bỏ rơi. Tuy nhiên, với sự dịu dàng và thanh nhã của nó, tôi lại thấy nó giống với Tuyết Hoa nhất. Có phải vì lý do này mà cô lãnh đạm với nó chăng?

          Con trai thứ của tôi cũng dễ thương, nhanh nhẹn, hoạt bát, nhưng không có cái tò mò của anh lớn của nó. Suốt đời, tôi đã nhìn thấy nó sống cạnh chúng tôi, ngay cả khi đã lập gia đình, có con cái, vẫn làm việc dưới quyền của anh cả của nó. Trái lại, cậu con trai thứ của Tuyết Hoa thì thể hiện rõ ràng ước muốn của gia đình cô. Cậu bé thừa hưởng được sự mạnh mẽ, tráng kiện của cha, dù còn nhỏ tuổi mà đã dẻo dai, bền bỉ, chẳng biết sợ là gì, chẳng bao giờ run rẩy vì lạnh, cũng không than phiền vì đói. Cậu bé theo cha như hình với bóng, ngay cả những lúc đi săn bắn. Chắc chắn nó cũng phải hữu dụng, nếu không đời nào chồng của Tuyết Hoa lại chịu để cho nó quẩn chân. Lần nào trở về với một con thú rừng săn được, cậu bé ngồi kiễng trên gót chân, nhìn cha làm lông, xẻ thịt con thú trước khi đem nướng. Hai cha con giống nhau như đúc khiến tôi lại nghĩ đến thân phận của Tuyết Hoa. Không chối cãi được là chồng của Tuyết Hoa tệ, thô bạo và thấp kém hơn cô về mọi mặt. Nhưng tình thương mà cô dành cho đứa bé này đã biểu lộ phần nào tình yêu của cô đối với người chồng.

          Con gái của Tuyết Hoa, Xuân Nguyệt, có khuôn mặt và phong thái khác hẳn Tiểu Ngọc, con gái tôi. Tiểu Ngọc thừa hưởng giòng máu của gia đình nông dân của cha mẹ tôi, đó cũng là lý do mà tôi thường khe khắt với nó. Nhưng dù sao, nhờ mối lợi do chuyến buôn muối của chồng tôi, chúng tôi cũng trích ra được một phần hồi môn xứng đáng cho nó. Với sự giáo dục nghiêm khắc của tôi, tôi nghĩ là Tiểu Ngọc sẽ là một người vợ tốt. Nhưng Xuân Nguyệt thì khác, cháu thừa hưởng không những nhan sắc của Tuyết Hoa, mà còn thừa hưởng cả cái phong thái khoan thai của bên ngoại, cho nên nếu Xuân Nguyệt có được cái may mắn như tôi ngày xưa, thì rất có thể cháu sẽ trở thành xuất sắc.

          Mấy đứa con của Tuyết Hoa đã khiến tôi càng nhớ con tôi hơn. Sự lo âu cứ gặm nhấm tôi, trừ những đêm mà tôi và Tuyết Hoa được ở cạnh nhau. Một chuyện thật khó tưởng tượng: giữa rừng núi lạnh chết người, trong hoàn cảnh nguy nan như thế, giữa một đám người tị nạn hỗn tạp, mà vợ chồng Tuyết Hoa vẫn âu yếm nhau trong chiếc mền không đủ ấm. Cho dù tôi có nhắm mắt làm ngơ thì cũng khó mà bịt tai được. Thật ngoài sức tưởng tượng của tôi. Chồng của Tuyết Hoa thuộc loại không thích biểu lộ tình cảm, thỉnh thoảng anh ta chỉ lẩm bẩm một mình, nhưng anh ta lại không ngớt biểu lộ sự âu yếm vợ.

          Khi anh ta ngủ rồi, Tuyết Hoa đến bên tôi, ôm tôi vào vòng tay, như khi xưa chúng tôi còn bé. Hơi ấm dù sao cũng làm tôi dễ chịu, nếu không biết đâu tôi cũng như những người đàn bà yếu đuối khác, đã bỏ mình trong đêm lạnh.

          Hậu quả là Tuyết Hoa lại có thai. Tôi an ủi Tuyết Hoa là có thể chỉ chậm trễ ít hôm thôi, do sự thay đổi hoàn cảnh sống, ăn uống thiếu thốn, nhưng Tuyết Hoa khẳng định:

          - Tôi có bầu rồi, - Tuyết Hoa nói, tôi biết các triệu chứng mà.

          - Nếu thế thì tôi mong chị sẽ sanh con trai.

          - Lần này thì chắc chắn rồi. Tuyết Hoa nói với giọng vừa vui vừa chắc ăn.

          - Có con trai là cả một ân sủng trời cho, - tôi nói thêm, chị phải nên hãnh diện vì cậu con trai lớn.

          - Đúng, - Tuyết Hoa trả lời không lấy gì vững vàng lắm. Tôi đã quan sát và thấy chị thật lưu tâm đến đứa bé này. Chị có thể nhận nó làm rể không?

          Tôi thật thương cậu bé này, nhưng lời đề nghị của Tuyết Hoa thật là kỳ cục.

          - Hai gia đình chúng ta không thể nào kết sui gia được. Tôi nhắc Tuyết Hoa như thế.

          Tôi đã nợ của Tuyết Hoa quá nhiều để có được ngày hôm nay, và tôi cũng muốn trả lại bằng cách đó cho con gái của cô. Nhưng không có cái chuyện tôi phải bắt con gái tôi hạ mình chấp nhận cuộc hôn nhân do Tuyết Hoa đề nghị.

          - Tôi nghĩ rằng việc kết hợp hai đứa con gái thành chị em kết nghĩa quan trọng hơn, chị không thấy thế sao? Tôi hỏi.

          - Chị nói đúng, - Tuyết Hoa trả lời một cách hờ hững, thâm tâm tôi cũng mong vậy. Ngay khi chúng ta được về nhà, tôi sẽ liên lạc với dì Quảng, giống như hồi xưa Dì đã kết hợp hai chúng ta. Và ngay khi chân của hai đứa nó đã có kích thước mong muốn rồi, thì dì Quảng có thể dẫn chúng đến đền Thánh nữ để ký giao ước, mua chiếc quạt cho chúng, và nhất là dẫn chúng đi ăn món khoai chiên bọc ca ra men.

          - Tại sao chúng ta không cùng có mặt vào dịp đó có hay hơn không? Chúng ta có thể quan sát hai đứa nó luôn thể.

          - Chị muốn nói là phải theo dõi chúng nó? Tuyết Hoa hỏi một cách hoài nghi.

          Thấy tôi cười, Tuyết Hoa cũng cười xòa.

          - Chắc đầu óc tôi trục trặc rồi! Tôi thốt lên.

          Dù đang sống trong sự thiếu thốn mọi mặt, nhưng cái viễn ảnh kết nghĩa của hai đứa con gái chúng tôi đã khiến chúng tôi có thêm chút hy vọng trong những ngày tháng khốn khổ này.

          Chúng tôi tổ chức sinh nhật cho đứa con trai thứ của Tuyết Hoa, vừa được năm tuổi. Thật là một đứa bé ngộ nghĩnh và chúng tôi thích nhìn hai cha con nó cạnh nhau, trông như hai con heo con: người nọ nghiêng ngả dựa vào người kia, cáu ghét và bụi bậm, nhưng thật vui vẻ bên nhau. Cậu con trai lớn, trái lại, thích gần với chúng tôi hơn. Thấy tôi quan tâm đến đứa bé, Tuyết Hoa cũng dành cho nó nhiều chú tâm hơn trước. Cậu bé cười sung sướng khi được mẹ chú ý, săn sóc. Cái nét cười rạng rỡ ấy làm tôi liên tưởng đến khuôn mặt thanh tú của Tuyết Hoa ngày bé, một sự pha trộn giữa dịu dàng, thanh tao, thông minh và thẳng thắn. Và Tuyết Hoa đã nhìn lại cậu bé, tôi không dám nói là với sự thương yêu, nhưng rõ ràng là cô hài lòng với đứa nhỏ.

          Một hôm, khi tôi khe khẽ hát một bài vè, Tuyết Hoa đề nghị:

          - Chị không nên dạy nó những bài hát của đàn bà. Chúng ta đã học nhiều bài thơ trong thời niên thiếu…            

          - Nhờ mẹ của chị.

          - Và tôi chắc chắn rằng sau này chị còn học được nhiều bài thơ khác nữa, trong gia đình bên chồng của chị.

          - Đúng thế.

          Cả hai đứa chúng tôi thật hứng khởi, trao đổi nhau những tựa bài thơ mà chúng tôi biết. Tuyết Hoa siết tay con trai lớn, bảo tôi:

          - Chúng ta hãy dạy cho nó những gì chúng ta biết, để nó có chút học vấn.

          Tôi biết khả năng của chúng tôi chỉ có giới hạn thôi, vì cả hai đứa chúng tôi đều không được đến trường. Nhưng đứa bé này thật giống như một cái nấm khô được ngâm vào nước nóng, hấp thụ hết những gì mà chúng tôi truyền cho nó. Chẳng bao lâu, nó đã đọc được những bài thơ Đường mà chúng tôi yêu thích từ thưở bé, cũng như những đoạn Cổ thi, mà tôi đã thuộc nằm lòng nhờ những lúc phải ngồi cầm vở dò bài cho con trai của tôi. Lần đầu tiên, tôi thấy ánh mắt hãnh diện của Tuyết Hoa. Chắc chắn rằng Tuyết Hoa đang hồi tưởng lại hình ảnh của chính cô ngày bé, đang hé màn cửa kiệu ra để khám phá thế giới bên ngoài…

          Dù rằng những ngày tháng tị nạn kinh hoàng ấy chúng tôi phải chịu đựng khổ sở đến thế nào, thì cũng có những giây phút thật tuyệt vời, vì tôi thấy Tuyết Hoa tỏ ra rất hạnh phúc, mà đã từ lâu tôi không tìm thấy nơi cô nữa. Tuyết Hoa cảm kích ba người chị em kết nghĩa ở La Tân và đã hoan hỉ nhập bọn để không phải ngồi mãi bên cạnh bà mẹ chồng khó chịu. Ngồi giữa đám đàn bà ấy, Tuyết Hoa cất giọng thánh thót hát những bài hát mà đã từ lâu tôi không được nghe. Tâm hồn cô như mở rộng ra với vũ trụ bao la.

          Một đêm giá lạnh, tính ra đã hơn mười tuần lễ chúng tôi ở trong rừng, đứa con trai thứ của Tuyết Hoa nằm co quắp ngủ bên đám lửa hồng, và đã không thức dậy nữa. Tôi không biết là do bệnh, là đói hay là lạnh, hoặc là cả ba thứ đó đã đem nó đi vĩnh viễn, nhưng đứa bé đã nằm đó, thoáng chút sương giá phủ trên mình, và mặt nó xanh mướt. Tiếng kêu thảm thiết của Tuyết Hoa vang dội cả núi rừng, nhưng cũng chưa thấm thía gì với phản ứng dữ dội của chồng cô. Anh ta ôm đứa con trong tay, lắc mạnh và khóc thương thảm não: nước mắt chảy dài làm thành những vệt ngang dọc trên khuôn mặt bám đầy bụi bặm và cáu ghét từ bao ngày qua. Anh ta không nghe lời ai nữa, kể cả bà mẹ, cứ ôm đứa nhỏ trong tay. Một người đàn ông trong nhóm chúng tôi lại gần anh an ủi, cũng vô dụng. Thỉnh thoảng, anh ngửa mặt lên trời, kêu than: "Sao lại lấy đi con trai mà tôi quí giá nhất trên đời này chứ?". Câu hỏi đó, trái tim tan vỡ đó, ngày xưa, chúng tôi cũng đã từng đọc trong những bài Nữ tự. Tôi lặng ngắm đám đàn bà ngồi vòng quanh và thấy trên gương mặt họ như đang có cùng một câu hỏi: một người đàn ông cũng có thể biểu lộ sự đau thương như mọi người đàn bà khác, khi mất đi đứa con yêu?

          Hai ngày liên tiếp, anh ta cứ ngồi lả đó, trong khi chúng tôi rù rì đọc kinh cầu siêu cho đứa bé. Đến ngày thứ ba, anh ta đứng dậy, vẫn ôm xác đứa bé trên tay, băng qua đám người quây quần bên lò lửa, anh ta đi thẳng vào rừng, nơi mà anh vẫn cùng đứa con trai cùng nhau đi săn lùng thú vật, mót củi. Hai ngày sau, anh mới trở về với hai bàn tay không. Khi Tuyết Hoa hỏi anh chôn con ở đâu, anh ta quay lại, không nói không rằng, đá Tuyết Hoa một cú trời giáng, khiến cô lùi lại hai thước trước khi ngã gập xuống nền đất phủ đầy tuyết.

          Anh ta tiếp tục đấm đá túi bụi, khiến Tuyết Hoa xảy thai ngay tại chỗ. một dòng máu đen kịt chảy dài trên dốc tuyết, lan ra chung quanh đám lửa hồng. Cô có thai chưa lâu, cũng chẳng ai nhìn thấy thai nhi ra sao cả, nhưng anh hàng thịt thì quả quyết là vừa loại bỏ được một gánh nặng vì thai nhi lại là con gái! "Không có gì xảo quyệt hơn trái tim đàn bà", anh ta cứ lải nhải lập đi lập lại đến phát chán, làm như chúng tôi không hiểu câu tục ngữ ấy. Đàn bà trong nhóm thì mải lo cho Tuyết Hoa, chẳng ai thèm để ý đến anh ta. Chúng tôi phải lo thay áo quần cho Tuyết Hoa, lau rửa cho sạch những vết máu vẫn tiếp tục rỉ ra giữa hai chân cô.

          Bây giờ mỗi lần nghĩ lại, tôi vẫn không hiểu phép mầu nào đã giúp Tuyết Hoa sống còn sau trận ấy, vì suốt hai tuần lễ sau đó, chồng cô không ngừng đánh đập, mà cô không còn sức chống trả. Tuyết Hoa càng yếu hơn nữa sau khi mất bao nhiêu là máu. Cả người cô toàn vết bầm tím.

          Phần tôi, tại sao tôi không cản anh ta lại? Tôi là Lữ phu nhân, dù sao anh ta cũng có chút tôn trọng tôi. Đúng vậy, nhưng tôi không quên rằng anh ta đang nổi điên vì mất đứa con trai yêu quí nhất, tôi không dám mạo hiểm vì anh ta có thể sẽ hành hung tôi như đã đánh Tuyết Hoa. Dù sao, tôi chỉ có một mình, bất lực, không làm gì được.

          Chưa bao giờ tôi thấy cần được sự che chở của chồng tôi như lúc này. Suốt thời gian chung sống, chúng tôi tôn trọng, tương kính nhau. Tôi tự nhủ, nếu qua được tai nạn này, được trở về với gia đình thì tôi sẽ hết lòng phục tùng chồng tôi.

          Dưới tàng cây, chúng tôi hết sức săn sóc cho Tuyết Hoa, dùng tuyết đun sôi lên để lau rửa những vết thương của cô, sợ bị nhiễm độc. Chúng tôi xé vải từ áo quần của mình để băng bó cho Tuyết Hoa. Nhóm ba người chị em nuôi định nấu súp bằng tủy súc vật của chồng Tuyết Hoa săn về, nhưng tôi nhắc họ rằng Tuyết Hoa ăn chay, và chúng tôi thay phiên nhau vào rừng tìm rễ cây và vỏ cây để nấu nước canh, đút từng muỗng cho Tuyết Hoa và cùng hát thì thầm để cho cô khuây khỏa.

          Nhưng sự hiện của chúng tôi cũng không làm Tuyết Hoa nguôi ngoai. Cô không chịu ngủ, cứ ngồi bó gối gần đống lửa, toàn thân run rẩy, tuyệt vọng.

          Đã từ lâu, chúng tôi không có quần áo sạch sẽ để thay rửa, nhưng cũng cố giữ bề ngoài trông cho được. Nhưng Tuyết Hoa thì không màng gì nữa. Cô chẳng buồn vốc tuyết mỗi sáng để rửa mặt, đánh răng. Tóc tai rũ rượi, làm tôi nhớ đến những ngày mẹ chồng tôi phải bệnh dịch, lên cơn sốt triền miên. Cử chỉ thái độ của Tuyết Hoa càng ngày càng giống cô em dâu thứ ba của tôi vào cái đêm đó: người thì ở đấy nhưng hồn để đâu đâu.

          Mỗi ngày, có lúc Tuyết Hoa đứng dậy, bỏ đám lửa đi lang thang vào khu rừng ngập tuyết, như người mộng du. Tôi đi kèm bên cô, quàng tay dắt đi, nhưng hình như cô cũng không biết đến sự hiện diện của tôi. Chúng tôi chập choạng bước trên những viên đá phủ đầy tuyết và cuối cùng thì đến bờ nước, ở đó, Tuyết Hoa hú lên những tiếng kêu thảm thiết, để gió bắc cuốn đi thật xa.

          Suốt thời gian tị nạn, tôi đã từng nghe những tiếng hú rùng rợn của những người đàn bà trước khi tan xác dưới vực sâu. Tuyết Hoa không để ý gì đến nỗi ám ảnh của tôi. Đôi mắt cô nhìn xuống vực thăm thẳm rồi lại ngắm đàn chim bay lượn, tung cánh lên đỉnh đồi. Tôi nghĩ đến biết bao lần, Tuyết Hoa đã mơ màng nhìn theo cánh chim tung cánh. Tôi thấy dường như Tuyết Hoa chỉ chực nhảy ra khoảng không dưới chân. Nhưng tôi không ngừng ở cạnh cô, kèm chặt một bên cánh tay Tuyết Hoa.

          Tôi kể những chuyện trần gian, để kéo cô về thực tế, chẳng hạn như bảo Tuyết Hoa liên lạc với bà Quảng để lo vấn đề kết nghĩa của hai đứa con gái của chúng tôi. Thấy Tuyết Hoa không trả lời, tôi lại nói thêm:

          - Nhà chúng ta ở gần nhau, tại sao phải chờ hai đứa nhỏ trở thành chị em kết nghĩa rồi mới cho chúng gặp gỡ nhau? Chị có thể cùng Xuân Nguyệt đến nhà tôi vài hôm, để hai đứa nhỏ có nhiều kỷ niệm với nhau.

          Hay là:

          - Chị nhìn những cánh hoa tuyết mong manh kia, mùa xuân sắp tới rồi, chúng ta sẽ được rời khỏi nơi đây.

          Thế nhưng, suốt mười ngày, tôi chỉ nhận được những tiếng kêu thê thảm của Tuyết Hoa.

          Đến ngày thứ mười một, trên đường ra bờ sông, Tuyết Hoa nói:

          - Tôi đã mất năm người con, và lần nào chồng tôi cũng trách móc tôi. Anh ta chỉ biết trút những oán hận bằng cú đấm. Thoạt đầu, tôi nghĩ rằng anh ta nổi giận chỉ vì tôi chỉ sanh toàn con gái. Nhưng lần này, tôi vừa mất đứa con trai, tôi đang tự hỏi…

          Tuyết Hoa đột nhiên ngừng nói, và nghiêng đầu như thể đang ngẫm nghĩ câu hỏi của chính mình:

          - Dù sao, anh ta cũng chỉ biết dùng cách đấm đá, - cô kết luận với một giọng nói chán chường, tuyệt vọng.

          Câu nói này chứng tỏ rằng chồng của Tuyết Hoa vẫn thường đánh cô ngay từ lúc cô bước vào nhà họ. Cái lối đánh đập vợ không lạ lùng gì trong vùng của tôi. Nhưng điều làm tôi đau, là Tuyết Hoa đã dấu diếm tôi bấy lâu nay. Tôi tưởng là cô không bao giờ dấu tôi điều gì nữa, rằng giữa chúng tôi không có gì là bí mật nữa. Nhưng đó không phải là điều mà tôi lo nghĩ, mà là chính tôi đã cảm thấy hối hận đã không thấy được sự bất hạnh của Tuyết Hoa suốt bao nhiêu năm qua.

          - Tuyết Hoa! Tôi bắt đầu nói.

          - Không, chị nghe tôi nói đã. Chị tưởng rằng chồng tôi là một người xấu, nhưng thật ra, anh ta không hung dữ như chị tưởng.

          - Còn không à? Anh ta có coi chị là một con người hay không?

          - Bạch Huệ! – Cô ngắt lời tôi: người đó là chồng tôi.

          Một lát sau, cô nói thêm:

          - Đã từ lâu tôi đã có ý định tự tử rồi, nhưng luôn có người nào đó đã giữ chân tôi lại.

          - Chị đừng nói những lời như vậy.

          Cô không để ý đến lời nói của tôi.

          - Chị có bao giờ nghĩ đến số mạng không? Tuyết Hoa hỏi tôi. Tôi thì tôi luôn tin vào số mạng. Nếu mẹ tôi không lấy cha tôi thì sẽ ra sao? Nếu cha tôi đừng nghiện ngập thuốc phiện? Nếu cha mẹ tôi đừng gả tôi cho anh hàng thịt này? Nếu tôi là một đứa con trai? Tôi có làm được gì cho gia đình của tôi không? Ah! Bạch Huệ, tôi thật xấu hổ trước mặt chị.

