Mấy năm trước khi còn đi làm, công ty thường phối hợp với các hãng bảo hiểm sức khoẻ tạo ra nhiều chương trình khuyến khích nhân viên vận động, giữ gìn sức khoẻ. Ai đi được mười nghìn bước trở lên mỗi ngày trong vòng bốn tuần thì được một trăm đô. Có lần còn cho lại năm chục cho ai cần mua một cái đồng hồ thông minh để đếm bước chân. Không như nhiều người khác thêm vào vài trăm mua một cái Apple watch đeo cho đẳng cấp, mình mua một cái fitness band hai mươi lăm đồng ở Amazon.com, vẫn còn đeo đến bây giờ, còn dư được hai mươi lăm đồng bỏ túi. Nếu cái fitness band đếm xê dịch với cái Apple watch vài ba trăm bước mỗi ngày thì có tổn hại gì cho sức khoẻ không? Có cần ai đó cho mình biết tối hôm qua ngủ bao lâu, ngủ có sâu không, để hôm sau sẽ ngủ ngon hơn?

Có lẽ nhờ thế mà dần dần thích đi bộ. Ở đâu cũng muốn đi bộ, cũng tìm cơ hội để đi bộ. Ở Orange County đi lên về giữa hai cái pierNewport Beach khi trời vừa ửng sáng, nghe tiếng sóng biển êm đềm, hít thở mùi nước biển như có cái mặn mặn sớm mai, nhìn những đàn chim con chạy tìm mồi trên bãi cát chưa có vết chân người. 

Gần đây lại hay cùng người bạn tới Bolsa Chica Ecological Reserve, đi bộ cả giờ trên con đê, chờ coi mặt trời lặn bên kia con đường ven biển dẫn tới tận San Francisco. Ở Kyoto thì dậy sớm đi dọc bờ sông Karmo, có khi còn ướt sương, qua năm bảy cây cầu, có mấy con chim đứng đơn độc trên những tảng đá giữa dòng sông…vô cùng bình yên. Mới đây qua Fukuoka thì tới Uminonakamichi Seaside park, đi quanh mấy giờ chưa hết những con đường rất đẹp, đầy cây và hoa, dừng coi người hoạ sĩ cặm cụi vẽ bức tranh của rừng hoa tím trước mặt…Vê Huế thì đi từ Đập Đá, Vỹ Dạ tới cầu Trường Tiền, lên cầu Nguyễn Hoàng, qua chợ Đông Ba, về cầu Gia Hội, để dừng lại uống một ly cà phê ở một quán cóc bên bờ sông, dưới tàng cây, nhìn về bên kia sông là nơi mình sống thưở niên thiếu, qua bao nhiêu là biến động. Đã lâu quá rồi mà cứ như mới ngày hôm qua thôi. Năm ngoái về Sài-gòn, gặp mấy ngưới bạn đồng môn ăn trưa gần đường Nguyễn Huệ. Khi xuống đường chia tay mấy người bạn gọi Grab và hỏi mình đi về bằng gì, mình nói đi bộ, mà trời lại mưa. Chắc ai cũng nghĩ mình không bình thường, có “vấn đề” rồi.

Thế thì lên New York City nầy đã gần hai tháng và chắc sẽ ở thêm hai tháng nữa cho tới hết mùa đông lạnh giá nầy, ngày nào cũng dưới zero độ, bàn tay lạnh cóng, mua ly cafe đá đi vòng quanh cả nửa ngày đá vẫn chưa tan, đi đâu? Trên những đường phố đầy người đủ mọi màu da, nói trên trăm thứ tiếng khác nhau, túa lên từ subway vội vã đến chỗ làm? Trên những đường phố rào cản để tu sửa với những đống bao rác chờ xe đến mang đi tràn ra cả lối đi, phải dè chừng để tránh phế thải của chó do những người chủ nâng niu dẫn thú cưng đi dạo hai lần mỗi ngày, trân trọng nói “cám ơn” với chó khi nó nghe lời chủ làm điều gì đó nhưng lắm lúc lại quên không thu dọn những thứ thú cưng để lại trên đường.

Tránh ra những nơi đó, New York có những lúc rất bình yên và những con đường rất đẹp để đi bộ. Hôm Chúa Nhật dẫn đứa cháu đi ăn pizza, trên đường đi nó nói “I love Sunday mornings, so peaceful”, nó mới năm tuổi…

Không thiếu cái “cớ” để ra khỏi nhà đi bộ mỗi ngày. Hết thức ăn, thay vì lấy hai chuyến subway xuống Chinatown thì kéo cái xách có bánh xe đi bộ, rồi đi quanh mấy chợ mua cá, mua thịt, mua rau…đi về mất gần hai tiếng, được hơn sáu ngàn bước. Rãnh rỗi thì đi theo con đường rất đẹp dọc theo sông Hudson, nhìn qua New Jersey, rất gần tượng Nữ Thần Tự Do, qua những cái pier với những chiếc ghế dưới hàng cây mà đã nhiều lần ngồi chờ coi mặt trời lặn trên sông. Hôm đầu tuần, đi subway tới Carnegie Cafe vừa mới mở, đèn vàng ấm áp, gọi một cái blueberry scone với một ly cappuccino vô cùng ngon, rồi đi bộ trên 5th Avenue, dọc theo Central Park, qua hơn ba mươi ngã tư tới NY Metropolitan Museum. Mấy ngày trước có tuyết rơi nên trong park vẫn còn trắng tuyết, đẹp như trong tranh. Việt Nam nay đã có một tủ kính trong khu vực South East Asia Arts, trưng bày sáu bảy cái bình nhò. Khu vực của Nhật đang đóng cửa để trùng tu, sẽ mờ lại vào giữa tháng giêng. Lại được thêm một cái “cớ” để trở lại Carnegie Cafe, có blueberry scone và cappuccino, đi bộ ba mươi ngã tư dọc theo Central Park trên đường tới museum coi Japanese Arts.