          - Tôi không bao giờ…

          - Từ khi chị bước đến nhà cha mẹ tôi, tôi đã cảm thấy biết bao nhiêu sự thương hại chị dành cho tôi. Chị đừng có chối cãi, - cô nhấn mạnh. Chị nghĩ rằng tôi thất vọng lắm. Nhưng số phận của mẹ tôi còn tệ gấp bội. Khi còn nhỏ, tôi đã từng nghe mẹ ngày đêm khóc thầm. Buồn làm sao! Tôi chắc chắn mẹ đã từng nghĩ đến chuyện chết. Nhưng mẹ không thể bỏ rơi tôi. Khi tôi đã sang ở hẳn nhà chồng, mẹ lại không thể bỏ rơi cha tôi.

          Tôi biết Tuyết Hoa muốn nói gì, tôi cãi lại:

          - Mẹ của chị không bao giờ để sự cay đắng gặm nhắm trong lòng. Không bao giờ bà buông xuôi.

          - Mẹ tôi đã bỏ hết để lên đường với cha tôi. Từ đó, tôi không biết số phận họ ra sao? Nhưng nếu như phải chết, thì tôi chắc chắn rằng bà sẽ đợi cho cha tôi chết trước. Đã hơn mười hai năm rồi. Tôi vẫn luôn nghĩ hồi đó tôi có thể giúp gì cho mẹ tôi không, nói mẹ về sống bên tôi? Ngày xưa, tôi mơ ước khi lấy chồng sẽ được hạnh phúc, xa hẳn căn bệnh của cha tôi và sự buồn thảm của mẹ tôi. Không ngờ tôi lại phải sống như một kẻ ăn xin trong gia đình nhà chồng. Nhưng dần dần, tôi thấy tôi cũng được chồng tôi đền bù phần nào. Bạch Huệ, chị thấy không, có những điều mà chúng ta không được dạy dỗ từ bé về đời sống hôn nhân. Đó là chúng ta có bổn phận phải làm cho chồng hạnh phúc và ngược lại, chúng ta cũng chia sẻ cái hạnh phúc đó, phải không? Thế cũng là đủ rồi.

          Tuyết Hoa làm cho tôi nghĩ tới những bà già đang nhồi sọ con gái trước khi về nhà chồng bằng những luận điệu đó.

          - Chị không cần phải nói dối tôi, - tôi nói. Chúng ta là chị em kết nghĩa. Chị có thể tin tưởng nơi tôi.

          Tuyết Hoa không nhìn mây trôi nữa, mà nhìn thẳng vào mắt tôi. Trong khoảnh khắc, ánh mắt cô nhìn tôi như thể là không nhận ra tôi nữa.

          - Bạch Huệ, - cô nói bằng giọng đầy buồn rầu và thương cảm. Chị có tất cả những gì mà người khác phải mơ ước, nhưng cũng giống như chị chẳng có gì cả.

          Câu nói đó làm tôi đau nhói, nhưng không để tôi kịp phản ứng, Tuyết Hoa nói tiếp:

          - Tôi và chồng tôi chỉ cố gắng làm sao cho có được thật nhiều con trai, nhưng chị thấy đó, tôi lại chỉ sanh toàn con gái…

          Tôi giải thích:

          - Chúng nó không có duyên số để sống còn. Chị phải cám ơn trời, nhờ đó chị bớt đi bao nhiêu phiền muộn. Chỉ có một điều mà đàn bà chúng ta có thể làm được, là làm lại, cố gắng không ngừng…

          - Ah! Bạch Huệ… khi chị nói thế thì tâm hồn tôi thanh thản rồi. Tôi chỉ còn nghe tiếng gió thoảng qua cành lá. Chị có cảm thấy đất lành đang nứt ra dưới chân tôi? Trở lại hiện tại đi, hãy cho tôi đi gặp mẹ tôi…

          Đã bao nhiêu năm trôi qua kể từ ngày Tuyết Hoa mất đứa con gái đầu tiên. Lúc ấy tôi không hiểu được sự nuối tiếc của cô. Nhưng giờ đây, tôi nhìn sự việc một cách khác. Dù là con trai hay con gái, chúng tôi đều thương yêu con mình. Có những người đàn bà góa chồng đã tuẫn tiết để giữ thể diện trước gia đình nhà chồng, thì tại sao lại không thể có những người cũng cực đoan như thế sau khi mất đi nhiều đứa con?

          - Ngày nào tôi cũng nghĩ đến điều đó, - Tuyết Hoa vừa nói, vừa nhìn xuống triền dốc sâu thẳm hun hút trải dài xuống vực thẳm dưới chân. Và mỗi lần như thế, tôi lại nghĩ đến thím của chị. Bạch Huệ ạ, thím chị đã chịu đựng biết bao là đau khổ khi mất đi Diễm Nguyệt, lúc ấy, có ai nghĩ đến sự bất hạnh của thím không?

          Tôi trả lời bằng tất cả lòng thành:

          - Thím tôi đã cực kỳ đau khổ và chịu đựng. Nhưng tôi nghĩ rằng tất cả mọi người đều nâng đỡ tinh thần cho thím trong lúc đó.

          - Chị có nhớ Diễm Nguyệt dễ thương đến thế nào không? Cô ta thật là khiêm tốn và ý tứ, ngay cả lúc cận kề cái chết. Chị có nhớ lúc thím chị trở về, ngã gục trên xác con?... Chúng ta e sợ tất cả mọi phản ứng của thím, chúng ta đã dùng vải the che mặt của Diễm Nguyệt lại, thím không được nhìn mặt con lần cuối. Tại sao chúng ta lại làm một việc tàn ác, khắt khe như thế chứ?

          Tôi định trả lời rằng Diễm Nguyệt chết trong tình trạng bất thường, tốt hơn là không nên để thím tôi đau lòng khi nhìn mặt con, nhưng tôi muốn đổi đề tài để Tuyết Hoa nguôi ngoai nỗi buồn của chính cô:

          - Chúng ta sẽ về thăm thím khi có dịp. Tôi chắc chắn thím sẽ sung sướng lắm khi gặp lại chúng ta.

          - Chị thì có thể, còn tôi thì chưa chắc. Tuyết Hoa trả lời. Tôi còn nhớ rõ sự bất hạnh của thím… Tóm lại, cứ nghĩ đến thím của chị là tôi lại tự nhủ là mình phải biết chịu đựng số phận.

          Tuyết Hoa nhìn xuống dưới thung lũng chìm trong sương mờ:

          - Chúng ta nên về thôi. Chị có vẻ lạnh rồi. Hơn nữa, tôi muốn chị giúp tôi viết vài điều.

          Cô lục trong áo, lôi ra chiếc quạt của chúng tôi, và nói:

          - Tôi mang nó theo, tôi sợ là bọn phản loạn đốt cháy nhà, và tất cả sẽ ra tro.

          Cô nhìn thẳng vào mắt tôi, thở dài và nghiêng đầu nói:

          - Tôi đã thề không bao giờ nói dối chị nữa. Sự thật, tôi đã nghĩ rằng chúng ta sẽ chết trên đường leo núi tị nạn. Và tôi muốn chết với chiếc quạt của chúng ta bên mình.

          Tôi sững sờ với ý nghĩ đó của Tuyết Hoa. Tôi kéo tay cô:

          - Chúng ta lùi lại đi. Tôi đang nổi da gà khi thấy chị đứng gần mép vực thẳm quá.

          Chúng tôi trở về trại. Để mài mực, chúng tôi rút hai cây củi đang cháy dở, dập tắt và để nguội, rồi mài than vào nước, và đun sôi với vài nhánh rễ cây. Tuy không được đen cho lắm nhưng cũng tạm được. Chúng tôi rút một nhánh tre từ một chiếc giỏ, vót thật mảnh để làm bút. Rồi hai đứa tôi thay phiên nhau viết lại cuộc hành trình tị nạn, đến lúc Tuyết Hoa xảy thai, những đêm giá lạnh trong rừng sâu, sự ấm áp của tình bạn. Viết xong, Tuyết Hoa gấp quạt lại và cất vào trong áo.

          Đêm ấy, anh hàng thịt không đánh đập Tuyết Hoa nữa mà trái lại, đòi âu yếm cô. Một lúc sau, Tuyết Hoa trở lại bên tôi, đặt tay lên má tôi như ngày bé. Tôi thấy cô mệt mỏi, kiệt sức sau bao nhiêu bão táp dập dồn. Trước khi say ngủ, Tuyết Hoa thì thầm bên tai tôi:

          - Chị thấy không, mọi việc sẽ tốt đẹp hơn. Anh ta đã thay đổi thái độ rồi.

          - Đúng, - tôi trả lời. Cho đến lúc cơn thịnh nộ của anh ta lại nổi lên với người đàn bà dịu dàng mà tôi thương nhất, đang nằm bên tôi.

************

        Hôm sau, tin tức lan truyền thật nhanh, quân phản loạn đã bị tiêu diệt và chúng tôi có thể trở về! Suốt ba tháng trời trong rừng thẳm, chúng tôi tưởng là đã thấy hết những sự đau khổ, kinh hãi tột cùng rồi. Nhưng chưa! Trên đường về, chúng tôi  bước qua những xác chết mà chúng tôi đã phải bỏ lại sau lưng lúc trước, giờ đây đang tan rã như xác những con thú vật bị bỏ rơi. Từng mảnh sọ trắng lấp lánh dưới ánh mặt trời, nhưng nhờ quần áo, thân nhân họ vẫn có thể nhận ra, và những tiếng thét nát lòng vẫn không ngừng vang lên lồng lộng qua đồi núi.

        Thêm vào đó, người người đều đói lả, lại hàng loạt nạn nhân nằm xuống ngay trong lúc sắp sửa được trở về nhà. Nhất là đàn bà thật thê thảm khi xuống núi. Chập choạng đi thật nguy hiểm trên đôi chân bé xíu, ngay sát bên bờ vực. Lần này, không phải chúng tôi chỉ nghe những tiếng hú hãi hùng, mà ánh sáng của ban ngày còn cho chúng tôi thấy những cánh tay quơ quào tuyệt vọng trên không trước khi cả thân thể họ quo quắp giẫy giụa trên không. Đêm qua, tôi còn lo lắng cho Tuyết Hoa đến thế nào, nhưng giờ này, cô lại trầm tĩnh hơn cả. Đôi mắt chăm chăm, cô cẩn thận dò dẫm từng bước, tiến về phía trước.

        Chồng Tuyết Hoa cõng bà mẹ trên lưng. Có lúc, Tuyết Hoa ngừng lại, đăm chiêu ngắm nhìn người đàn bà đang gói ghém cái xác nát rữa của đứa con vào bọc, chắc hẳn là để mang về chôn cất tử tế. Thấy thế, chồng Tuyết Hoa ngừng lại, đặt bà mẹ xuống, nắm vai Tuyết Hoa:

        - Không nên ngừng lại, - anh ta nói một cách trìu mến. Chúng ta sắp đến chỗ mà chúng ta đã bỏ lại chiếc xe kéo. Em sắp được nghỉ ngơi suốt quãng đường còn lại rồi.

        Thấy Tuyết Hoa vẫn không rời ánh mắt nhìn người đàn bà, anh ta lại nói:

        - Mùa xuân, anh sẽ trở lại và đem xác con về chôn gần chúng ta, anh hứa.

        Tuyết Hoa đành quay đi, không nhìn người đàn bà bất hạnh đó nữa.

        Chiếc xe kéo mà chúng tôi bỏ lại đã không còn đó nữa, cũng như những vật dụng khác bị vất lại cách đây ba tháng trước. Chắc là bọn phản loạn hoặc quân đội của Hà Nam đã lấy đi hết. Nhưng đường xá đã bằng phẳng hơn, chúng tôi như mọc cánh, quên cả đau đớn, đói khát thiếu thốn, khi nghĩ đến việc sắp được trở về nhà.

        La Tân đang hiện ra trước mắt. Tôi đỡ bà mẹ chồng Tuyết Hoa vào nhà, rồi trở ra ngay: tôi chỉ muốn về nhà tôi. Tôi đã đi bộ suốt bao ngày qua, có nghĩa lý gì khi phải đi thêm mấy dặm đường để về Cự Tống chứ? Nhưng chồng của Tuyết Hoa cản tôi lại. Anh ta muốn sang Cự Tống báo tin cho chồng tôi sang đón tôi về.

        Ngay khi anh ta cất bước, Tuyết Hoa kéo tay tôi:

        - Vào nhà đi, - cô vừa nói vừa đẩy tôi vào nhà, chúng ta không còn nhiều thời gian bên nhau.

        Lên đến trên lầu, Tuyết Hoa bảo tôi:

        - Ngày xưa, chị đã bỏ biết bao công sức để giúp tôi may vá, làm chiếc rương cưới này. Bây giờ tôi có dịp trả lại một phần món nợ ân tình đó.

        Tuyết Hoa mở rương, lấy ra một bộ quần áo màu xanh dương xậm, vạt trước được viền bằng lụa xanh da  trời có những áng mây. Vải áo xanh nhạt này, tôi nhớ rất rõ, lấy từ bộ quần áo mà Tuyết Hoa mặc lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau. Cô đưa cho tôi:

        - Tôi sẽ hãnh diện lắm, nếu chị mặc bộ quần áo này để đoàn tụ với chồng của chị.

        Tôi nhìn cái vẻ thương hại của Tuyết Hoa mà không biết phải làm sao. Suốt ba tháng trời, tôi mặc bộ quần áo lụa màu xanh nhạt, giờ đây đã rách tả tơi, bẩn thỉu. Bây giờ nhìn vào gương, sau khi tắm rửa bằng nước nóng xong, tôi mới thấy sự tai hại của những tháng ngày dầm mình trong tuyết, trong bùn đất của núi rừng, chưa kể đến sự gay gắt của mặt trời, ở cao độ mà chúng tôi đã trải qua.

        Sau khi tắm gội nhanh chóng, Tuyết Hoa giúp tôi chải tóc vội vàng, và búi một củ hành sau gáy. Đúng lúc Tuyết Hoa đang giúp tôi mặc bộ đồ mà cô vừa đưa cho tôi, thì nghe tiếng chân lừa và tiếng xe kéo lọc cọc tiến đến gần. Tuyết Hoa cài áo thật nhanh cho tôi. Bàn tay đặt trên mảnh lụa xanh nhạt trước ngực áo, tay kia xoa má tôi, Tuyết Hoa thì thầm:

        - Chị thật đẹp, Bạch Huệ!

        Trước mặt tôi, là người đàn bà mà tôi yêu thương nhất trên đời. Tôi biết là mảnh lụa xanh nhạt này đã gợi lại cho Tuyết Hoa bao kỷ niệm thương tâm cũng như êm đềm suốt thời thơ ấu. Bộ đồ lụa được mẹ cô lấy từ chiếc rương cưới của bà để may thành áo cho cô đi gặp tôi trong ngày kết nghĩa, được dùng lại để may vá thành những quần áo để vào rương cưới của cô, giờ Tuyết Hoa trao lại cho tôi giữ gìn tất cả kỷ niệm thiếu thời đó, tâm tư ấy tôi làm sao đền đáp?

        Nhưng tôi vẫn còn bận tâm về chuyện mà Tuyết Hoa nói với tôi trước khi chúng tôi xuống núi, rằng tôi thương hại cho cô! Tôi thấy tôi cần phải làm sáng tỏ điều này.

        - Tuyết Hoa! Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng…

        Tôi không sao tìm được lời để nói…

        - … rằng chị thấp kém hơn tôi!

        Tuyết Hoa cười. Tôi nghe tim tôi đập mạnh dưới bàn tay cô vẫn còn để trên mảnh vải xanh nhạt viền trước ngực áo.

        - Chị không bao giờ nói dối tôi. Tuyết Hoa rạng rỡ.

        Tôi chưa kịp trả lời Tuyết Hoa thì nghe tiếng chồng tôi gọi:

        - Bạch Huệ, Bạch Huệ!

        Tôi chạy nhanh xuống cầu thang và hối hả ra ngoài. Vừa nhìn thấy chồng tôi, tôi quỳ gối xuống đất và nghiêng mình vào chân của anh, thật xấu hổ vì hình ảnh tiều tụy của chính tôi. Anh đỡ tôi đứng dậy, ôm trong tay:

        - Bạch Huệ…

        Anh không ngừng gọi tên tôi, hôn tới tấp lên mặt tôi, không cần để ý đến những người chung quanh.

        - Dạ Lang….

        Lần đầu tiên từ ngày cưới nhau, tôi đã gọi tên của anh. Anh ôm vai tôi, lùi lại vài bước để nhìn kỹ tôi hơn, đôi mắt anh long lanh ngấn lệ, ôm tôi thật chặt.

        - Anh đã phải lo di tản dân làng ra khỏi Cự Tống. Anh giải thích. Sau đó lại phải bảo đảm sự an toàn cho mọi người trong gia đình và các con.      

        Sau đó, tôi được biết là chuyến di tản ấy, dưới sự hướng dẫn của chồng tôi, đã khiến anh trở thành một vị trưởng làng thực thụ, được dân làng kính ngưỡng và thán phục.

        Cả thân hình anh run rẩy khi anh nói thêm:

        - Anh không ngừng đi tìm kiếm em…

        Phụ nữ chúng tôi thường nói: "tôi không có tình cảm với chồng tôi", hay là "chồng tôi không có nghĩa lý gì đối với tôi cả", đó là những điệp khúc thật thông thường. Thế nhưng hôm ấy, chúng tôi: tôi và chồng tôi, đều biểu lộ những tình cảm chân thành nhất.

        Những giây phút cuối của tôi ở La Tân bị lẫn lộn trong trí óc tôi. Chồng tôi đã tặng cho chồng của Tuyết Hoa một số tiền hậu hỹ. Tuyết Hoa ôm lấy tôi, và định trao chiếc quạt cho tôi cất giữ, nhưng tôi lại muốn Tuyết Hoa giữ lấy chiếc quạt: nỗi đau của cô còn chưa mờ nhạt, trong khi tôi thì được đắm chìm trong hạnh phúc.

        Tôi chào con trai lớn của Tuyết Hoa, và hứa sẽ gửi sách vở để cháu học Hoa ngữ. Cuối cùng, tôi cúi xuống hôn con gái của Tuyết Hoa, nói với cháu là chúng tôi sẽ gặp lại nhau sớm. Rồi tôi lên xe và chồng tôi bắt đầu đẩy. Tôi vẫy tay chào Tuyết Hoa trước khi quay đi. Chiếc xe từ từ tiến về Cự Tống, nơi đó là nhà tôi, là gia đình tôi.

 

Chương 17 – Bài ca đoạn tuyệt

 

          Khắp trong vùng, người ta đang lo việc tái thiết. Những người còn sống sót đã trải qua biết bao nhiêu là biến cố trong năm ấy, nào là bệnh dịch, nào là đói khát, những rối loạn và chết chóc do bọn phản nghịch gây nên. Người người đều sa sút tinh thần hay mất mát vật chất, nhưng cũng được an ủi là mình còn sống sót. Chúng tôi dần dần trở lại bình thường, đàn ông ra đồng áng, con trai lo học hành trở lại, đàn bà con gái lại thu mình trong phòng. Chúng tôi lại nghĩ đến tương lai. Suốt thời gian qua, tôi đã sống với thế giới bên ngoài, thế giới của đàn ông, nhưng từ nay tôi thề sẽ không bao giờ phiêu lưu nữa. Trời sinh ra tôi để sống trong phòng, bên cạnh những người đàn bà khác trong nhà. Tôi thật vui sướng được gặp lại các cô em dâu của tôi, cùng bên nhau những buổi chiều để thêu thùa, uống trà hay ê a hát những bài Nữ tự. Nhưng cũng chưa bằng nỗi vui khi tôi được gặp lại các con tôi. Ba tháng trời vừa qua dài như một thế kỷ, đối với tôi cũng như đối với các con tôi. Chúng đã thay đổi nhiều suốt thời kỳ xa cách. Con trai lớn của tôi đã mười hai tuổi. Trong suốt quãng ngày giao động ấy, dưới sự bảo vệ của quân đội triều đình, con trai tôi đã chăm chú học hành. Thời ấy, hệ thống giáo dục đã được thống nhất, mọi thư sinh dù là ở nơi nào, cũng được học cùng một bài vở, chương trình như nhau. Cho dù ở xa kinh đô, hay ở những vùng hẻo lánh như làng chúng tôi, quan lại địa phương, những người đã xuất thân khoa bảng, đã giúp đỡ dân chúng hiểu rõ hơn sự liên hệ giữa người dân và triều đình. Nếu con trai tôi cứ học hành theo cái đà đó, thì chắc chắn một ngày kia nó sẽ có cơ hội ứng thí.

          Năm ấy, tôi có dịp gặp Tuyết Hoa nhiều hơn bao giờ hết. Chồng tôi cũng như chồng của Tuyết Hoa không hề ngăn cản chúng tôi, mặc dù bọn phản loạn vẫn còn quấy nhiễu ở những vùng khác trong nước. Sau tất cả những biến cố đã xảy ra, chồng tôi đã tin tưởng rằng tôi sẽ được bảo vệ an toàn bởi gia đình Tuyết Hoa. Chồng của Tuyết Hoa cũng khuyến khích cô đến thăm tôi thường xuyên hơn, vì biết rằng khi cô trở về thế nào cũng có quà cáp, hay tiền nong rủng rỉnh. Những lần thăm viếng như vậy, chúng tôi đều được bên nhau cả ngày lẫn đêm với sự nhân nhượng của hai ông chồng. Chồng của Tuyết Hoa cuối cùng đã phải chấp nhận cái thông lệ ấy của chúng tôi, vì theo gương của chồng tôi. Câu nói của mẹ chồng tôi lúc trước lại vang trong óc tôi: "Vâng lời, con hãy vâng lời, rồi sau này con muốn làm gì thì làm".

          Chúng tôi vẫn trở lại Phủ Quỳ vào những dịp lễ tết như xưa. Tuyết Hoa vui lắm, vì những dịp đó được gặp lại chú thím tôi. Thím tôi được tất cả các cháu coi như là “bà ngoại”. Chú tôi cũng trở nên có địa vị hơn trong gia đình sau ngày cha mẹ tôi cùng mất đi vì trận dịch năm ngoái. Anh cả tôi thường phải hỏi ý kiến của chú trong những việc quan trọng, và chú lúc nào cũng tận tình góp ý. Cuộc sống trong gia đình hạnh phúc hơn bao giờ hết.

          Năm ấy, vào dịp lễ Cầu Tự, chúng tôi lại cùng nhau đi thăm đền, cúng bái và dâng lễ vật tạ ơn Trời đã cho chúng tôi sống còn sau mùa đông kinh hoàng ấy. Rồi tay trong tay, chúng tôi vẫn không quên ghé thăm gian hàng bánh khoai rán như thường lệ, vừa ăn, vừa bàn tính chuyện kết nghĩa của hai đứa con gái của chúng tôi, cũng như cách thức bó chân cho hai đứa nhỏ, làm sao để chúng phải có đôi gót sen thật toàn hảo. Lúc trở về nhà, chúng tôi sửa soạn những giải lụa dài, mua thuốc men cần thiết, thêu những đôi hài bé tí tì ti, để đem đến đặt dưới chân Thánh nữ ở đền Cầu tự. Chúng tôi làm những viên gạo nếp và bánh đậu đỏ cho con gái ăn hy vọng làm xương chân mềm ra. Chúng tôi bàn chuyện với bà mai Quảng về việc hứa kết nghĩa của hai đứa con gái. Lần đó gặp nhau, tôi và Tuyết Hoa không ngừng trêu chọc bà dì của Tuyết Hoa: bà không thay đổi, vẫn cái giọng nói ngọt sớt mưu mẹo ấy, và khuôn mặt đầy phấn son.

          Bây giờ nghĩ lại, tôi vẫn còn luyến tiếc mùa xuân hạnh phúc ấy. Tôi có gia đình và người chị em kết nghĩa bên cạnh tôi, và chỉ biết vui nhìn về tương lai. Nhưng Tuyết Hoa thì khác, cô vẫn không sao lấy lại được cân lượng đã mất. Cô thật khảnh ăn: vài thìa cơm với vài cọng rau xào, và chỉ uống trà. Nước da cô vẫn tái xanh, và khuôn mặt vẫn hốc hác. Khi trở lại Cự Tống, tôi khuyên Tuyết Hoa nên đi gặp lại các bạn bè cũ, nhưng cô khéo léo từ chối, viện cớ các bà bạn ấy chửa chắc đã mong muốn gặp lại cô, hay là có thể đã quên cô rồi. Cuối cùng, tôi cũng thuyết phục được Tuyết Hoa đến dự lễ chuẩn bị Vu Quy vào năm tới của một đứa cháu gái bên chồng của tôi.

          Buổi chiều, Tuyết Hoa ngồi cạnh tôi trong lúc tôi thêu thùa. Đôi mắt cô nhìn xa xăm bên ngoài khung cửa, y như ánh mắt hôm nào cô nhìn đăm đăm xuống con vực thẳm. Có một điều gì đang tan vỡ trong hồn cô, sau lần bị giam trong rừng sâu. Tôi thấy Tuyết Hoa buồn lắm, nhưng tôi cố không chấp nhận sự thật ấy. Chồng tôi đã nhiều lần cảnh giác tôi:

          - Em thật can đảm và mạnh mẽ, - chồng tôi bảo tôi sau khi Tuyết Hoa vừa rời nhà chúng tôi để về La Tân. Em đã vượt qua được những khốn khó của mùa đông năm ngoái và anh càng ngày càng hãnh diện vì em, khi thấy em lo lắng chu đáo cho gia đình. Em đã là một tấm gương cho tất cả đàn bà trong làng. Nhưng, anh xin em đừng giận anh nói thẳng, em đã mù quáng với người chị em kết nghĩa của em. Cô ta không phải là “bạn lòng” của em, còn khuya! Có thể cái thảm kịch mùa đông năm trước còn quá nặng nề đối với cô ấy. Anh không biết nhiều về cô ấy, nhưng em cần biết là cô ấy đang làm mặt vui thôi, trong một hoàn cảnh sống không lấy gì đáng ao ước. Có lẽ phải cần nhiều năm nữa em mới nhận ra điều ấy, nhưng em phải hiểu, không phải người đàn ông nào cũng như chồng của em.

          Cái bài đít cua của chồng tôi làm tôi ngỡ ngàng, rối loạn kinh khủng. Không, không đúng, tôi bực mình vì anh đã xâm phạm vào thế giới riêng tư của đàn bà chúng tôi. Tôi không cãi lại, nhưng trong thâm tâm, tôi muốn chứng tỏ là anh đã lầm. Lần sau, khi gặp Tuyết Hoa, tôi đã quan sát cô thật kỹ, và chăm chú nghe Tuyết Hoa nói. Cuộc sống của Tuyết Hoa thật sự xuống dốc. Mẹ chồng cô càng ngày càng khe khắt và càng giảm phần ăn của cô xuống.

          - Tôi chỉ uống nước cháo thôi, nhưng tôi không cần, vì lúc này tôi không thấy đói lắm.

          Tệ hơn nữa, là anh hàng thịt lại tiếp tục đánh đập Tuyết Hoa.

          - Chị đã nói với tôi rằng chuyện ấy không thể xảy ra nữa cơ mà? - tôi cố không tin những gì chồng tôi nói là đúng.

          - Nếu anh ta đánh tôi, chị bảo tôi làm gì được? Tôi đâu thể đánh lại.

          - Thế tại sao chị không nói với tôi?

          Tuyết Hoa trả lời bằng một câu hỏi khác:

          - Tại sao tôi phải bận tâm về những chuyện mà tôi biết sẽ không làm gì hơn được?

          - Chúng ta phải biết tự thay đổi số mạng của chúng ta, - tôi nói. Cần nhất là chúng ta phải muốn thay đổi. Tôi đã thay đổi cuộc sống của tôi. Chị cũng phải làm được.

          Tuyết Hoa lại nhìn tôi một cách nghi ngờ. Tôi hỏi:

          - Chuyện ấy có xảy ra thường xuyên không?

          Tôi cố bình tĩnh, nhưng đang giận điên người khi thấy chồng của Tuyết Hoa lại chứng nào tật nấy, trong khi cô chấp nhận một cách thụ động. Tôi cũng thấy bị thương tổn, khi thấy Tuyết Hoa có vẻ không tin tưởng nơi tôi.

          - Cái lần tị nạn trên núi đã làm chồng tôi thay đổi hoàn toàn, - Tuyết Hoa nói. Anh ta gây tổn hại cho tất cả chúng tôi. Chị không nhận ra điều đó sao?

          - Chuyện đó có xảy ra thường không? – Tôi hỏi lại lần nữa.

          - Tôi thật thất vọng về chồng tôi, về mọi mặt…

          Nói một cách khác, chuyện mà anh ta đánh đập Tuyết Hoa chắc chắn đã xảy ra thường xuyên mà cô không muốn nói với tôi. Tôi bảo:

          - Tôi muốn chị sang đây sống với tôi.

          - Bỏ nhà ra đi là một chuyện xấu xa nhất của một người đàn bà. Chị cũng như tôi đều biết rõ mà.

          Đúng thế. Đó là một lỗi lầm thậm chí khiến người chồng có thể đích tay giết vợ mình.

          - Hơn nữa, tôi không bao giờ bỏ rơi các con tôi. Con trai tôi cần sự che chở của tôi.

          - Với cái giá mà chị phải trả bằng sự nhẫn nhịn, chịu đựng của chị?

          Tuyết Hoa có thể trả lời sao với câu hỏi đó?

          Bây giờ, ở tuổi tám mươi, khi tỉnh táo nghĩ lại chuyện xưa, tôi thấy tôi đã nổi giận một cách quá đáng với cái sự thụ động, xuôi theo số mạng của Tuyết Hoa. Khi xưa, tôi thiển cận, cứ bo bo giữ lấy những lề lối trói buộc người đàn bà. Bây giờ, tôi nghĩ lại, giá mà Tuyết Hoa biết dùng số mạng con Ngựa của cô để làm thay đổi tuổi con Gà của chồng cô thì sự thể có lẽ sẽ khác đi nhiều. Bên cạnh cô, chỉ có một đứa con gái bị coi thường trong xã hội của chúng tôi, và một đứa con trai không được yêu mến. Lẽ ra, cô phải có thai càng sớm càng tốt. Muốn thế, phải cầu Trời, phải ăn uống đúng mức, phải đi khám thầy lang để hốt những thang thuốc tốt nhất. Nếu cô mang lại được cho chồng cô những gì anh ta mong muốn, là đứa con trai khỏe mạnh, bụ bẫm, thì chắc chắn anh ta sẽ thay đổi cách cư xử với cô. Nhưng sự thật đã không như thế...

          Đến ngày rằm tháng bảy, cúng Cô hồn, tôi đã nhồi sọ Tuyết Hoa bằng một lô những câu hỏi, nói cho đúng hơn là những lời khuyên, mà tôi nghĩ là cô phải hiểu. Tại sao cô không cố gắng làm một người vợ tốt hơn? Tại sao cô không chịu thỏa mãn chồng cô? Tại sao không bẹo vào má cho da thịt hồng hào hơn? Tại sao không ăn uống cho đầy đủ? Tại sao không tìm cách lại gần với mẹ chồng hơn, may vá, ca hát với bà ta, làm giảm sự xa cách giữa mẹ chồng nàng dâu? Tôi nghĩ rằng tôi đã khuyên Tuyết Hoa những lời khuyên thực tiễn nhất, mà không nghĩ đến những bận tâm của Tuyết Hoa. Nhưng tôi, tôi là Lữ phu nhân và tôi tin rằng tôi có lý!

          Nếu Tuyết Hoa thực sự thương yêu tôi, tại sao cô không theo gương tôi: giữ đúng qui luật ràng buộc phụ nữ, để thay đổi hiện trạng của cô?

          Với một lô những câu hỏi của tôi, Tuyết Hoa chỉ im lặng ngấm ngầm đồng ý, hay chỉ thở dài. Phản ứng của cô làm tôi khó chịu vô cùng. Tôi lại tiếp tục bài đít cua của tôi cho đến lúc Tuyết Hoa buông tay đầu hàng, hứa là sẽ tuân theo lời khuyên của tôi. Nhưng cô đã không làm theo lời hứa!

          Lần sau nữa, cơn giận của tôi càng lúc càng tăng. Tôi không hiểu cái ý chí hung hăng thời niên thiếu của con Ngựa trong con người Tuyết Hoa thời niên thiếu đi đâu mất tiêu rồi? Sao bây giờ lại tiêu tan ra mây khói? Tôi thật ngu xuẩn khi tin tưởng rằng sẽ đem được một con Ngựa què quặt trở về lối chính.

          Cuộc sống của tôi thực sự thay đổi vào mùa Trung thu năm ấy, năm thứ sáu đời vua Hàm Phong. Đã đến tết Trung thu rồi. Chỉ còn vài hôm thôi, là tôi và Tuyết Hoa bắt đầu băng chân cho con gái của chúng tôi. Chúng tôi hẹn nhau rằng Tuyết Hoa cùng các con sẽ sang ở với tôi trong dịp tết Trung thu ấy. Tuy nhiên, đến ngày hẹn, không phải là Tuyết Hoa và các con đến, mà là cô Liên, một trong những người đàn bà đã cùng chung sống với chúng tôi vào mùa đông năm ngoái trong rừng thẳm, đến gõ cửa. Tôi mời cô lên lầu uống trà, nhưng cô khéo léo từ chối:

          - Cám ơn chị, nhưng tôi phải về Cự Tống để thăm gia đình.

          - Vâng, gia đình nào cũng sung sướng khi gặp lại người con gái phải đi lấy chồng xa. Tôi lịch sự nói vậy. Tôi chắc chắn gia đình chị sẽ rất vui khi gặp lại chị.

          - Và tôi cũng thế, - cô Liên vừa nói, vừa đặt tay vào chiếc giỏ đựng đầy bánh trung thu cô đang cầm trên tay, nói tiếp: cô bạn Tuyết Hoa của tôi giao cho tôi đem biếu chị.

          Cô trao cho tôi một gói thuôn dài, bọc trong tấm lụa màu xanh lục mà tôi vừa tặng Tuyết Hoa không lâu. Sau khi trao cho tôi, cô Liên chúc tôi phát tài, rồi quay gót, thoáng đã khuất bóng nơi góc đường.

          Nhìn hình dáng gói quà, tôi biết ngay cái gì trong đó. Nhưng tôi không hiểu vì lý do gì mà Tuyết Hoa không đến, mà lại gửi chiếc quạt đến cho tôi? Tôi cất chiếc quạt lên lầu, chờ cho các cô em dâu ra khỏi nhà để đem bánh trung thu đi biếu làng xóm. Tôi tống con gái của tôi đi theo họ, để nó được hưởng ít ngày tự do đi đứng trước khi bị băng chân. Khi mọi người đi hết rồi, tôi đến ngồi bên cửa sổ. Ánh trăng mờ mờ chiếu qua chấn song, in lên chiếc bàn làm việc của tôi những hình bóng trông như những cành cây mảnh mai. Tôi mân mê cái gói mà cô Liên vừa trao cho tôi. Tại sao tôi lại chần chừ đến thế? Cuối cùng, tôi quyết định tháo lần vải lụa, mở từng nếp quạt ra. Ngay sau những giòng mà chúng tôi viết bằng mực than trước khi rời hang núi, tôi nhận ra một hàng chữ mới:

          "Tôi thật là phiền muộn, Tuyết Hoa viết với nét chữ bay bướm của cô như thường lệ, nét chữ đẹp hơn hẳn nét chữ của tôi, tôi không thể nào trở thành một người như chị mong muốn. Từ rày về sau, chị không cần phải chịu đựng những lời than thở của tôi nữa. Ba người chị em nuôi hứa sẽ thương yêu tôi, cái tôi hiện nay. Viết cho tôi đi Bạch Huệ! Không phải để an ủi tôi nữa, mà để nhắc cho tôi những ngày hạnh phúc ấu thơ mà chúng ta đã sống bên nhau suốt thời thơ dại. " Lá thư của Tuyết Hoa ngừng ở đó.

          Tôi có cảm giác ai đó đang cầm thanh gươm đâm vào người tôi. Thương yêu? Tuyết Hoa có thật sự muốn nói là cô được mấy người chị em nuôi đó thương yêu, viết trong chiếc quạt của riêng chúng tôi, của tôi và cô? Vẫn dưới sự choáng váng đó, tôi đọc lại hàng chữ Ba chị em nuôi hứa sẽ thương yêu tôi. Tại sao lại như thế chứ? Tôi và Tuyết Hoa là hai chị em kết nghĩa, tình nghĩa đó còn sâu đậm hơn cả tình vợ chồng, đủ sâu đậm để chịu thử thách của thời gian, của sự xa cách. Chúng tôi đã từng tuyên thệ trung thành với nhau, chỉ có cái chết mới chia rẽ được chúng tôi. Cái chuyện mà Tuyết Hoa từ bỏ lời thề đó để kết nối liên hệ với những người chị em nuôi đó, đã phản lại lời giao ước của chúng tôi. Thậm chí, có thể nói là không còn giữ tình bạn với nhau nữa. Dưới mắt tôi, những gì Tuyết Hoa viết còn tệ hơn một ngàn lần nếu như chồng tôi tuyên bố sẽ cưới một bà thiếp! Hơn nữa, sau ngày về làm dâu nhà họ Lữ, mẹ chồng tôi đã khuyến khích tôi lập một nhóm chị em nuôi, nhưng tôi đã không tuân lời bà, chỉ vì muốn chung thủy với Tuyết Hoa. Vậy mà bây giờ, chính cô lại phản tôi? Có thể nói rằng người đàn bà mà tim tôi dành trọn tình thương mến, đã không còn để ý đến cảm giác của tôi nữa, đã không nhìn tôi bằng ánh mắt như xưa nữa.

          Tôi đoán rằng ba người chị em nuôi mà Tuyết Hoa đề cập đến trong thư là ba người đàn bà mà chúng tôi đã gặp trên núi. Tôi hồi tưởng lại mùa đông năm ngoái. Có phải ba người đàn bà đó đã đồng mưu ly gián tôi với Tuyết Hoa ngay từ đầu? Có phải Tuyết Hoa đã bị lôi cuốn bởi ba người họ, như một ông chồng bị tình nhân quyến rũ, vì trẻ hơn, đẹp hơn, ân cần hơn bà vợ trung thành? Chiếc giường ấm áp hơn, thân thể săn chắc hơn, câu chuyện đậm đà ròn rã hơn? Và khi Tuyết Hoa nhìn họ, có thể cô không đọc được một sự chờ đợi, một sự đòi hỏi nào trong ánh mắt của họ…

          Không có gì làm tôi đau khổ hơn sự đau khổ mà Tuyết Hoa vừa mang đến cho tôi. Nó đau khổ hơn tất cả những đau khổ mà tôi đã trải qua suốt thời thơ ấu. Nhưng đột nhiên, tôi thay đổi hẳn thái độ. Tôi không thể phản ứng như cô bé con dạo nào đã rơi vào bẫy tình của Tuyết Hoa nữa, mà bây giờ tôi đã là Lữ phu nhân, người đàn bà đang làm chủ gia đình họ Lữ, người đang cầm cân nẩy mực trong nhà. Tôi nghĩ tôi phải đánh vào những khuyết điểm của Tuyết Hoa, còn hơn là để chính tôi bị gặm nhấm vì những xúc động làm tan nát tim tôi.

          Tình yêu của tôi dành cho Tuyết Hoa khiến tôi luôn bao dung đối với cô. Chỉ cần đánh vào những nhược điểm của Tuyết Hoa để ngày nào đó, sự phản bội và dối trá của cô sẽ phải phơi bày ra ánh sáng. Tôi nghĩ đến những điều cô đã lừa dối tôi: về gia đình cô, về cuộc sống vợ chồng của cô, ngay cả chuyện cô bị chồng đánh đập liên tục. Không phải Tuyết Hoa chỉ là một người chị em kết nghĩa bất trung, mà sự gian trá của cô khiến người khác cũng không thể làm bạn nữa. Thế vẫn chưa đủ, tôi còn moi móc những gì đã xảy ra trong những tuần lễ vừa qua. Hiển nhiên là Tuyết Hoa đã lợi dụng địa vị xã hội của tôi mà lục lọi không biết ngượng trong tủ áo hay trong vật dụng cá nhân của tôi, hay để sắp xếp cho con gái của cô có tương lai hơn bằng cách kết thân với con gái của tôi, một mặt thì vẫn coi những lời khuyên bảo, dặn dò của tôi như pha? Bỗng dưng, tôi thấy như mình đã bị lừa, và bị coi như một con khờ!

          Một sự kiện lạ lùng khác lại nảy ra trong trí tôi: hình ảnh mẹ tôi không ngớt chập chờn lảng vảng trong trí tôi. Không biết là tôi đã thèm khát tình thương của mẹ đến mức nào, khi tôi còn bé. Suốt thời gian bị băng chân, tôi những tưởng là cứ mù quáng tuân theo lời mẹ thì cuối cùng sẽ được mẹ thương. Nhưng tôi đã lầm! Trên thực tế, mẹ chưa bao giờ biểu lộ mảy may tình cảm với tôi. Ah! Biết đâu Tuyết Hoa lại chẳng như vậy? Cô ta chỉ tuân theo những ích lợi vị kỷ của cô mà thôi. Khi biết mẹ không bao giờ để ý thương tôi, phản ứng đầu tiên của tôi là nổi giận. Nhưng với thời gian, tôi trở thành lạnh nhạt, phớt tỉnh ăng lê. Để tự bảo vệ, tôi sẽ áp dụng chính sách đó với Tuyết Hoa. Không ai hiểu được sự thất vọng của tôi khi bị Tuyết Hoa bỏ rơi. Tôi phải che dấu sự đau đớn và tuyệt vọng của tôi, vì những tâm trạng đó không xứng đáng với một mệnh phụ như tôi.

          Tôi xếp chiếc quạt lại và để sang một bên. Tuyết Hoa yêu cầu tôi trả lời. Tôi lờ đi. Một tuần lễ trôi qua. Đến ngày mà chúng tôi đã định để băng chân cho hai đứa con gái của chúng tôi, tôi đã dời lại, không làm. Lại một tuần lễ khác trôi qua. Cô Liên đến nhà tôi, lần này cô mang đến cho tôi một lá thư. Cô giúp việc Tâm Can đưa cô Liên lên lầu gặp tôi. Tôi mở lá thư, nhận ra nét chữ quen thuộc, mà đối với tôi giờ đây như những nhát kiếm đâm vào tim.

         

          "Bạch Huệ,

Tại sao chị không viết cho tôi? Chị có bệnh không? Thần tài vẫn gõ cửa nhà chị chứ? Tôi đã băng chân cho con gái Xuân Nguyệt của tôi vào ngày hai mươi bốn tháng này, như chúng ta ngày xưa. Chị cũng làm thế cho Tiểu Ngọc chứ? Đứng trên cửa sổ, tôi nhìn thấy nhà chị đằng xa. Tim tôi bay bổng về chị, rộn ràng niềm vui cho hai đứa con gái của chúng ta.

Tuyết Hoa "

Tôi đọc một lèo lá thư của Tuyết Hoa, rồi đến bên ngọn đèn dầu, nhìn ngọn lửa lẹm dần tờ giấy cong queo, những giòng chữ đen kịt tan theo mây khói. Mấy ngày hôm sau, tôi cũng bắt đầu băng chân cho Tiểu Ngọc. Lại nhận được những lá thư khác, và tôi cũng đốt như thế.

          Năm nay tôi đã ba mươi ba tuổi. Nếu như tôi còn sống được thêm bảy năm nữa, như tuổi trung bình của những người đàn bà trong vùng của tôi, thì đó đã là hạnh phúc lắm rồi. Nhưng tôi không thể nào chịu đựng thêm được sự đau khổ, dằn vặt này thêm nữa, dù chỉ là một phút. Sự đau khổ của tôi thật lớn lao, nhưng tôi vẫn phải kỷ luật với chính tôi, như tôi đã từng kỷ luật để vượt qua được thử thách của thời kỳ bị băng chân, hay những chịu đựng trong những ngày lánh nạn trên núi. Tôi phải hàn gắn trái tim tôi. Mỗi khi nghĩ đến một kỷ niệm cũ, tôi nhắm mắt tự nhủ hãy dùng mực đen xóa ngay đi. Mỗi lần nhìn một vật gì gợi nhớ, tôi nhắm ngay mắt lại. Nếu là một mùi vị quen thuộc, tôi ngửi ngay một đóa hoa, hoặc là thêm ngay tỏi vào chiếc chảo dầu đang sôi. Nếu là một sự đụng chạm khơi lại kỷ niệm, như là bàn tay con gái vuốt ve tôi, hay hơi thở ấm áp của chồng tôi, hay là dòng nước mát chạy dài trên thân thể khi tôi tắm, tôi xua đuổi ngay bằng cách kỳ cọ thật mạnh trên da thịt. Tôi như một người nông dân sau vụ mùa, xua đi những cọng hoa đồng, cỏ dại bám trên áo quần. Tôi phải xóa sạch hết, chỉ có cách đó mới hàn gắn được vết thương của tôi.

          Những kỷ niệm và tình yêu của Tuyết Hoa không ngừng ám ảnh tôi, tôi đã quyết định dựng một cái chùa hoa lệ, như ngày xưa hai đứa chúng tôi đã cùng nhau dựng để xua đuổi đi vong hồn của em họ Diễm Nguyệt. Lần này, tôi phải dùng cách đó để những chuyện xưa không trở về bám víu, ám ảnh tôi nữa. Tôi lục lọi trong giỏ, trong ngăn kéo, trong tủ lấy ra tất cả những gì mà Tuyết Hoa đã tặng cho tôi suốt bao nhiêu năm qua. Bao nhiêu thư từ cũ của Tuyết Hoa, tôi lục ra hết; rồi xếp dưới chân cái chùa vừa xây xong. Tôi thảo một lá thư:

          "Ngày xưa chị hiểu lòng tôi thế nào, nay chị đã hờ hững với tôi. Tôi đốt cháy hết những gì chị viết, cho tan biến vào mây khói. Chị đã phản bội và bỏ rơi tôi, chị đã vĩnh viễn xa rời tim tôi. Tôi xin chị, hãy để cho tôi được yên"

Tôi gấp lá thư lại, luồn vào khe cửa hẹp của cái chùa hoa mỹ rồi mồi lửa. Tôi đổ thêm dầu để những mảnh vải, những chiếc khăn thêu cũng phải cháy theo.

Nhưng trời ơi! Những kỷ niệm với Tuyết Hoa vẫn cứ bám víu theo tôi không ngừng. Khi tôi bắt đầu băng chân cho con gái tôi, thì hơn bao giờ hết, tôi có cảm giác là Tuyết Hoa đang có mặt trong phòng, đang đặt tay lên vai tôi, thì thầm: "Chị cẩn thận, phải chắc chắn là các giải lụa không bị xếp thành nếp. Hãy bày tỏ tình mẹ với con gái của chị." Tôi bắt đầu hát để xua đi những lời nói đó. Có hôm buổi tối, tôi cảm thấy bàn tay Tuyết Hoa đang xoa má tôi, khiến tôi không tài nào ngủ được. Tôi đứng thẳng người dậy, nhìn thẳng vào mặt Tuyết Hoa, không ngớt lập đi lập lại: «tôi ghét chị, tôi ghét chị… Chị đã phản bội tôi, chị đã nuốt lời hứa.»

Có hai người đã giúp tôi vượt qua sự đau khổ tột cùng đó. Người đầu tiên là con gái Tiểu Ngọc của tôi, thật là xấu hổ. Người thứ nhì, đáng tiếc thay, lại là bà mai Quảng, dì của Tuyết Hoa.

Tình mẫu tử của tôi thật bao la khi tôi băng chân cho Tiểu Ngọc. Bạn không thể tưởng tượng được sự cẩn trọng của tôi đến như thế nào. Không những tôi chỉ nghĩ đến sự bất hạnh của em gái út của tôi, mà tôi còn nhớ đến những lời khuyên bảo của mẹ chồng, đã hướng dẫn cho tôi từng li từng tí, để tránh nhiễm độc hay bị biến dạng; cũng như nét mặt chịu đựng của Tiểu Ngọc trong thời gian này.

Xương chân của Tiểu Ngọc khá mềm, thế nhưng nó vẫn khóc như mưa, khiến lòng tôi đau quặn. Nhưng tôi phải nén lòng lại để bắt Tiểu Ngọc phải đi lại theo chiều ngang, chiều dọc của căn phòng; mỗi ngày mỗi siết chặt băng vải thêm, cũng như lập lại những gì mà mẹ tôi đã nói: "Có chịu đựng đau đớn thì chúng ta mới đạt được nhan sắc, có chịu đựng đau khổ thì chúng ta mới có yên bình. Hôm nay, mẹ bó chân cho con, nhưng ngày mai, con hưởng phước lộc." Tôi cũng đi tìm những bà mẹ khác cũng đang bắt đầu băng chân cho con gái họ. Tôi nói:

- Chúng ta đều cùng làng, và đều thuộc những gia đình khá giả. Các con của chúng ta có thể lập thành nhóm chị em nuôi chứ?

Kết cục, đôi chân của con gái tôi cũng không vượt quá kích thước của đôi chân tôi, chứng tỏ tôi đã hoàn toàn thành công. Nhưng trước khi biết được kết quả tốt đẹp này, thì bà Quảng ghé thăm gia đình chúng tôi, vào khoảng tháng năm âm lịch. Trong đầu tôi, lúc nào tôi cũng nhìn bà Quảng là một bà già. Nhưng hôm ấy, tôi lại nhìn bà một cách kỹ càng hơn. Nói thật, bây giờ tôi mới thấy là hồi đó bà ta trẻ hơn tôi lúc này rất nhiều. lần đầu tiên tôi gặp bà, có lẽ lúc đó bà chừng bốn mươi. Nghĩ lại, tôi cho rằng từ khi góa bụa, bà Quảng thà chết chứ không tái giá. Bà chọn con đường tự lập bằng nghề mai mối. Giờ đây, bà đã khoảng bảy mươi, không còn dấu bộ mặt thật sau lớp phấn son hay quần áo hoa hoè sặc sỡ nữa. Trông bà chỉ còn là một bà già nhăn nheo, ăn mặc chỉnh tề, nhưng tôi đã biết hết nhược điểm của bà. Bà rất thương cháu gái của bà.

- Lữ phu nhân. Lâu rồi không gặp! Bà vừa nói, vừa ngồi xuống ghế.

Thấy tôi không ngỏ ý mời trà nước, bà nhìn quanh quẩn:

- Chồng bà có nhà chứ? Bà thắc mắc.

- Lữ gia lát nữa mới về. Tôi trả lời. Nhưng tôi nói ngay để bà không mất thì giờ. Con gái tôi còn bé quá để bàn đến việc mai mối!

Bà Quảng vỗ đùi cái bép, rồi rúc rích cười. Thấy tôi không hưởng ứng, bà nghiêm nghị trở lại:

- Bà biết rất rõ đó không phải là lý do sự thăm viếng của tôi. Tôi đến để bàn việc kết nghĩa của hai đứa nhỏ. Và bà cũng biết, đó là việc nên bàn giữa đàn bà với nhau thôi.

Tôi cấu mạnh móng tay vào thành ghế đang ngồi, gây thành tiếng động, nhưng tôi vẫn không ngừng lại. Bà Quảng rút chiếc quạt trong tay áo ra, nói:

- Tôi có cái này trao cho con gái bà. Tôi có thể gặp cháu không?

- Con gái tôi ở trên lầu. Tôi nói: nhưng có thể là chồng tôi không thích cháu đọc bất cứ cái gì mà ông ta chưa được đọc qua.

- Nhưng, Lữ phu nhân! Chiếc quạt này được viết bằng Nữ tự.

- Nếu thế, thì bà đưa cho tôi!

Thấy đôi tay tôi run rẩy và ngập ngừng, bà lão nói lúng túng:

- Tuyết Hoa…

- Bà im đi!

Cái phản ứng mạnh mẽ ấy chính ra tôi không có chủ đích, nhưng tôi không muốn ai nhắc đến tên của người đàn bà ấy trước mặt tôi. Tôi lấy lại bình tĩnh nói:

- Bà đưa tôi chiếc quạt.

Bà rón rén đưa cho tôi. Trong đầu, tôi đã thủ sẵn những lời lẽ sắc bén nhất để tránh không khơi lại cho những kỷ niệm buồn bã. Tôi mở chiếc quạt cái rẹt:

"Tôi được biết có người con gái ngoan hiền, đảm đang dưới mái gia đình này…" Đó là những câu đầu tiên mà Tuyết Hoa viết cho tôi nhiều năm về trước. Tôi ngẩng mặt lên và thấy bà Quảng đang chăm chú quan sát tôi. Nhưng mặt tôi vẫn lạnh như mặt hồ vào một đêm tĩnh lặng. Tôi đọc tiếp: "Hai gia đình chúng ta cùng vun xới một mảnh vườn. Hai đóa hoa đã nở ra trong khu vườn đó. Giờ đây là lúc gặp nhau. Chúng ta sanh cùng năm. Có thể nào chúng ta trở thành chị em kết nghĩa không? Để cùng bay bổng trên nền trời xanh."

Tôi nhìn thấy Tuyết Hoa đã cầm tay con nắn nót lên những giòng chữ hoa mỹ đó. Tôi xếp chiếc quạt lại, đưa trả cho bà Quảng, nhưng bà không cầm.

- Bà Quảng! Tôi nghĩ rằng có sự hiểu lầm. Tám đặc điểm của hai đứa trẻ không có phù hợp nhau. Chúng không sanh cùng ngày, cũng không cùng tháng. Tệ hơn nữa, kích thước đôi chân của chúng đã khác nhau từ lúc trước khi bó chân, giờ đây, tôi nghĩ rằng sự khác biệt khó tránh khỏi. Về gia cảnh thì, tôi đưa tay chỉ quanh phòng, ai cũng thấy rồi, không phải nói.

- Lữ phu nhân tưởng rằng tôi không hay biết chuyện gì chắc? Bà nói với giọng đầy cảm xúc. Bà đã tuyệt giao với người chị em kết nghĩa không một lời giải thích. Bà có biết Tuyết Hoa khóc ngày khóc đêm từ dạo ấy, vì tuyệt vọng?

- Tuyệt vọng! Bà có biết cô ta đã làm gì không?

- Hãy nói với Tuyết Hoa! Đừng làm lỡ đi một dịp kết nối cho hai đứa trẻ.

Tôi không thể nào nghe lời bà ta. Đã bao lần tôi bị nỗi buồn của Tuyết Hoa ảnh hưởng và thuyết phục. Tôi không có can đảm gặp lại cô giữa một đám chị em nuôi mới của cô. Tôi đã lợm giọng mường tượng ra sự thân mật gắn bó giữa họ cũng như những thầm kín mà họ trao đổi cho nhau.

- Bà Quảng! Tôi nói, tôi không thể để con gái tôi hạ mình kết nghĩa với con của một ông hàng thịt!

Tôi nói sẵng giọng, mong rằng bà ta phải thối lui. Nhưng bà làm như không nghe thấy, lại nói tiếp:

- Tôi đã nhìn hai cô từ tấm bé, mỗi lần đi qua cầu, hai chiếc bóng in hình trên giòng nước. Hai cô có cùng vóc dáng, đôi bàn chân cùng kích thước, thanh nhã như nhau. Hai cô đã cùng tuyên thệ trung thành với nhau, đời đời kiếp kiếp không xa rời…

- Bà không biết là bà đang nói gì sao? Tôi gằn giọng. Ngày mà chúng tôi kết nghĩa, bà đã bảo chúng tôi: "Không có chuyện kết chị em nuôi với ai khác". Bà hỏi lại cháu bà xem cô ấy có nghe lời khuyên của bà không?

Tôi ném chiếc quạt lên đùi của bà mai và quay mặt đi. Tim tôi lạnh như giòng nước hôm nào tôi dầm chân xuống thưở còn thơ ấu. Tôi thấy bà mai nhìn tôi, lúng túng và đầy nghi vấn, nhưng cuối cùng bà ta cũng chịu bỏ cuộc. Tôi nghe tiếng bà đứng dậy, nhưng tôi vẫn không nhúc nhích.

- Tôi sẽ nhắn lại lời bà nói, - Bà Quảng nói với giọng nhẹ nhàng và hiểu biết khiến tôi rung động lạ thường: Nhưng tôi muốn nói với bà một điều: bà là một người không tầm thường, nếu không nói là độc đáo, tôi đã biết điều đó từ lâu. Mọi người trong vùng đều ao ước địa vị của bà. Ai ai cũng chúc tụng bà trường thọ và phú quý. Nhưng tôi, tôi rất buồn vì bà đã làm tan nát hai trái tim. Tôi còn nhớ rất rõ khi bà còn là cô bé sáu tuổi, ngoài đôi chân xinh xắn ra, thì bà chẳng có cái gì cả. Nhưng bây giờ, Lữ phu nhân, bà đã có rất nhiều: lòng thù hận, bạc bẽo, và hung dữ nữa!

Nói xong, bà Quảng đi thẳng ra cửa. Tôi nghe tiếng chân bà bước lên kiệu và bảo phu kiệu đưa bà về La Tân. Tôi không thể ngờ bà lại có thể nói được những câu cuối cùng ấy.

Một năm sau, đến dịp lễ chuẩn bị Vu qui cho người em họ của Tuyết Hoa, ở cách nhà tôi vài bước. Ngày xưa, tôi và Tuyết Hoa đã hẹn gặp nhau vào dịp lễ đó. Giờ đây, vết thương trong tim tôi vẫn còn rỉ máu. Tôi không biết Tuyết Hoa có còn ý định đến dự không? Nhưng tôi chỉ thầm mong là nếu chẳng may Tuyết Hoa có đến thì chúng tôi cũng tránh được sự đụng chạm. Tôi không muốn đương đầu với Tuyết Hoa như tôi đã đương đầu với mẹ tôi.

Thấm thoát, ngày mười tháng mười đã đến, là ngày đầu của lễ cưới. Tôi sang nhà hàng xóm và lên lầu. Cô dâu thật đẹp đang ngồi giữa nhóm chị em nuôi. Tôi nhận thấy có bà Quảng. Tuyết Hoa ngồi cạnh bà, tóc bới cao vén ra đàng sau, mặc bộ quần áo mà tôi đã tặng cho cô. Tim tôi tự dưng thắt lại, và bao tử đau quặn. Máu của tôi như dồn lại và tim như ngừng đập, chỉ chực ngã quị xuống. Tôi tự hỏi có đủ can đảm tiếp tục dự đám cưới không, và tôi ghét nhìn khách khứa trong phòng. Tuyết Hoa không đi cùng với cô Liên, Liễu Chi và Đào Hoa. Tôi thở phào nhẹ nhõm: nếu chỉ cần một trong ba người họ có mặt với Tuyết Hoa, tôi sẽ bỏ về ngay lập tức!

Tôi kéo ghế ngồi đối diện với Tuyết Hoa và bà Quảng. Nghi lễ bắt đầu với những bài ca, bài vè, truyện cổ tích và chuyện vui cười. Kế đó, mẹ của cô dâu nhìn về phía Tuyết Hoa và xin cô nói về cuộc sống của cô từ khi rời Cự Tống.

- Vâng, - Tuyết Hoa đáp lời, hôm nay tôi sẽ hát hiến quí vị “Bài Ca Đoạn Tuyệt”.

Thật là ngoài sự dự đoán của tôi. Sao Tuyết Hoa lại dám phô bày những lời trách móc giữa công chúng, trong khi chính tôi là người bị phản bội? Nếu biết trước, ít nhất tôi có thể chuẩn bị một bài ca để trả lời cô ta.

- “Con chim trĩ kêu tiếng khàn khàn vang dội ra xa…”, - Tuyết Hoa bắt đầu bài hát.

Nghe câu mở đầu quen thuộc của loại bài hát vè này, mọi người đổ xô mắt nhìn về phía Tuyết Hoa. Cô bắt đầu hát, cũng với giọng hát mạnh mẽ thanh cao đã ám ảnh tôi suốt thời gian qua:

- “Suốt năm ngày qua, tôi thắp biết bao nén hương cầu nguyện để có can đảm đến đây. Từ ba ngày qua, tôi đã đun nước thơm, tẩy rửa thân thể và quần áo để trông cho được trước các bạn cũ của tôi. Tôi đặt hồn tôi vào bài hát này. Khi tôi còn bé, mọi người đều khát khao được như tôi. Nhưng mỗi người ở đây đều biết số phận của tôi sau này ra sao rồi. Tôi rời làng cũ, lại mất đi cả cha lẫn mẹ. Chồng tôi không dịu dàng với tôi, mẹ chồng lại đanh đá. Tôi có thai bảy lần, nhưng than ôi, chỉ có ba người con được nhìn thấy ánh mặt trời, được hít thở không khí. Và đến nay, tôi cũng chỉ còn được một trai, một gái. Người ta nói rằng số kiếp cứ bám riết lấy tôi. Chắc hẳn là kiếp trước tôi đã làm nên điều gì tai ác lắm.”

Nhóm chị em nuôi của cô dâu bắt đầu khóc tấm tức, để bày tỏ lòng trắc ẩn. Các bà mẹ theo dõi bài hát một cách chăm chú, thỉnh thoảng “ồ!” lên một tiếng khi đến những đoạn nhạc buồn thảm nhất, và lắc đầu như thể là đã hiểu rằng số phận một người đàn bà đã được định rồi, không sao tránh được.

- “Hạnh phúc duy nhất trong cuộc đời tôi, - Tuyết Hoa hát tiếp: đó là niềm vui của tôi và người chị em kết nghĩa của tôi. Chúng tôi đã thề ước không một lời nói nặng với nhau, và chúng tôi đã giữ lời hứa suốt hai mươi bảy năm trời. Chúng tôi không dấu diếm nhau điều gì. Chúng tôi như hai nhánh cây chung một giàn, quấn quít lấy nhau. Nhưng cứ nghe tôi kể lể những nỗi bất hạnh mãi, người chị em kết nghĩa của tôi đã mất kiên nhẫn với tôi. Cô ta luôn nhắc tôi rằng đàn ông cầy cấy, đàn bà dệt vải, chỉ có lao động mới dứt được đói khổ. Chắc hẳn cô nghĩ rằng tôi có thể tự thay đổi số mạng của chính mình. Nhưng một thế giới không nghèo đói có hiện hữu thật ư?”

Tôi kinh ngạc khi thấy tất cả đàn bà trong phòng đều khóc khi nghe Tuyết Hoa hát.

- “Tại sao chị trở mặt với tôi? - Tuyết Hoa lên cao giọng: Chúng ta là hai chị em kết nghĩa. Tâm hồn chúng ta gắn liền với nhau cho dù cuộc đời có chia cách chúng ta? ”

Rồi Tuyết Hoa thình lình chuyển sang đề tài khác:

- «Và tại sao chị gây ra bao nhiêu sự trừng phạt đối với con gái tôi? Xuân Nguyệt còn quá nhỏ để hiểu những lý lẽ của chị, mà chị chẳng bao giờ nói ra. Tôi không bao giờ dám nghĩ rằng chị lại độc ác như thế. Chị nhớ lại đi, tôi van xin chị, rằng ngày xưa, lời giao ước của chúng ta thâm sâu hơn biển cả. Đừng bắt thế hệ thứ ba phải gánh chịu sự trừng phạt.»

Sau đoạn nhạc ấy, thì không khí trong phòng đã thay đổi hẳn. Cử tọa dường như đã nghiêng về sự bất công mà Tuyết Hoa vừa nêu ra: thân phận đàn bà đã quá nhiều đau buồn rồi, không cần tôi làm cho thê thảm thêm nữa, nhất là đối với một người yếu đuối hơn tôi.

Tôi đứng bật dậy. Là Lữ phu nhân, là người đàn bà được nể vì nhất trong quận, lẽ ra tôi phải giữ bình thản, vượt qua hẳn những điều tầm thường như thế. Nhưng trái lại, tôi lại làm theo tiếng lòng tôi, tiếng nói đã âm ỉ gặm nhấm tôi suốt bấy lâu nay.

- «Con chim trĩ kêu tiếng khàn khàn vang dội ra xa…» tôi bắt đầu hát, trong lúc đầu tôi đang nghĩ những lời đoạn tuyệt.

Tôi bắt đầu bằng cách bài bác lại những câu buộc tội bất công mà Tuyết Hoa gán cho tôi. Tôi nhìn khắp phòng trong khi hát:

- «Hai con gái của chúng ta không thể kết nghĩa, vì những đặc điểm của chúng không giống nhau, chúng lại chẳng có điểm chung nào cả. Người hàng xóm cũ của chị cũng muốn kết số phận của con gái bà với con tôi, nhưng tôi cũng không muốn phạm điều cấm kỵ. Tôi từ chối như bất cứ người mẹ nào cũng phải làm như thế thôi.»

Tôi bày tỏ tiếp:

- «Tất cả đàn bà trong phòng này đều biết sự thử thách của số mạng. Khi còn bé, chúng ta bị coi như là những nhánh cây vô dụng. Có thể chúng ta vẫn nhớ thương gia đình, nhưng đành phải xa lìa tổ ấm để đi đến những làng mạc mà chúng ta không quen biết, phải sống với người đàn ông mà chúng ta chưa từng gặp mặt. Chúng ta phải làm việc không ngừng nếu không muốn nhà chồng coi thường. Chúng ta phải sanh con đẻ cái: khi thì chúng chết sớm, nếu không thì là chúng ta ngã xuống trước. Khi bị chồng chán ghét rồi, thì họ đi tìm tình nhân khác. Chúng ta đã đương đầu với mùa màng xấu, với sự khắc nghiệt của mùa đông, hạn hán thiêu đốt mùa màng. Chẳng có gì hay ho trong tất cả mọi việc ấy. Nhưng người đàn bà này lại yêu cầu chúng ta phải để ý đến sự bất hạnh của bà ta.»

Tôi quay về phía Tuyết Hoa. Nước mắt tôi tràn ra ngay khi tôi nhìn thấy cô. Và lời ca cứ thế mà tuôn ra để sau này tôi đã phải hối hận:

- «Chúng ta gắn bó với nhau như đôi uyên ương. Tôi luôn trung thành với chị, nhưng chị thì lại gạt tôi ra để đi tìm chỗ nấp với nhóm chị em nuôi ấy. Khi hai đứa trẻ trao đổi nhau chiếc quạt, thì chúng không trao một chiếc quạt khác cho người nào mới đến sau. Một con ngựa tốt không có hai cái yên. Một người đàn bà tốt không bất trung với chị em kết nghĩa của mình. Có lẽ vì sự phản trắc của chị, mà chồng chị, mẹ chồng, con cái chị và ngay cả người bạn lòng mà chị đã phản bội, cũng không quí mến chị nữa. Chị làm cả chúng tôi xấu hổ với những ý nghĩ trẻ con đó. Nếu hôm nay chồng tôi có mang một tình nhân về nhà, thì như tất cả đàn bà hiện diện ở đây, có thể tôi cũng phải cắn răng chấp nhận. Nhưng chị… chị…»

Cổ họng tôi thắt lại, và nước mắt mà tôi cố giữ lại, cứ tuôn ra. Trong giây lát, tôi tưởng là tôi không thể nào tiếp tục được nữa. Tôi cố nén sự đau lòng xuống để bày tỏ cho mọi người có mặt nơi đây hiểu câu chuyện:

          - «Chúng ta có thể mất đi sự thương yêu trìu mến của chồng chúng ta. Các ông ấy có quyền, và chúng ta chỉ là đàn bà thôi, chẳng làm gì hơn được. Nhưng, sự phản bội ấy lại từ một người đàn bà khác, ai có thấu được sự đau lòng ấy nếu chưa trải qua?»

          Tôi tiếp tục hát, nhắc nhở dân làng địa vị của vợ chồng tôi, công lao chồng tôi đã lặn lội đường xa buôn muối về cho dân làng, sự lãnh đạo của chồng tôi đưa dân làng lánh nạn trong thời loạn lạc.

          - «Cửa nhà tôi rất trong sạch, - tôi hát: Còn nhà chị thì sao?» Tôi quay nhìn về phía Tuyết Hoa.

          Lúc ấy, cơn giận dấu tận đáy lòng tôi bấy lâu được dịp trào lên tận cổ khiến không một người đàn bà nào trong phòng có thể kiềm hãm được lời nói của tôi. Tôi có cảm tưởng một có một cú đấm vào giữa tim, khiến lời nói cứ tràn ra như ngọn sóng. Khoác lên mình địa vị của Lữ phu nhân, tôi cứ thế mà sỉ nhục Tuyết Hoa trước mặt những người đàn bà khác, bới móc từng khuyết điểm của cô. Tôi không dấu diếm gì cả, chỉ vì tôi không tự chủ được nữa. Một hình ảnh xa xưa buồn thảm đột nhiên trở về trong trí tôi: hình ảnh em gái út của tôi đang cố vùng vẫy đôi chân, càng vùng vẫy thì các băng lụa quấn chân càng siết chặt chân em hơn. Tôi bây giờ ngược lại, cứ mỗi lời thóa mạ tuôn ra, tôi lại cảm thấy như đang nới lỏng những gút mắc quấn chặt tim tôi bấy lâu, khiến lời nói càng tự do tuôn ra hết những gì tôi nghĩ. Trời ạ! Phải mất bao nhiêu năm sau, tôi mới giác ngộ ra rằng cái hình ảnh ấy hoàn toàn sai lạc. Tôi không gỡ được gút mắc nào cả, trái lại, chúng càng quấn chặt lấy tôi hơn, đến độ dập tắt cả mối tình chân thật duy nhất trong cuộc đời của tôi: là mối tình mà Tuyết Hoa dành cho tôi. Sự ân hận ấy đã dày vò tôi đến suốt cuộc đời đằng đẵng còn lại.

          - «Người đàn bà này, ngày xưa là hàng xóm của quí vị, - tôi hát tiếp, đã làm chiếc rương cưới của cô từ chiếc rương cưới của mẹ cô, khiến cho bà mẹ tội nghiệp kia không còn gì để mặc, đành chịu rét chịu lạnh mỗi khi phải ra ngoài. Người đàn bà này, hàng xóm cũ của quí vị: không chăm sóc gia đình cho tốt. Chồng bà ta làm một nghề kém trong sạch, thọc tiết hàng trăm con heo ngay trước sân nhà. Người đàn bà này, hàng xóm cũ của quí vị, có biết bao nhiêu tài năng, nhưng bà ta chỉ giữ riêng cho mình, từ chối dạy Nữ tự cho những người đàn bà khác trong gia đình nhà chồng. Người đàn bà này, hàng xóm cũ của quí vị, đã nói dối và che đậy gia cảnh của bà ta suốt thời thơ ấu, và vẫn tiếp tục giả dối, che dấu vai trò làm vợ, làm mẹ của bà ta trong suốt thời kỳ Gạo Muối. Không phải chỉ giả dối với quí vị, mà giả dối ngay với người chị em kết nghĩa của bà ta.»

          Tôi ngừng một chút lấy hơi, nhìn chung quanh cử tọa, rồi hát tiếp:

          - «Quí vị có biết bà ta dùng thời giờ để làm gì? Tôi cho quí vị biết: để thỏa mãn thú vui xác thịt! Ngay cả thú vật chúng cũng chỉ vui thú định kỳ, người đàn bà này thì vui thú triền miên. Những tiếng kêu rên của bà ta làm cả nhà xấu hổ. Khi chúng tôi tị nạn trên núi, bà ta cũng thích gần gũi âu yếm chồng hơn là ở cạnh tôi, người chị em kết nghĩa của bà ta! Bà ta kể lể rằng có thể kiếp trước đã phạm những tội tày trời. Nhưng tôi, Lữ phu nhân, tôi bảo đảm với quí vị rằng chính những hành vi trong kiếp này đã tạo nên nghiệp chướng, tạo nên số phận của bà ta.»

         

Tuyết Hoa đứng dậy đi về phía tôi, khuôn mặt dàn dụa nước mắt. Nhưng sự giận dữ của tôi đã không kiềm hãm được nữa:

          - Chúng ta đã ký giao ước từ những ngày thơ, - tôi kết luận: chị đã cam kết, và chị đã nuốt lời.

          Tuyết Hoa hít một hơi dài và trả lời bằng giọng run rẩy:

          - Ngày xưa, chị đòi tôi không bao giờ nói dối chị. Nhưng khi tôi nói thật, chị lại hiểu sai sự thật, hoặc sự thật ấy không hài lòng chị. Tôi đã gặp những người đàn bà khác trong làng tôi, họ không hề phê phán tôi, không hề mong đợi tôi trở thành một con người khác.

          Mỗi lời nói của Tuyết Hoa lại càng làm tăng sự nghi ngờ của tôi.

          - Họ không miệt thị tôi trước đám đông, - Tuyết Hoa nói tiếp. Chúng tôi thêu thùa với nhau và hỏi han nhau khi cần thiết. Họ không thương hại tôi. Khi tôi đau yếu, họ ghé qua thăm hỏi. Tôi sống trong sự cô đơn và biệt lập. Tôi cần có người an ủi vỗ về tôi thường nhật, chứ không phải chỉ những lúc muốn. Họ nhìn tôi dưới con người hiện tại của tôi chứ không phải một Tuyết Hoa của quá khứ. Tôi như con chim lạc đàn, bay lẻ bạn…

          Những lời thú thật của Tuyết Hoa phù hợp từng điểm với những gì mà tôi nghi ngờ. Tôi nhắm mắt lại, cố đè nén tình cảm hỗn độn của tôi. Để tự vệ, tôi phải làm cho đến cùng, như tôi đã làm với mẹ tôi.

          Khi tôi mở mắt ra, Tuyết Hoa đã đứng dậy và đi ra cửa. Khi tôi thấy bà Quảng ngồi bất động, không chạy theo Tuyết Hoa, cảm giác chiến thắng bùng bùng trong tim tôi. Ngay cả Dì ruột của cô cũng không đứng về phe cô!

          Trong lúc Tuyết Hoa đi xuống cầu thang, tôi thề sẽ không bao giờ gặp lại cô nữa.

************

          Bây giờ nghĩ lại ngày hôm ấy tôi thật là mệt mỏi. Những chuyện mà Tuyết Hoa làm có thể là không tha thứ được. Nhưng cái bài ca đoạn tuyệt ấy của tôi thì còn bỉ ổi gấp trăm lần. Tôi đã để cho cơn giận của tôi tràn ra, dùng thủ đoạn với mục đích trả thù. Mỉa mai thay, cuối cùng chính cái màn kịch hôm ấy, mà sau này tôi hối hận biết bao, lại giúp tôi đạt được cương vị Lữ phu nhân trong lòng mọi người. Hàng xóm láng giềng đều biết đến sự can đảm của tôi suốt thời gian chồng tôi phải đi buôn tận Quế Lâm. Họ biết rằng chính tôi đã săn sóc cho mẹ chồng trong thời kỳ bệnh dịch hoành hành trong vùng, cũng như đã làm tròn bổn phận làm dâu khi chôn cất cha chồng. Sau lần sống sót trở về từ rừng núi vào mùa đông năm ấy, tôi được mời mọc trong hầu hết các đình đám ở những làng lân cận, được tham dự những buổi lễ lạc trong các gia đình ở Cự Tống, ai ai cũng đón nhận tôi là phu nhân của vị trưởng làng. Nhưng cái hôm ấy, tôi mới đích thực được sự kính trọng của mọi người hiện diện, khi vạch ra cho mọi người thấy rõ tôi đã làm tròn bổn phận trong gia đình, ngoài làng thôn, mà ít người đàn bà nào có cơ hội làm được như thế. Một người vợ phải biết làm gương cho phụ nữ, từ đó nhà nọ làm gương cho nhà kia, thay đổi cách cung cách sống của phụ nữ và con cái, rồi cả nam giới nữa. Nhờ đó, nam giới không phải bận tâm, họ sẽ có thì giờ quán xuyến việc bên ngoài xã hội, việc triều đình. Tôi đã đạt được cái thành tích chói lọi ấy khi vạch cho mọi người thấy là Tuyết Hoa là người đàn bà đê tiện, thấp kém, không xứng đáng để tham dự vào những sinh hoạt của chúng tôi. Tôi đã đạt được mục đích, cho dù điều đó đã khiến cho hình ảnh của Tuyết Hoa bị suy sụp tan tành trước mặt mọi người.

          Bài Ca Đoạn Tuyệt của tôi đã chiến thắng vẻ vang. Sau này bài ca đã được mọi người thêu trên khăn tay, hay viết trên quạt. Họ dạy cho các cô gái trẻ, hay dùng để hát trong những dịp cưới hỏi, để báo trước cho những cô dâu sắp về nhà chồng, những hiểm nguy đang chờ đợi họ. Và sự bất hạnh, sự thất sủng của Tuyết Hoa được đồn đãi, lan tràn ra khắp vùng.

          Còn tôi ư? Cái biến cố ngày hôm ấy đã khiến cuộc sống của tôi trở thành vô vị. Trở thành Lữ phu nhân để làm gì chứ? Khi tình yêu đã bỏ tôi mà đi?

 

Chương 18 – Trên mây

 

          Tám năm trời trôi qua. Vua Hàm Phong băng hà trong thời kỳ ấy. Con trai của Tây cung Hoàng hậu Từ Hy, là Tải Thuần lúc ấy vừa 5 tuổi, được đưa lên ngôi, tức hoàng đế Mục Tông Đồng Trị. Thời ấy, bọn phản loạn Thái Bình vẫn còn hoành hành ở những nơi xa.

          Con trai lớn của tôi đã lập gia đình, và ngay khi con dâu tôi có thai, đã vào ở hẳn trong gia đình tôi, rồi sanh đứa cháu nội đầu lòng, mở đầu cho một đàn cháu chắt của tôi sau này. Con trai tôi đã ứng thí và được bổ làm quan huyện, nhưng vẫn tiếp tục học thêm và cũng đã đỗ đạt rồi được bổ làm quan tỉnh. Cậu ta không có nhiều thì giờ dành cho vợ, nhưng tôi thấy con dâu tôi lại rất thoải mái trong Nữ phòng. Con dâu tôi là một cô gái hiền thục, có giáo dục và nhiều tài năng, tôi rất quí mến.

          Con gái tôi thì lấy chồng vào năm mười sáu tuổi, để về làm dâu của  một gia đình thương gia buôn bán gạo tại Quế Lâm. Tôi cũng lo lắng không được gặp lại con tôi nữa, nhưng chính mối hôn nhân này lại giúp cho việc buôn muối của chúng tôi thuận lợi hơn. Lữ gia là một gia đình giàu có, được trọng vọng, và được trời ưu đãi. Năm ấy, tôi đã bốn mươi hai tuổi, và tôi vẫn làm đủ mọi cách để xua đuổi hình ảnh của Tuyết Hoa ra khỏi trí nhớ của tôi.

          Một ngày cuối thu, vào năm thứ tư đời vua Đồng Trị, cô giúp việc Tâm Can lên phòng gọi tôi ra thì thầm rằng có người muốn gặp tôi. Tôi bảo cô ta cho người ấy lên, nhưng đôi mắt cô giúp việc liếc nhìn con gái và con dâu của tôi đang ngồi thêu cạnh nhau, rồi cô ta lắc đầu. Nếu không phải là cô ta xấc láo, thì chắc hẳn đây phải là một chuyện gì quan trọng mà cô ta không muốn cho người khác biết. Không nói một câu, tôi bước xuống nhà. Vừa vào phòng khách, tôi nhận ra một cô gái trẻ, quần áo rách rưới, quỳ sụp xuống, dập đầu xuống đất lạy. Những người ăn mày kiểu này đến nhà tôi thường lắm, vì nghe đồn sự rộng rãi của tôi.

          - Lữ phu nhân, chỉ có bà mới giúp được con, - cô gái vừa nói vừa bò về phía tôi, vừa dập đầu lạy, cho đến lúc trán của cô ta chạm vào đôi giầy tôi đang đi trên chân.

          Tôi cúi xuống, đặt tay lên vai cô và bảo:

          - Đưa cái gà men của cô đây, tôi sẽ bảo người nhà cho cô thực phẩm.

          - Thưa bà, con không phải ăn mày. Con đến gặp bà không phải để xin thực phẩm.

          - Nếu thế, thì cô muốn gì?

          Cô gái bắt đầu khóc. Tôi bảo cô đứng dậy. Thấy cô ta vẫn quỳ dưới đất, tôi lại đặt tay lên vai cô. Đứng cạnh tôi, cô giúp việc Tâm Can không nói gì, cúi gầm mặt xuống đất.

          - Đứng dậy đi! Tôi ra lệnh.

          Cô gái ngẩng mặt lên nhìn thẳng vào mắt tôi. Trời ạ! Cô gái tuyệt đẹp này dù có gặp ở chân trời góc bể nào thì tôi cũng nhận ra. Cô ta giống mẹ từng nét, từng nét một khi Tuyết Hoa ở vào cỡ tuổi của cô. Những lọn tóc rối bời thả lỏng ôm lấy khuôn mặt trắng như ánh trăng rằm vào ngày đầu xuân, như cái tên mẹ cô đặt cho cô: Xuân Nguyệt! Trong ký ức sâu thẳm của tôi, tôi đã nhìn thấy cô từ lúc mới sanh ra, đến lúc chung sống trong núi rừng vào mùa đông kinh hoàng năm ấy. Ngày xưa, cô gái trẻ đẹp này là con của người chị em kết nghĩa của tôi. Giờ đây, cô ta đang quỳ dưới chân tôi, đang cầu xin tôi giúp đỡ.

          - Thưa bà, mẹ con bệnh nặng, chắc không qua khỏi mùa đông. Chúng con không còn gì cho mẹ, ngoại trừ an ủi tinh thần đày đọa vì buồn phiền của mẹ. Con xin bà! Hãy đến gặp mẹ con. Suốt ngày đêm, trong cơn bệnh, trên môi mẹ chỉ gọi tên bà: "Bạch Huệ". Chỉ có bà mới an ủi được mẹ con trong lúc này.

          Nếu là năm năm về trước, khi cơn giận của tôi còn bùng cháy, thì tôi đã thẳng tay đuổi ngay cô bé. Nhưng đời sống đã dạy tôi rất nhiều khi tôi phải đóng vai Lữ phu nhân trước bao dân làng. Chắc chắn rằng tôi không bao giờ tha thứ cho những gì mà Tuyết Hoa đã gây ra cho tôi, nhưng vì địa vị của tôi trong làng, tôi cần chứng tỏ sự rộng lượng và lòng trắc ẩn. Tôi bảo Xuân Nguyệt hãy về đi và hứa với cô là tôi sẽ đi theo.

          Tôi gọi người chuẩn bị kiệu và đến thẳng La Tân. Trên đường đi, tôi chuẩn bị tư tưởng để đối phó với vợ chồng của Tuyết Hoa, và đối phó với con trai của cô giờ chắc cũng có vợ rồi, nhưng nhất là với nhóm chị em nuôi của cô!

          Chiếc kiệu dừng lại trước cửa nhà. Tất cả vẫn như xưa. Củi chất đầy lối vào. Chiếc sân phẳng với cái hồ cạn đóng khung vẫn còn đó để chờ những nạn nhân kế tiếp. Tôi ngập ngừng một lúc. Chiếc bóng của chồng Tuyết Hoa hiện ra ở khung cửa. Trông anh ta già và gầy hơn trước, ngoài ra vẫn không thay đổi gì mấy.

          - Lữ phu nhân! Tôi không muốn làm phiền đến bà, nhưng lại không thể chịu được khi thấy vợ tôi phải chịu đựng đau đớn thể chất lẫn tinh thần!

          Đó là những câu nói đầu tiên sau tám năm không gặp mà anh ta nói với tôi, trong khi đưa bàn tay lên dụi mắt.

          - Cô ta đã sanh cho tôi đứa con trai, đã giúp tôi trong việc buôn bán, đã cho tôi đứa con gái xinh đẹp khả ái, nhan sắc của nó đã khiến căn nhà thêm rực rỡ. Cô ta chăm sóc cho mẹ tôi đến ngày bà mất đi. Cô ta là một người vợ đảm đang về mọi mặt. Nhưng tôi đã hung dữ, tàn bạo với cô ta. Lữ phu nhân. Bây giờ tôi mới thấy điều đó.

          Anh ta tránh sang một bên cho tôi vào, và nói thêm:

          - Tốt nhất là để đàn bà ngồi với nhau.

          Tôi thấy anh ta thất thểu lủi nhanh ra ngoài ruộng, là nơi duy nhất mà người đàn ông có thể ẩn mình để che dấu sự hối hận.

          Thật là đau buồn cho tôi khi phải nhớ lại cái ngày hôm ấy, cho dù bao năm tháng đã trôi qua. Tôi tưởng rằng đã vĩnh viễn xóa bỏ Tuyết Hoa ra khỏi trí nhớ của tôi. Tôi đã nghĩ là không đời nào tôi có thể tha thứ cho cô về chuyện cô đã coi nặng nhóm chị em nuôi của cô hơn tôi. Thế nhưng, khi nhìn Tuyết Hoa nằm trên giường, nước mắt tôi tuôn ra và những tư tưởng ấy đã tan thành mây khói. Thời gian đã in hằn lên Tuyết Hoa. Tôi chắc chắn tôi cũng già đi, nhưng da tôi còn mịn, nhờ phấn son và thuốc nuôi da. Và quần áo của tôi đã chứng tỏ cho mọi người cái địa vị của tôi. Nhưng Tuyết Hoa nằm trên giường, giống như một bà già ăn mày đói rách. Trái với con gái của cô mà tôi nhìn là nhận ra ngay, Tuyết Hoa đã thay đổi đến độ nếu gặp cô ngoài đường hay trên đường đi lễ đền Cầu tự, tôi không thể nào nhận ra cô nữa.

          Những người đàn bà "tình địch" của tôi dĩ nhiên cũng có mặt tại đó: cô Liên, Liễu Chi và Đào Hoa. Đúng như tôi nghi ngờ bấy lâu nay, nhóm chị em nuôi của Tuyết Hoa là nhóm người đã chung sống với chúng tôi trên núi vào mùa đông ly loạn ấy. Chúng tôi cũng không thèm chào hỏi nhau một tiếng.

          Thấy tôi tiến đến bên giường, cô bé Xuân Nguyệt đứng dậy và tránh sang một bên nhường chỗ. Tuyết Hoa đang nằm nhắm mắt thiêm thiếp, và nước da vốn trắng sẵn của cô, giờ đây càng nhợt nhạt, tái ngắt. Không biết phải làm sao, tôi đưa mắt nhìn con gái của Tuyết Hoa, cô bé hất hàm, nhìn về phía mẹ cô, và tôi đã run rẩy cầm bàn tay giá lạnh của Tuyết Hoa trong tay tôi. Tuyết Hoa cử động yếu ớt, vẫn không mở mắt, rồi liếm đôi môi khô rang.

          - Tôi cảm thấy như là….

          Cô ngừng lại, lắc đầu như để xua đuổi một ý nghĩ nào vừa thoáng qua đầu.

          Tôi ứa nước mắt, khẽ gọi "Tuyết Hoa", và siết chặt tay cô. Tuyết Hoa mở mắt ra nhìn tôi, như thể chưa tin vào mắt của cô. Cuối cùng, cô thì thầm:

          - Tôi nhận ra bàn tay của chị. Dù nhắm mắt, tôi đã biết là chị.

          Giọng nói của Tuyết Hoa rất yếu, nhưng khi cô cất tiếng, những tháng ngày đau thương đột nhiên tan biến hết. Đằng sau tấm thân co quắp kia, tôi phân biệt rõ ràng cô bé con sáu tuổi năm xưa, đã gửi đến tôi chiếc quạt để cầu thân kết nghĩa, mở ánh sáng rạng đông cho cuộc đời tôi.

          - Tôi nghe tiếng chị gọi tôi, - tôi nói dối như thế để tránh không khai ra là Xuân Nguyệt đã đến tìm tôi - cho nên, tôi đến ngay tức thì.

          - Tôi cũng chờ chị.

          Khuôn mặt Tuyết Hoa chợt nhăn nhúm lại, cô đè một tay lên bụng, chân tự động co lên. Không một lời, Xuân Nguyệt nhúng ngay chiếc khăn vào thau nước nóng, vắt bớt nước, rồi trao cho tôi. Tôi lau mồ hôi đang vã ra trên trán Tuyết Hoa trong cơn đau quặn thắt.

          Tuyết Hoa vẫn nói trong cơn đau:

          - Tôi thật tiếc nuối những gì đã qua, nhưng tôi muốn chị hiểu là tình yêu của tôi dành cho chị chưa giây phút nào phai nhạt.

          Trong lúc Tuyết Hoa nói lời thú lỗi thì một cơn đau lại hoành hành khắp cơ thể cô, dữ dội hơn vừa rồi. Cô lại nhắm mắt lại và ngưng nói. Tôi thấm khăn lần nữa và đặt lên trán Tuyết Hoa. Rồi tôi cứ ngồi đó, cầm tay Tuyết Hoa trong tay cho đến khi mặt trời lặn. Mấy người đàn bà kia lẳng lặng rút lui và Xuân Nguyệt xuống dưới nhà lo cơm tối.

          Còn lại một mình với Tuyết Hoa, tôi dở tấm mền đang đắp trên người cô. Cơn bệnh đã khiến cô chỉ còn da bọc xương, và một cục bướu nổi gồ lên giữa bụng Tuyết Hoa như là cô đang có thai vậy.

          Cho đến ngày nay, tôi cũng không thể nào giải thích được cái cảm giác của tôi lúc ấy. Tôi cứ ngỡ là không bao giờ tôi có thể tha thứ cho Tuyết Hoa, nhưng ngay lúc ấy, khi nhìn cái bướu nơi bụng của Tuyết Hoa, tôi nghĩ rằng cô đã mang cái bướu này từ nhiều năm qua. Tôi phải có bổn phận….

          Không! Không đúng. Sự đau khổ, thù hận của tôi đối với Tuyết Hoa bao năm qua, chẳng qua là vì tôi vẫn còn thương yêu Tuyết Hoa mà thôi. Cô là người duy nhất biết rõ những khuyết điểm của tôi mà vẫn thương yêu tôi. Và tôi, những buồn phiền âm ỉ càng chứng tỏ rằng chưa bao giờ tôi ngừng yêu thương Tuyết Hoa, tình yêu ấy còn mạnh mẽ hơn cả hận thù.

          Tôi đắp chăn lại cho Tuyết Hoa, và vẽ ngay trong đầu một vài dự tính. Trước tiên, phải gọi một thầy thuốc giỏi. Tuyết Hoa phải được dinh dưỡng, ăn uống đàng hoàng. Rồi chúng tôi phải mời một ông thầy pháp. Tôi muốn Tuyết Hoa phải tự chiến đấu với bản thân, như tôi sẽ làm nếu tôi ở vào trường hợp của cô. Tôi vẫn không hiểu tại sao người ta lại không thể dùng tình yêu để thay đổi số mạng của mình.

          Tôi cầm bàn tay giá lạnh của Tuyết Hoa đưa lên môi tôi, rồi đặt xuống. Chồng của Tuyết Hoa ngồi gục đầu ở bàn. Con trai của Tuyết Hoa, giờ đây đã là một thanh niên tuấn tú, đứng cạnh cô em gái. Cả hai nhìn tôi với ánh mắt mà chúng thừa hưởng của mẹ chúng: một sự pha trộn giữa kiêu hãnh, khẩn cầu và nhẫn nhục.

          - Tôi phải về nhà, - tôi nói với hai đứa trẻ.

          Thấy sự thất vọng trên gương mặt chúng, tôi giơ tay lên và nói:

          - Ngày mai tôi sẽ quay trở lại. Hai cháu hãy dọn cho tôi một chỗ ở tạm thời. Tôi sẽ ở lại đây cho đến khi…

          Tôi nghẹn lời lại, không sao nói tiếp được.

          Khi đã dọn sang ở bên cạnh Tuyết Hoa rồi, tôi tưởng là chúng tôi lại tiếp tục gây hấn. Nhưng tôi không biết rằng chúng tôi chỉ còn chưa đầy hai tuần lễ bên nhau. Suốt thời gian ấy, tôi đã chứng tỏ tình yêu của tôi với Tuyết Hoa. Tôi không rời căn phòng nửa bước, trong những ngày này. Con gái của Tuyết Hoa đem thức ăn thức uống cho tôi và thường xuyên lên thu dọn phòng cho sạch sẽ. Hàng ngày, tôi lau rửa cho người chị em kết nghĩa của tôi trước khi tôi lau rửa cho chính tôi bằng thau nước ấy. Cũng trong một chiếc thau nước tương tự hàng bao năm về trước, chúng tôi đã cùng nhau soi bóng mình trong đó, và tôi đã nhận ra Tuyết Hoa thương tôi đến thế nào. Tôi hy vọng giờ đây Tuyết Hoa còn chút tỉnh táo để nhận ra những cử chỉ của tôi và hiểu rằng tôi cũng thế, chưa phút nào tôi từng thay đổi.

          Ban đêm, chờ cho mọi người yên nghỉ hết, tôi rời chiếc ghế bố mà gia đình Tuyết Hoa đặt trong phòng cho tôi tạm nghỉ, đến bên giường, chui vào chăn nằm cùng với Tuyết Hoa. Tôi ôm lấy Tuyết Hoa trong tay, cố gắng dùng hơi nóng của mình để làm dịu cơn đau không ngừng hành hạ cơ thể của cô, khiến cô nhiều lần rùng mình run rẩy ngay cả trong cơn mơ.

Tối tối, tôi cứ chập chờn nửa tỉnh nửa mê và hy vọng rằng sự hiện diện của tôi sẽ làm tan đi cục bướu trong bụng cô. Sáng sáng, giật mình thức giấc, tôi cảm thấy bàn tay Tuyết Hoa đang đặt trên má và đôi mắt thâm quầng của cô đang miên man nhìn tôi.

Những năm bị bệnh, Tuyết Hoa được một thầy lang ở La Tân săn sóc. Nhưng tôi đã mời thầy thuốc của tôi đến. Một ánh mắt của ông ta là đủ cho tôi hiểu. Ông lắc đầu bảo tôi:

- Lữ phu nhân, vô phương rồi! Chúng ta chỉ còn cách chờ đợi… Bà nhìn kìa, da bà ấy đã tím ngắt dưới lần vải băng gót chân, và sau đó, sẽ lan dần lên đến bắp chân. Sức lực càng ngày càng suy giảm, hơi thở yếu ớt dần, theo tôi thì không tiến triển hơn được, bà ta chỉ thở ra, hít vào, thế thôi. Và khi nào bà tưởng rằng tất cả đã đến lúc tận cùng rồi, thì sẽ nghe một hơi thở cuối. Đừng khóc, Lữ phu nhân! Đến lúc đó, là lúc sắp kết thúc rồi, và bà ta sẽ  không còn cảm thấy đau đớn nữa.

Ông thầy thuốc để các thang thuốc lại, dặn dò tôi cách sắc thuốc, rồi từ biệt. Tôi trả tiền, cám ơn ông và hứa sẽ không làm phiền ông quay trở lại nữa. Khi ông đi khỏi rồi, cô Liên, người lớn tuổi nhất trong nhóm chị em nuôi của Tuyết Hoa an ủi tôi:

- Chồng của Tuyết Hoa cũng đã mời nhiều thầy thuốc, - cô Liên nói. Nhưng không có ai có thể làm gì cho chị ấy được.

Cơn giận xa xưa lại tràn lên mặt tôi. Nhưng tôi nhìn thấy rõ thiện cảm trên nét mặt của cô Liên, không phải chỉ đối với Tuyết Hoa, mà còn với tôi nữa.

Tôi nhớ lại các vị thuốc cổ truyền, người ta nói rằng những thuốc có vị đắng là hữu hiệu nhất để làm giảm sốt, bớt đau bụng. Tôi tin chắc rằng mướp đắng sẽ giúp cho căn bệnh của Tuyết Hoa, nên đã ngỏ ý nhờ nhóm chị em nuôi của Tuyết Hoa nấu cho nồi canh mướp đắng. Tôi ngồi ở cạnh giường, dùng muỗng đút cho Tuyết Hoa. Lúc đầu, cô nuốt dễ dàng, không ho. Nhưng chỉ một lúc thì Tuyết Hoa không chịu mở miệng nữa, quay mặt sang một bên như không biết là có tôi bên cạnh.

Liễu Chi, người chị em nuôi thứ nhì, kéo tôi ra, lấy lại chén canh trên tay tôi, thì thầm:

- Lữ phu nhân, muộn rồi! Chị ấy đã không còn tha thiết ăn uống gì nữa cả. Hãy để chị ấy yên tịnh ra đi.

Hôm ấy, chính Liễu Chi là người phải đi giặt giũ khăn trải giường mà Tuyết Hoa đã ói ra hết chén canh mướp đắng của tôi.

Hy vọng cuối cùng của tôi là gọi một ông thầy pháp.

- Có một hồn ma nhập trong cơ thể của bạn bà. Ông ta tuyên bố như thế. Đừng lo, chúng ta phải trừ khử nó, ngay khi nó bỏ đi, thì bạn của bà sẽ bình phục. Bà Tuyết Hoa, - ông ta nghiêng người nói với Tuyết Hoa, đây là những câu thần chú mà bà phải hát. Còn bà, Lữ phu nhân, bà hãy quì xuống và cầu nguyện.

Xuân Nguyệt, bà Quảng, lúc ấy cũng có mặt, và ba người chị em nuôi của Tuyết Hoa, cùng tôi, tất cả quì chung quanh giường của Tuyết Hoa, đọc kinh Cứu Khổ, trong khi Tuyết Hoa yếu ớt lập lại những câu thần chú do ông thầy pháp đọc. Một lúc sau, ông thầy pháp lấy trong túi ra một mảnh giấy, viết lên đó một câu bùa chú, châm lửa, rồi đi khắp phòng, khắp hướng để xua đuổi hồn ma ám chướng. Rồi ông rút cây kiếm, đâm nhiều nhát vào ngọn lửa đang lan ra, và thét ba tiếng: "hồn ma, hãy lui ngay!"

Nhưng chẳng có công hiệu gì cả. Tôi trả tiền ông ta và nhìn qua song cửa sổ, dõi theo chiếc xe kéo ông đi khuất dần, thề rằng từ nay không bao giờ mời thầy pháp đến nhà nữa, trừ khi để xem ngày tốt cho việc lễ lộc.

Đào Hoa, người đàn bà trẻ nhất trong nhóm chị em nuôi của Tuyết Hoa đến gần tôi, nói:

- Tuyết Hoa đã làm theo lời bà, chỉ để làm hài lòng bà thôi. Lữ phu nhân, mong bà hiểu. Cô ta đã đau khổ quá lâu. Nếu là một con chó, bà có kéo dài sự đau khổ của nó lâu đến thế không?

Sự đau khổ mà cô Liên nói đến là sự đau đớn mà Tuyết Hoa đã phải chịu đựng trong lúc hấp hối, đến cái chuyện nhìn thấy cô nhẫn nhịn bao năm qua, chưa kể đến sự đanh ác, tàn nhẫn của tôi khi hát Bài Ca Đoạn Tuyệt với Tuyết Hoa tám năm về trước… Tại sao tôi làm vậy? Để được sự thán phục của dân làng. Để làm tổn thương Tuyết Hoa như cô đã làm tổn thương tôi. Hay chỉ vì vị kỷ, tôi không chịu được chuyện Tuyết Hoa có những người đàn bà khác bên cạnh? Tôi đã sai lầm lớn, ngay chính điểm này thôi. Qua những ngày dài vô tận vừa qua, tôi đã nhận ra rằng chính những người đàn bà tình địch ấy của tôi, mới chính là những người lo lắng cho Tuyết Hoa nhiều nhất. Họ không nề hà chuyện gì cả, thậm chí những việc dơ bẩn nhất. Tôi chỉ có mặt vào những giây phút cuối cùng của Tuyết Hoa, nhưng họ, họ đã ở bên cạnh cô để an ủi, xoa dịu cho cô suốt bao năm trời, những năm tháng mà tôi đã dứt bỏ Tuyết Hoa không thương xót. Chính sự rộng lượng của họ đã là nguồn sống của Tuyết Hoa. Họ đã ăn dầm nằm dề ở đây, bỏ bê cả gia đình của chính họ để lo cho Tuyết Hoa trong những giây phút cuối. Họ không hề xen lấn vào tình cảm của hai chúng tôi, trái lại, chỉ rút vào bóng tối, không ngừng cầu nguyện cho Tuyết Hoa, cũng như tôn trọng sự thân mật của hai chúng tôi.

Chắc hẳn là cũng có lúc tôi đã ngủ thiếp đi, nhưng tôi không nhớ. Lúc ngồi bên Tuyết Hoa, tôi thêu may mấy đôi hài để Tuyết Hoa mang lúc tẩm liệm, và mang theo về bên kia thế giới. Đôi đầu tiên, tôi thêu những cánh hoa sen, tượng trưng cho sự vĩnh cửu, bên cạnh một chiếc thang nhỏ, nhắc nhở rằng Tuyết Hoa không được ngừng lại trên đường leo lên trời. Trên đôi hài khác, tôi thêu một cánh diều tí hon, và những con dơi đang cong cong đôi cánh, tượng trưng sự trường thọ, để Tuyết Hoa nhớ rằng, ngay dù sau khi chết, dòng dõi của cô sẽ còn tiếp tục đời đời.

Tình trạng của Tuyết Hoa càng ngày càng xuống dốc. Lần đầu tiên rửa chân và băng chân cho cô, tôi đã thấy đầu ngón chân cô đã ngả sang màu đỏ tím. Như ông thầy thuốc đã đoán trước, cái mầu tím ngắt này sẽ lan dần đến gót chân, rồi đến bắp chân.

Tôi không ngừng khuyến khích Tuyết Hoa cố gắng chống lại cơn đau và xua đuổi đi tà ma ám ảnh cô. Nhưng tôi biết rất rõ rằng lúc này không gì hay hơn là để Tuyết Hoa nhẹ nhàng, thanh thản về trời.

Cô giúp việc Tâm Can của tôi cũng tham gia vào giai đoạn này. Sáng sáng, cô ta đem sang cho tôi trứng tươi, quần áo sạch để thay đổi, và những lời nhắn nhủ của chồng tôi. Từ bao năm nay, cô đầy tớ trung thành và ngoan ngoãn này vẫn theo hầu hạ tôi như hình với bóng, thế mà đến nay, đúng vào lúc này, tôi lại khám phá ra là cô ta đã lừa dối tôi bao năm nay, mà tôi không hề hay biết. Chỉ ít hôm sau khi Tuyết Hoa mất đi, một buổi sáng, Tâm Can đến quì gối trước mặt tôi, đặt một chiếc giỏ dưới chân tôi và cúi lạy:

- Lữ phu nhân, cô ta run rẩy nói: cách đây nhiều năm, khi bà nóng giận, tôi đã nghi ngờ rằng chính bà cũng không biết là bà đang làm gì…

Tôi hoang mang! Cô ta muốn ám chỉ gì đây? Sao lại chọn ngay lúc này mà nhận lỗi. Cô ta mở lớp vải phủ bên trên chiếc giỏ và rút ra nào thư từ, nào khăn tay, mẫu vải thêu, kể cả Chiếc Quạt Lụa, chiếc quạt thầm kín của tôi và Tuyết Hoa, tất cả những thứ mà tôi đã khổ công lục lọi tìm kiếm để đốt đi, nhưng không ngờ cô đầy tớ trung thành đã không sợ bị đuổi, mà lén lút dấu đi trong cơn thịnh nộ của tôi, để đến hôm nay mới đem ra trao trả lại cho tôi.

Thấy thế, Xuân Nguyệt và ba người chị em nuôi của Tuyết Hoa cũng bắt đầu lục lọi trong giỏ, trong ngăn kéo, ngay cả dưới giường của Tuyết Hoa để lấy ra tất cả quà các, thư từ mà tôi đã gửi cho Tuyết Hoa, không thiếu một thứ gì. Trong khoảng khắc, tất cả mọi thứ đã tụ tập lại đầy đủ, chỉ trừ những gì tôi đã hồ đồ đốt bỏ đi.

Trong những giờ cuối của cuộc đời, tôi cũng đã đem Tuyết Hoa trở lại thưở thiếu thời của chúng tôi. Những gì chúng tôi viết cho nhau đã in sâu vào tâm khảm, và chúng tôi có thể đọc thuộc lòng cho nhau nghe. Nhưng người chị em kết nghĩa của tôi đã quá yếu sức, chỉ một lúc, là cô đành im lặng để lắng nghe tôi đọc, và siết chặt tay tôi trong tay cô.

Buổi chiều, nằm cạnh Tuyết Hoa trên chiếc giường đặt ngay cạnh song cửa sổ, nhìn ánh trăng chênh chếch chiếu qua song, tôi đau đớn nhớ đến mùa trăng cũ, cũng một đêm trăng chếch qua rèm như đêm nay. Tôi cầm bàn tay Tuyết Hoa, dùng ngón tay trỏ của tôi, viết lên lòng bàn tay cô vài chữ bằng Nữ tự:

Ánh trăng chiếu tỏ qua giường…

 

          Tôi hỏi Tuyết Hoa:

          - Tôi vừa viết chữ gì vậy?

          - Tôi không biết, - Tuyết Hoa thì thầm trả lời.

          Tôi đọc lại bài Đường Thi năm cũ:

          Ánh trăng chiếu tỏ qua giường,

          Ngỡ là tuyết trắng ngày hừng sớm đông

          Ngước nhìn trăng chiếu thinh không,

          Nghiêng đầu thấy nỗi mênh mông nhớ nhà

và thấy hai giòng lệ long lanh trong mắt Tuyết Hoa, lăn xuống chảy dài trên má, trước khi thấm xuống chiếc cổ gầy guộc của cô.

          Trong giây phút thân mật ấy, Tuyết Hoa hỏi:

          - Chị có thể làm cho tôi điều này?

          - Tôi làm tất cả những gì chị muốn, - tôi trả lời với tất cả tấm lòng.

          - Chị hãy nhận làm dì của các con tôi.

          Tôi siết tay Tuyết Hoa:

          - Tôi hứa…

          Suốt mấy ngày qua, tôi thấy không có gì làm cô vui và được an ủi hơn là lời hứa ấy. Trong những giây phút cuối, tôi nhắc Tuyết Hoa về tờ văn tự kết nghĩa của chúng tôi, cách thức chúng tôi đi chọn tờ giấy đỏ vào ngày đầu tiên gặp nhau để kết nghĩa ở đền Cầu tự. Tôi đọc lại những đoạn sung sướng nhất mà chúng tôi đã viết trên chiếc quạt lụa của chúng tôi, và hát những bài mà chúng tôi đã cùng nhau hát thưở nhỏ.Tôi nói lên tấm lòng của tôi thương yêu Tuyết Hoa đến thế nào, và mong cô trở lại tìm tôi, đem tôi lên trời với cô. Tôi nói nhiều lắm, để Tuyết Hoa không bỏ đi, nhưng tôi cũng thừa biết là thời gian đã chẳng còn nhiều, trước khi Tuyết Hoa bay lên chín từng mây.

          Nước da của Tuyết Hoa cứ tái dần. Chúng tôi: tôi, Xuân Nguyệt, bà Quảng và ba người chị em nuôi của Tuyết Hoa, lắng nghe từng hơi thở của cô. Tuyết Hoa thở nhẹ, hít vào, rồi lặng yên một lúc. Rồi lại thở nhẹ, hít vào, lặng yên. Cứ thế nhiều lần. Suốt thời gian ấy, tôi cứ ngồi cạnh Tuyết Hoa, đặt bàn tay lên má cô, như cô vẫn thường làm vậy với tôi, để cô biết rằng chị em kết nghĩa của cô vẫn ở cạnh cô. Cô lại hít vào, thở ra, và yên lặng, lần này là vĩnh viễn….

************

         

Những gì xảy ra sau đó, khiến tôi nhớ lại câu truyện ngụ ngôn "Cô Gái Có Ba Người Anh Trai", mà thím tôi kể dạo nọ. Bây giờ tôi hiểu, câu truyện không phải chỉ dạy ta xử thế, mà vì chúng ta được sinh ra để biết nhiều tình huống khác nhau của cuộc đời.

          Thi hài của Tuyết Hoa được đem xuống căn phòng chính ở dưới nhà. Tôi lau rửa cho Tuyết Hoa lần cuối, mặc bộ quần áo cuối đời cho cô, bộ quần áo đã sờn và phai màu. Người chị cả trong nhóm chị em nuôi chải tóc cho Tuyết Hoa. Người thứ nhì thoa phấn và tô chút son lên môi cô. Cô trẻ nhất thì cài hoa lên tóc Tuyết Hoa.

          Một ban nhạc nho nhỏ đến đàn đám ma trong khi chúng tôi thức quây quần trong phòng. Hai cô chị nuôi mua vàng hương và vàng mã đến để đốt, trong khi cô em út không có tiền, chỉ khóc lóc bất tận.

          Ba hôm sau, chồng của Tuyết Hoa cùng cả ba gia đình của ba người chị em nuôi của cô, đem linh cữu đến nơi an táng. Họ đi rất nhanh, như là đang bay bổng trên mặt đất (thật ra chỉ vì tôi đi quá chậm vì không quen đi bộ trên đôi chân "gót sen" của tôi). Tôi đem theo tất cả những giấy tờ viết bằng Nữ tự của Tuyết Hoa, kể cả những gì tôi viết cho cô, đốt cháy trước mộ, để Tuyết Hoa có thể tìm lại được ở trên trời.

          Sau đám táng, chúng tôi trở về nhà Tuyết Hoa. Xuân Nguyệt pha trà, tôi và ba chị em nuôi của Tuyết Hoa lên lầu để lau dọn, xóa bỏ hết vết tích chết chóc vừa qua.

          Đó là lúc mà tôi xấu hổ đến độn thổ đi được vì sự dốt nát, thiển cận cũng như kiến thức học chưa đến nơi đến chốn của tôi; khi ba người chị em nuôi  cho tôi biết rằng tôi đã lầm to: Tuyết Hoa chưa bao giờ từng là chị em nuôi của họ! Tôi chưng hửng không tin. Tôi chìa chiếc quạt lụa ra:

          - Nhưng chiếc quạt? Chính cô ta đã viết cho tôi trong chiếc quạt này là cô sẽ gia nhập vào nhóm của các chị!

          - Không! Chị lầm rồi, - cô Liên giải thích: Tuyết Hoa chỉ nói rằng không muốn chị phải bận tâm vì cô ấy, vì ở đây, cô ấy đã có những người bạn khác để an ủi cô.

          Cô Liên yêu cầu tôi cho cô xem tận mắt những gì Tuyết Hoa viết cho tôi trên chiếc quạt. Tôi lại ngỡ ngàng chưng hửng khi biết thêm là Tuyết Hoa đã dạy cho họ Nữ tự từ bấy lâu nay. Thế mà trong Bài Ca Đoạn Tuyệt của tôi tám năm về trước, tôi đã tố cáo trước mặt mọi người rằng Tuyết Hoa là một người có nhiều tài nhưng ích kỷ chỉ giữ riêng cho cô! Làm sao tả được sự xấu hổ của tôi lúc ấy.

          Cả ba chị em họ chúi mũi vào chiếc quạt như đàn gà châu mỏ vào chậu cám, chỉ tay vào từng chữ, từng chữ bay bướm của Tuyết Hoa. Đọc đến chữ cuối cùng, họ nghiêm nghị hơn bao giờ hết:

          - Bạch Huệ! Chị nhìn đây, - cô Liên gọi tôi, chỉ tay vào giòng chữ. Không có chỗ nào Tuyết Hoa nói rằng cô ấy sẽ trở thành chị em nuôi với chúng tôi cả.

          Tôi lấy lại chiếc quạt lụa và đích thân quan sát lại lần nữa.

         

          "Tôi thật là phiền muộn, Tuyết Hoa viết cho tôi như thế, tôi không thể nào trở thành một người như chị mong muốn. Từ rày về sau, chị không cần phải chịu đựng những lời than thở của tôi nữa. Ba người chị em nuôi hứa sẽ thương yêu tôi, cái tôi hiện nay…"

          - Lữ phu nhân, - cô Liên lên tiếng, bà thấy chưa? Tuyết Hoa chỉ muốn chúng tôi nghe cô ta tâm sự. Đổi lại, cô ta dạy cho chúng tôi Nữ tự, Đường thi để có thêm kiến thức. Cô là người thầy của chúng tôi và vì thế chúng tôi kính trọng cô ấy. Nhưng người mà Tuyết Hoa thương yêu không phải là chúng tôi, mà là chị. Tuyết Hoa đã từng chờ đợi chị sẽ trở lại thương yêu cô ấy như xưa, bỏ qua sự thương hại và hờ hững mà chị đã cư xử với cô ấy.      Liễu Chi, người có trình độ hiểu biết hơn cả trong nhóm ba chị em chỉ vào dòng chữ của Tuyết Hoa, tiếp lời cô Liên:

          - Chị xem đây: "Ba Người Chị Em Nuôi đã hứa sẽ thương yêu tôi…". Ba người chị em nuôi đó là chúng tôi, chúng tôi là chị em nuôi của nhau từ bé, chúng tôi hứa sẽ thương yêu, săn sóc cho Tuyết Hoa. Có chữ nào Tuyết Hoa viết rằng cô ấy là chị em nuôi với chúng tôi đâu? 

          Tôi chết lặng người đi. Cái chuyện để cho người khác vạch ra sự dốt nát, vị kỷ và thiển cận của tôi đã là một sai lầm lớn lao trong cuộc đời của tôi. Tôi đã làm một lỗi lớn mà một người đàn bà có thể làm trong việc học Nữ tự của tôi. Đó là tôi đã không biết đo lường đúng mức cách thức dùng câu, dùng chữ, trước khi định ra ý nghĩa của câu văn. Tôi đã quên bẵng đi bài học đầu tiên mà Thím tôi thường nhắc nhở khi bắt đầu dạy Nữ tự cho tôi:

          - Mỗi chữ phải được đặt trong bối cảnh của câu văn. Biết bao thảm kịch có thể xảy ra chỉ vì một sai lầm nhỏ trong việc giải thích câu văn.

Tệ hại hơn nữa, là tôi đã tự quan trọng hóa chính mình, mà đã quên hẳn đi những điều mà tôi được biết ngay từ ngày đầu gặp gỡ của chúng tôi: đó là Tuyết Hoa có cái trình độ nói năng hoạt bát và viết lách văn vẻ, cao hơn hẳn con gái của một người nông dân như tôi; quên hẳn rằng tôi chỉ đủ trình độ nói và viết những từ ngữ giản dị thông thường nhất; trong khi Tuyết Hoa là cháu nội của một vị Tiến sỹ, cựu thần của triều đình; đã thừa hưởng từ mẹ cô một nền giáo dục thâm sâu từ tấm bé; đã quên rằng kiến thức của cô vượt trội hẳn cả thím tôi, dù lúc ấy Tuyết Hoa chỉ mới bảy tuổi đầu; quên hẳn rằng Tuyết Hoa cũng đã từng là thầy dạy của tôi, không phải chỉ riêng Nữ tự, mà còn Đường thi, còn Tứ thư, Ngũ kinh, còn những cung cách gia giáo, nền nếp và tao nhã mà mẹ và thím tôi không đủ trình độ để dạy tôi. Thế cho nên, những gì cô viết, tôi đã không thấu hiểu cặn kẽ đã vội vàng lên án.

          Trời ạ! Suốt tám năm qua, Tuyết Hoa đã chịu oan ức, chỉ vì sự mù quáng và hờ hững của tôi. Suốt những tháng ngày còn lại của đời tôi, tôi đã mãi mãi bị gặm nhấm bởi lỗi lầm này.

          Ba người chị em nuôi vẫn chưa buông tha cho tôi:

          - Chị lên án là cô ta không biết lo cho gia đình. Chị có biết một người đàn bà nào phải làm lụng quần quật như Tuyết Hoa? Không chứ gì? Vì chị chỉ hé môi ra là có kẻ hầu người hạ. Tuyết Hoa thì không! Việc nhà cô ấy phải lo hết, chưa kể mẹ chồng cô đay nghiến suốt ngày đêm.

          Tôi ngậm câm. Điều này, tôi đã chứng kiến tận mắt.

          - Những chuyện khác cũng thế, - cô Liên nói tiếp, Tuyết Hoa chỉ muốn làm hài lòng chị, kể cả việc cô ta vội vã có con mà không kiêng cữ với chồng cô.

          Tôi kêu lên:

          - Không đúng!

          Liễu Chi nói tiếp:

          - Mỗi lần cô ấy xảy thai, chị chưa bao giờ nói một lời an ủi, mà chỉ khuyên cô ấy: "hãy tiếp tục, hãy cố gắng làm lại, nhiệm vụ của đàn bà chúng ta là phải sanh con trai thật nhiều cho gia đình chồng". Chị đòi hỏi cô ấy phải nghe theo lời khuyên của chị, khi cô ấy làm theo, chị chỉ trích cô ta trước mặt mọi người.

          - Các chị không có mặt, - tôi la lên.

          - Bài Ca Đoạn Tuyệt của chị đã lan truyền khắp làng khắp xóm, cần gì chúng tôi có mặt.

          - Các chị bẻ cong sự thật.

          - Thế ư? – Liễu Chi tiết lộ: chị có biết không, Tuyết Hoa đã nói với chúng tôi về chị không biết bao lần, chưa một lần nào có một câu nói xấu về chị. Nhưng chúng tôi thừa biết chuyện gì đã xảy ra giữa hai người.

          - Tuyết Hoa yêu thương chị đúng nghĩa là một người chị em kết nghĩa: yêu những gì chị có và những gì chị không có. Đào Hoa im lặng nãy giờ, bây giờ cũng lên tiếng. Nhưng chị? Chị yêu cô ta như một người đàn ông yêu một người đàn bà, phê phán cô ta, chỉ cảm kích những đặc điểm của cô ta mà thôi, và muốn thay đổi những khiếm khuyết của cô ấy.

          Thấy tôi đã khổ sở lắm rồi, Đào Hoa thay đổi đề tài để lấy lại không khí thân mật mà chúng tôi đã tạo được từ mấy ngày qua, khi cùng nhau săn sóc cho Tuyết Hoa:

          - Chị có nhớ dạo chúng ta ở chung trên núi, khi Tuyết Hoa bị xảy thai? Cô ta hỏi bằng một giọng khiến tôi nghi ngờ có gì khác thường.

          - Dĩ nhiên là tôi nhớ. Tôi trả lời.

          - Lúc đó, Tuyết Hoa đã bị bệnh rồi.

          - Không thể nào. Chính chồng cô ta đã…

          - Cũng có thể là chồng cô ta đã thêm giọt nước cuối cùng khi đánh cô ta ngày hôm đó thôi. Liễu Chi lý luận: nhưng chị không hề để ý là Tuyết Hoa chảy máu bầm, vừa đen, vừa đặc. Và chúng tôi đã không nhìn thấy vết tích của bào thai nào giữa cái chất máu bầm ấy.

          Một lần nữa, Đào Hoa kết luận:

- Chúng tôi đã ở cạnh Tuyết Hoa suốt thời gian qua, và việc ấy đã tái diễn nhiều lần. Cô ta đang mang bệnh khi chị hát Bài Ca Đoạn Tuyệt với cô ấy.

          Tôi không biết nói gì hơn. Nhiều kỷ niệm trở về chứng thực lời nói của ba người chị em nuôi: Tuyết Hoa mất khẩu vị, mặt càng ngày càng nhợt nhạt, càng lúc càng yếu, trong khi tôi cứ thúc cô ta ăn cùng nhịp độ với tôi, véo má cô ta cho thêm hồng hào, và không ngừng khuyên nhủ Tuyết Hoa phải cố gắng thêm để dọn dẹp nhà cửa cho ngăn nắp, mà quên rằng Tuyết Hoa phải lãnh hết việc nhà, kể cả việc phục vụ, chiều chuộng bà mẹ chồng khó chịu, với sức lực yếu ớt của cô.

Tôi còn nhớ cách đây hai tuần khi tôi dọn sang đây ở, dù bệnh nặng sắp chết, Tuyết Hoa vẫn xin lỗi tôi khi thấy căn phòng không được ngăn nắp. Tâm hồn Tuyết Hoa vẫn trong sạch, trong khi tim tôi thì đã khô khan, cằn cỗi như một cái hạt khô nằm trong chiếc vỏ cũng khô queo.

          Nhiều lúc ngồi nghĩ lại mấy người chị em nuôi này, giờ đây đã chết hết, tôi thầm trách lẽ ra họ phải cẩn trọng lời ăn tiếng nói với tôi, vì tôi là Lữ phu nhân! Nhưng họ đã thẳng thắn, không để tôi đi về trước khi nói ra chân tướng. Đủ chứng tỏ họ quan tâm đến Tuyết Hoa thế nào.

          Tôi trở về nhà, thu mình trên lầu, với chiếc quạt lụa và vài lá thư chưa bị đốt cháy. Tôi tự mài mực, thấm chiếc cọ vào và viết những giòng mà tôi nghĩ là cuối cùng trên tấm quạt của chúng tôi:

          «Chị là người lúc nào cũng đọc được tim tôi, giờ này chị đã bay lượn trên những tầng mây trắng rồi, trên lối đi đến thiên đàng ánh sáng. Tôi hy vọng ngày nào đó, chúng ta lại được cùng nhau chắp cánh bay lượn như xưa…»

          Nhiều năm trôi qua, tôi đã đọc đi đọc lại những giòng chữ ấy, và đã cố gắng làm bao nhiêu việc trong khả năng quyền hạn của tôi để sửa đổi lỗi lầm lớn lao nhất trong đời, mà tôi đã gây ra cho người mà tôi thương yêu nhất.

 

Chương cuối - Hối hận

 

          Bây giờ tôi đã già quá rồi, không còn dệt vải hay thêu thùa được nữa. Mỗi khi nhìn đôi bàn tay, tôi nhận ra những đường nét thời gian của một người đã phải sống quá lâu. Dù làm việc ngoài trời, hay ẩn mình suốt đời trong căn phòng Phụ nữ, thì kết quả cũng như nhau thôi. Da tôi quá mảnh dẻ trong lúc này. Chỉ cần chạm nhẹ vào đâu là cũng đủ bầm tím. Bàn tay tôi yếu đến nỗi không cầm nổi cái nghiên để mài mực, ngón tay không nhấc nổi chiếc cọ để viết chữ. Dù có con ruồi đậu trên tay, tôi cũng không còn sức để đuổi nó đi.

          Đôi mắt tôi đã nhỏ bao nhiêu giòng lệ suốt những năm qua. Tóc đã bạc trắng và thưa thớt, đến nỗi không cài trâm được nữa. Khi có người đi ngang nhà tôi, họ tránh không nhìn tôi. Tôi cũng cố tình né họ. Tôi sống lâu quá đi thôi!

          Khi Tuyết Hoa mất đi, tôi hãy còn nửa cuộc đời để sống! Thật không có gì khủng khiếp bằng. Những tháng năm Gạo Muối vẫn chưa nguôi ngoai, dù tôi đã dấu kín dưới tận đáy lòng.

          Đa số đàn bà dấu mình trầm mặc khi chồng của họ chết đi. Còn tôi, thời kỳ cuối cùng ấy bắt đầu bằng cái chết của Tuyết Hoa. Tôi trở thành một người, như tôi đã nói ở đoạn đầu, là một người mà đến “thần Chết cũng chê” không thèm gọi, cho dù là hoàn cảnh của tôi chưa cho phép tôi rút lui vào bóng tối. Dạo ấy, chồng tôi và gia đình tôi còn cần đến tôi. Dân làng cũng chưa thể thiếu Lữ phu nhân của họ. Chưa kể đến hai người con của Tuyết Hoa mà tôi cần phải săn sóc để chuộc lại lỗi lầm của tôi với người chị em kết nghĩa. Thật không dễ dàng để chứng tỏ sự rộng lượng, nhân từ khi bản tánh của ta đã có tâm địa độc ác rồi. Là tôi đấy! Khổ chưa? Nhưng tôi phải cố gắng vì cái tội nghiệp của tôi gây ra cho Tuyết Hoa quá lớn lao.

          Việc đầu tiên tôi làm sau khi Tuyết Hoa chết, là tôi đã thay thế cô trong tất cả các lễ nghi đám cưới của con gái cô. Xuân Nguyệt có vẻ lưỡng lự không muốn đám cưới, một phần vì buồn khi phải xa gia đình và không biết tương lai sẽ ra sao; cũng như cô đã chứng kiến những cách cư xử tồi tệ mà mẹ cô đã chịu. Tôi nghĩ rằng đó là lý do chính mà tất cả các cô gái đến tuổi lấy chồng đều suy tư. Ngay đêm tân hôn, khi chồng cô say ngủ rồi, Xuân Nguyệt lao mình xuống giếng làng tự vận!

          Tiếng đồn đi xa. “Đứa con gái này không những làm xỉ nhục gia đình nhà chồng, mà còn làm ô uế nước giếng của dân làng. Nó giống mẹ nói mà! Các bà có nhớ “Bài Ca Đoạn Tuyệt” không?” Cái bài ca đã hủy hoại hết thanh danh của Tuyết Hoa, cũng như đã đem lại vòng hoa chiến thắng cho tôi, đã làm lương tâm tôi cắn rứt không ngừng. Tôi đã không ngần ngại đính chánh khi tin đồn ấy đến tai tôi. Điều này lại khiến tôi được thêm tiếng khen là người nhân từ và độ lượng. Nhưng trong thâm tâm, tôi biết là ngay từ đầu, chính tôi là người có lỗi. Cái ngày mà tôi ngồi viết lại cái chết của Xuân Nguyệt lên chiếc quạt lụa của tôi và Tuyết Hoa, là một trong những ngày buồn thảm nhất của đời tôi.

          Tôi lại đặt nỗ lực vào con trai lớn của Tuyết Hoa, giờ đây là đứa con duy nhất còn lại của cô. Dù là ở trong hoàn cảnh thấp kém, và không được sự hỗ trợ của người cha, mà cháu đã học được phần nào Hoa ngữ, và có khiếu về tính toán. Ngoài ra, cháu vẫn làm việc cạnh cha, cuộc sống cũng không khá gì hơn lúc nó còn bé. Tôi đã gặp vợ của cháu: lần này sự lựa chọn thật là hoàn hảo. Không bao lâu sau ngày cưới, cô vợ đã mang thai, nhưng tôi lại buồn với ý nghĩ là cô sẽ phải dọn sang ở hẳn bên nhà chồng để nhìn hàng loạt con heo bị thọc tiết trước sân nhà!

          Tôi không có thói quen xen vào chuyện của đàn ông, nhưng lần này, tôi đã nói nỗi ưu tư này với chồng tôi, là người không những được thừa kế đất đai cò bay thẳng cánh của giòng họ Lữ, mà còn khai triển rộng lớn thêm nhờ vào lợi tức kể từ ngày buôn muối. Đất đai của chồng tôi lan rộng sang đến tận La Tân, và tôi đã gợi ý cho chồng tôi kiếm cho con trai Tuyết Hoa một việc làm gì khá hơn là cứ phải theo cha giết heo bán thịt. Chồng tôi đồng ý, giao cho con trai Tuyết Hoa công việc tính toán và đi thu tiền thuê đất của tá điền; còn thưởng cho hai vợ chồng cháu một căn nhà và một mảnh vườn để tự canh tác. Khi chồng của Tuyết Hoa lớn tuổi, bỏ nghề hàng thịt, thì anh ta dọn về ở ngay cạnh nhà con trai, lấy các cháu nội làm nguồn vui, cả gia đình quây quần hạnh phúc. Nhưng thế cũng chưa đủ cho tôi trả món nợ mà tôi đã thiếu Tuyết Hoa.

         

************

          Đến năm tôi năm mươi tuổi, cuộc đời tôi lại thay đổi lần nữa. Sau khi phải phục vụ người khác suốt cuộc đời, bây giờ đến phiên tôi được phục vụ chứ? Tôi vẫn phải trông chừng tất cả mọi việc trong nhà, nhưng trong thâm tâm, như tôi đã nói, tôi đã lặng lẽ rút mình trầm mặc. Tôi ăn chay, kiêng cữ hành tỏi, không uống rượu. Tôi đọc kinh, sống thanh đạm, hy vọng có thể diệt dục, không gần gũi với chồng tôi. Sau suốt cả cuộc đời tôi phải tranh đấu để chồng tôi không lấy thiếp về nhà, bây giờ tôi lại nghĩ khác hẳn. Chồng tôi đã làm việc cả đời để giữ vững cho gia đình này sung túc, đến lúc anh cũng cần được phần thưởng xứng đáng. Không đợi cho anh lấy quyền chủ gia đình ra lệnh, tôi tự khởi xướng ra, đi cưới cho chồng tôi không phải chỉ một người thiếp, mà đến ba người! Tự tay lựa chọn lấy, thì tôi tránh được những sự ghen tuông khi ông chồng mang những người đàn bà trẻ đẹp vào nhà. Tôi cũng không ngăn cản việc họ có con cái. Trên thực tế, điều này càng làm cho địa vị của chồng tôi trong làng thêm vững chắc. Anh đã chứng tỏ không những là một người chồng dạy dỗ được các bà vợ, mà còn chứng tỏ sự mạnh mẽ thể chất mà một người đàn ông cần phải có.

          Đối với tôi, chồng tôi thường sang phòng gặp tôi những lúc anh có đôi phút rỗi rảnh, để uống trà và trò chuyện một lúc. Sự yên tịnh khiến anh tiêu tan hết những muộn phiền của thế giới bên ngoài. Chưa bao giờ, cuộc sống vợ chồng lại có nhiều giây phút thân mật như thế. Chúng tôi trồng một vườn hoa, quanh năm có hoa đủ loại thi đua nhau nở, để vừa uống trà vừa ngắm hoa, hưởng cuộc đời tao nhã.

          Tất cả con trai của tôi đều đã thành gia thất. Các con dâu cũng rất mau mắn, sinh con đẻ cái đầy nhà. Gia đình lúc nào cũng tràn ngập tiếng cười, tiếng la hét của trẻ con. Chúng tôi thương yêu tất cả các cháu nội ngoại. Nhưng, vẫn còn thiếu! Có một đứa bé không phải là máu huyết của tôi, nhưng tôi lại muốn đem nó về ở gần bên tôi.

          Trong căn nhà nhỏ xinh xắn ở La Tân, hai vợ chồng người con trai của Tuyết Hoa, nay là người lo việc thu tiền ruộng cho chồng tôi, họ có một đứa con gái. Tôi muốn đứa bé gái này sẽ làm vợ của cháu nội đích tôn của tôi. Năm ấy, hai đứa bé được sáu tuổi. Nếu hai gia đình đồng ý thì cũng không phải là quá sớm. Tôi nghĩ rằng chồng tôi không ngăn cản, anh luôn tỏ ra rộng lượng với những yêu cầu của tôi, chỉ vì suốt ba mươi hai năm chung sống, anh chưa bao giờ phải hối tiếc về một quyết định nào của tôi.

          Tôi mời bà Quảng đến nhà, ngay trước khi đứa bé gái đến tuổi băng chân. Bà cụ đến ngay, có hai cô đầy tớ chân to bè bè đi kèm để đỡ bà. Hai cô này cho tôi biết là dạo này đã có thêm nhiều bà mai hành nghề, dành mối của bà Quảng. Nhưng nhờ bấy lâu dành dụm, bà vẫn có thể sống một cách an nhàn. Thời gian đã khiến bà trở thành một bà cụ già xấu xí, móm mém, lưng còng, tóc rụng gần hết. Thân thể bà ta thật mỏng manh, yếu đuối, chỉ chực ngã trên đôi chân bé xíu. Lúc ấy, thấy hình ảnh đó, tôi tự nói là tôi không muốn sống lâu như thế để làm gì? Thế nhưng, mãi đến ngày nay tôi vẫn cứ sống sờ sờ ra đây.

          Tôi mời bà dùng trà và mứt. Chúng tôi truyện trò một lúc và tôi có cảm tưởng là đôi mắt bà ta đã mất hẳn thị giác, không nhận ra tôi nữa. Càng tốt, như thế càng dễ nói chuyện hơn. Cuối cùng, tôi vào đề:

          - Tôi đang muốn tìm một mối cho cháu nội đích tôn của tôi.

          - Bà có cần nói chuyện với cha của đứa bé không? Bà Quảng hỏi tôi.

          - Cha của cháu là con trai tôi, hiện vắng nhà, nên giao cho tôi thương lượng chuyện này.

          Bà lão nhắm mắt lại để suy nghĩ, hay là bà buồn ngủ không chừng? Tôi lên cao giọng nói tiếp:

          - Tôi nghe nói đến một cô gái ngoan ở làng La Tân bên cạnh. Đó là con gái của người chuyên thu tiền thuê ruộng.

          Câu trả lời của bà Quảng cho tôi thấy là bà nhớ rất rõ tôi là ai:

          - Tại sao không đem đứa bé đó vào nhà bà làm đầy tớ? Gia đình bà khá giả. Tôi tin rằng con trai và con dâu của bà sẽ chấp thuận chuyện này một cách thuận lợi.

          Trên thực tế, cái ý tưởng của tôi muốn cháu nội đích tôn của tôi lấy cháu nội của Tuyết Hoa đã không làm hài lòng con trai và con dâu của tôi. Nhưng chúng làm gì tôi được chứ?

          Con trai tôi là một người khoa bảng, sau khi làm quan cháu còn học thêm, và qua một loạt các kỳ thi để trở thành quan tuần án vào năm ba mươi tuổi, đó là một thành tích lớn. Cháu phải đi tuần tra khắp các tỉnh và ít khi về nhà. Nếu có về thì lại kể những chuyện lạ mắt thấy tai nghe, như là những người ngoại quốc to cao, với hàm râu đỏ, và cử chỉ lố lăng, trong khi đàn bà thì ai nấy chân to tướng, mà cái eo thì nhỏ xíu đến nỗi không thở được! Ngoài ra, thì cháu rất hiếu thảo và nghe lời chồng tôi. Con dâu tôi thì dĩ nhiên là phải tuân lời tôi rồi. Nhưng điều này không ngăn cản được cô ta đứng dậy bỏ bữa ăn, vào phòng khóc hu hu, hôm mà tôi đem chuyện này ra bàn cãi.

          Tôi trả lời bà Quảng:

          - Tôi không cần người giúp việc có bàn chân to. Trái lại, tôi muốn kiếm cho cháu nội tôi một người vợ có đôi chân bé như đóa hoa sen.    

          - Cái chuyện băng chân cho con bé còn chưa bắt đầu, đâu có gì bảo đảm…

          Tôi ngắt lời:

          - Nhưng bà có kinh nghiệm. Bà đã nhìn chân của cháu rồi, theo bà thì kết quả sẽ ra sao?

          - Rất có thể là mẹ của nó làm không đúng cách.

          - Nếu thế thì tôi sẽ phải tự theo dõi mọi quá trình băng chân của cháu.

          - Bà không thể đem đứa bé về đây. Cháu nội của bà không thể nhìn thấy vợ của cháu trước ngày cưới.

          Bà ta vẫn không thay đổi ý kiến. Tôi cũng thế:

          - Bà nói đúng. Tôi sẽ sang nhà đứa bé.

          - Tôi e rằng bất tiện…

          - Có gì đâu, tôi qua đó hoài. Tôi có nhiều việc phải dạy dỗ cho cháu.

          Tôi thấy bà Quảng trầm ngâm suy nghĩ. Tôi cúi xuống, cầm tay bà cụ:

          - Dì Quảng, - lần đầu tiên tôi gọi bà là "Dì" với tất cả sự chân thật, - tôi nghĩ rằng bà nội đứa bé gái này cũng sẽ tán thành việc làm này của chúng ta.

          Nước mắt tràn ra trên khuôn mặt nhăn nheo của bà Quảng. Tôi nói vội:

          - Đứa bé này phải học làm việc nhà. Thỉnh thoảng nó cũng phải đi ra ngoài một chút, không đi xa đâu, nhưng mỗi năm đến đền Cầu tự chẳng hạn, chắc bà không thấy gì trở ngại chứ? Tôi nghe nói rằng nơi đó xưa kia có một người làm món bánh khoai rán thơm ngon tuyệt vời, nay đã do đứa cháu nội của ông ta nối nghiệp.

          Cái kỷ niệm này một lần nữa lại làm bà Quảng rơi lệ, chắc hẳn bà lại đang nghĩ tới đứa cháu gái Tuyết Hoa của mấy mươi năm về trước.

          Tôi tiếp tục thương lượng với bà Quảng và cuối cùng bà ưng thuận cho đứa cháu nội của Tuyết Hoa được hoàn toàn dưới sự che chở của tôi. Tôi tự tay băng chân cho cháu, và hết lòng thương yêu nâng đỡ cháu tập đi đi lại lại trong phòng trên lầu nhà cháu. Kết quả là Mẫu Đơn đã có đôi chân nhỏ nhắn thật toàn hảo hình đóa sen, kích thước y hệt như chân tôi. Suốt thời gian mà xương chân dần dần lành lặn và nằm yên chỗ, tôi sang mỗi ngày quan sát và thay băng cho cháu. Hai vợ chồng của con trai Tuyết Hoa rất thương nó, nhưng con trai của Tuyết Hoa không muốn nhắc đến chuyện quá khứ đau buồn của mẹ cậu ta. Cô vợ thì lại không biết chuyện gì hết. Cho nên tôi đành kể lại cho đứa cháu gái của Tuyết Hoa nghe về chuyện bà nội của nó và người chị em kết nghĩa của bà, tình bạn lâu bền và những thử thách họ đã trải qua.

          - Bà nội của cháu sanh trong một gia đình khoa bảng, tôi kể. Bây giờ cháu sẽ học tất cả những gì mà bà nội của cháu đã dạy cho ta: học thêu thùa này, học phong cách thanh nhã này, và quan trọng hơn cả là học viết chữ bí mật của phụ nữ chúng ta.

          Mẫu Đơn là một học trò siêng năng, nhưng một hôm cháu nói:

          - Chữ của cháu không được đẹp. Cháu hy vọng là bà không quá nghiêm khắc với cháu.

          Nó là cháu nội của Tuyết Hoa. Làm sao mà tôi không nhận ra là nó đã thừa hưởng cái gì của bà nội nó chứ?

************

          Thỉnh thoảng tôi lại tự hỏi cái chết của Tuyết Hoa và cái chết của chồng tôi, cái nào buồn hơn, thê thảm hơn? Cả hai đều phải chịu đựng. Nhưng chỉ có chồng tôi là được làm đám ma trọng thể, được ba người con trai quỳ gối đưa ra đến tận chỗ hạ huyệt. Năm ấy tôi năm mươi lăm tuổi, đã quá già để các con tôi bắt tôi phải lấy chồng khác. Và tôi đã ở vậy cho đến nay. Tôi không nói nhiều hơn về chồng tôi nữa, nhưng tôi phải nói thêm rằng, nhờ anh mà tôi đã học hỏi để sinh tồn, ngày này sang ngày khác. Sau khi chồng tôi mất đi, tôi ăn càng ngày càng ít đi, không còn thiết tha với vai trò của một phu nhân gương mẫu trong làng nữa. Thời gian cứ trôi đi, từng ngày, rồi từng tuần, từng tháng. Tôi quên cả thời gian, không cần để ý đến bốn mùa. Cứ thế, nhiều năm trôi qua, nhiều thập niên trôi qua...

          Khi người ta sống quá lâu, thì bị một vấn đề là phải chứng kiến cái chết của nhiều người thân. Tôi đã tiễn đưa hầu hết những người mà tôi quen biết: cha mẹ, chú thím, các anh chị em của tôi, bà Quảng, chồng tôi, con gái và hai con trai của tôi, tất cả các em dâu của tôi, ngay cả cô đầy tớ Tâm Can.

          Con trai tôi đã đỗ bảng nhãn và cuối cùng đỗ tiến sỹ, làm quan trong triều. Chính Hoàng đế đã duyệt bài thi của cháu. Cháu ít về nhà, nhưng đã bảo đảm địa vị của Lữ gia chúng tôi qua nhiều thế hệ. Cháu rất hiếu thảo và không sơ sót bổn phận, thậm chí mua sẵn cho tôi một chiếc quan tài bằng gỗ đàn hương quí giá để tôi nghỉ ngơi sau này.

          Tên của cháu đã được đề danh ngay bên cạnh tên của ông bác Lữ, và tên của ông cố của Tuyết Hoa, là hai cựu thần của triều đình, trong danh sách của những người đỗ đạt hiển vinh trong làng, ngay trong tổ đình của Cự Tống, cho đến khi chính cái đền ấy tự đổ nát với thời gian.

          Ngày nay, Mẫu Đơn, cháu dâu trưởng của tôi, cũng là cháu nội của Tuyết Hoa, đã ba mươi bảy tuổi, tức là lớn hơn tôi sáu tuổi, lúc mẹ chồng tôi chết và tôi trở thành Lữ phu nhân. Vì cháu là vợ của cháu nội đầu tiên của tôi, cho nên sau này khi tôi chết, đến phiên Mẫu Đơn sẽ thay thế chức vị Lữ phu nhân của tôi. Cháu nội tôi cùng Mẫu Đơn sanh được hai trai, ba gái. Khi bọn trẻ lớn lên lập gia đình, cũng sanh con trai con gái đầy nhà. Tôi nhìn thấy nét mặt của chúng vừa có những nét thanh tú của Tuyết Hoa, nhưng cũng có cả những nét mạnh mẽ, rắn rỏi của tôi nữa.

          Khi còn bé, chúng tôi cứ nghe người lớn nói rằng con gái chỉ là những cành cây vô dụng, không lưu truyền được tên họ của gia đình mình, mà chỉ giúp cho nhà chồng nối dõi nếu ta sanh được con trai. Điều đó cũng đúng. Nhưng lúc sau này, tôi hãnh diện, vì hai giòng máu của tôi và của Tuyết Hoa đã hòa nhập vào với nhau để lưu truyền dòng dõi cho nhà họ Lữ.

          Tôi luôn tin vào câu tục ngữ "có một bà vợ ngu si  hơn là có bà vợ khôn ngoan quá", nên suốt cuộc đời, tôi đã không màng đến cuộc sống bên ngoài. Tôi không học Hoa ngữ của đàn ông mà chỉ chăm chú trau giồi Nự tự. Trong nhiều năm trời, khi Mẫu Đơn còn bé, tôi đi đi lại lại La Tân để truyền dạy Nữ tự  cho Mẫu Đơn và nhóm chị em nuôi của cháu. Nhiều phụ nữ trong làng đã nhờ tôi viết lại cuộc đời của họ bằng Nữ tự. Tôi khó lòng mà từ chối, để bù lại đôi khi được chút thù lao bé nhỏ: vài quả trứng gà hay vài đồng xu. Đối với Lữ gia thì có đáng gì chút thù lao ấy, nhưng tôi vẫn nhận cho họ vui lòng, và để họ thấy cuộc đời của họ cũng đáng giá, dù chỉ là những mảnh đời bất hạnh: những cô bé sinh ra trong gia đình nghèo, cha mẹ phải gả chồng từ những ngày thơ ấu, sống như một người giúp việc cho gia đình nhà chồng. Có những người thì không may mất hết con cái khi vừa sanh ra, nên bị thất sủng, chỉ sống với địa vị thấp kém nhất bên gia đình chồng.

          Chuyện của đàn ông thì tôi không màng. Họ chỉ là những người coi thường vợ mình, coi phụ nữ không hơn không kém như những con gà để đẻ trứng, hay như những con trâu để gánh vác những việc nặng nề. Họ đánh giá phụ nữ thấp kém hơn họ, vì yếu đuối, ít can đảm và ít bền bỉ hơn họ. Họ đòi hỏi phụ nữ trung thành với họ, nhưng khi chán chường, họ sẵn sàng đem đôi ba bà thiếp hay tình nhân về nhà.

          Sau khi nghe và viết lại biết bao nhiêu mảnh đời của những người phụ nữ đau khổ ấy, tôi chợt có ý tưởng viết lại đời tôi. Bốn mươi năm trôi qua, tôi đã sống dằn vặt trong hối hận triền miên. Chỉ có một người duy nhất đã coi tôi là quý giá, đã thương yêu tôi bằng con tim chân thật nhưng tôi lại cư xử và coi người ấy không khác gì những ông chồng tệ hại nói trên.

          Sau khi hỏi tôi có bằng lòng nhận làm Dì của hai đứa con cô, Tuyết Hoa đã nói: "bên cạnh những đức tính tốt của chị, tôi nghĩ rằng chính tư tưởng của hai ta, đã gắn liền chúng ta lại với nhau, không có gì có thể phân ra được." Tôi đã nhiều lần suy nghĩ về câu nói đó. Tuyết Hoa có nói thật không? Và ở cõi bên kia, cô đang sống thế nào? Có biết đến sự hối hận và dằn vặt của tôi không?

          Nếu thật sự là người chết rồi vẫn có thể có cảm tính, có tư tưởng như người sống, tôi xin Tuyết Hoa và những nhân chứng trong câu truyện của chúng tôi: xin hãy nghe những gì tôi nói, hãy đọc những lời ăn năn chân thành của tôi, và hãy cho tôi một lời tha thứ.

 

Hết