Chưa hết, lại mới có thêm một động lực rất thực tế để đi bộ. Các tiệm ăn, tiệm bánh..ở quanh đây có một app, TooGoodToGo, để bán thực phẩm họ nghĩ sẽ không bán hết vào cuối ngày, giá một phần ba, thay vì bỏ đi. Chỉ việc chọn thứ mình muốn, đặt mua qua app, trã tiền, họ sẽ hẹn giờ đến lấy, thường là sau bốn năm giờ chiều. Nhiều hôm trời lạnh cũng gắng đi, không phải vì đã đặt mua sợ mất tiền đã trả, hay tiếc mấy cái almond croissant hai đổng mỗi cái thay vì sáu, bảy đồng, mà vì mình không muốn tạo thói quen biếng nhác, rồi đổ thừa cho “hoàn cảnh”. Con người rốt lại là sản phẩm của xã hội, của thời đại và môi trường. Ai rồi cũng phải thích nghi để sống đời mình. Tự hứa là đã định, đã muốn, đã cam kết thì phải gắng làm cho chu toàn, để “nhẹ nhàng” với chính mình dù không ai biết. Có ai muốn mạnh khoẻ mà chỉ ngồi ghế coi mấy cái videos dạy cách tập thể dục cho hiệu quả? Có ai chỉ đọc truyện Kim-Dung mà có võ công cái thế?

Thành phố New York nầy đổi mới mỗi ngày. Công trình xây dựng, building, tiệm ăn, quán cà phê, nhà hát, công viên, playground cho trẽ em, tu bổ đường sá..khắp nơi, không lúc nào ngừng nghỉ. Rất hổn độn, ồn ào nhưng có phải vì thế mà thành phố nầy rất sống động. Sân tennis, sân đá banh, rạp chiếu bóng…xây ở tầng ba, tầng bốn dưới lòng đất cho trẽ em và cả người lớn đá banh, giải trí trong mùa mưa tuyết. Dĩ nhiên là không rẽ, không dành cho mọi ngưới. Nhưng không thiếu những điều nhỏ họ luôn thay đổi, cải tiến để làm cho đời sống mọi người dễ dàng, thuận tiện hơn.
Như subway chẳng hạn, nay nhiều chỗ có thêm màng hình trên lối xuống cho biết tàu nào đang tới, bao lâu nữa sẽ tới…Trên nhiều tàu đã có bảng báo hiệu sắp đến trạm nào để người đi khỏi phải lo lỡ chuyến. Chuyện nhỏ, nghĩa lý gì khi so với hệ thống giao thông công cộng bên Nhật, bên Tàu phải không? Nhưng đây là hệ thống subway đã xây từ hơn trăm năm trước khi người ta còn dùng ngựa để chuyên chở đá và là huyết mạch cho bao triệu người sinh sống ở đây. Cũng nhờ nó mà có NYC Chinatown.

Ở đây, phải đổi mới, phải cải tiến để hay hơn, tốt hơn, phải khác biệt, phải “không giống ai” mới sống còn. Tiệm ãn, tiệm bánh, quán cafe càng khắc nghiệt. Những người New Yorkers nầy sống và suy nghĩ khác mình. Tiệm ăn gần nhà dù có ngon, rẽ, đẹp… họ cũng chỉ đến một vài lần cho biết rồi sẽ đi tìm nơi khác. Bánh mì và Phở ở đây rất được ưa chuộng. Có tiệm bánh mì gần NY Stock Exchange mười mấy đồng một ổ, người ta phải sắp hàng dài buổi trưa. Ờ ngã tư là một tiệm phở đi ngang không thơm mùi hồi nhưng có tấm hình của tô phở rất lớn treo ngoài cửa, chỉ có ba lát bò tái và mấy cọng rau quế, đề giá mười bảy đồng. Cả hai tiệm nay đã đóng cừa nhưng thấy báo nói có một tiệm bánh mì khác mới mở ở một khu vực sang trọng hơn, bán hơn một nghìn ổ mỗi ngày, và lại có thêm một tiệm phở mới khai trương, trang trí một hàng chai tương ớt trên thành cửa sổ.

Họ thích trải nghiệm. Họ cần cái mới, họ không sợ sự thay đổi. Một thành phố hơn tám triệu dân vừa được bầu chọn là thành phố tốt thứ hai trên thế giới sau Luân Đôn, là trung tâm tài chánh của thế giới, có rất nhiều cái “nhất”, quá “tư bản” … lại vừa bầu một thanh niên Muslim rất trẽ, không nhiều kinh nghiệm, tả khuynh, làm Thị Trưởng!

Những công trình rất lớn lao, “ấn tượng” tiếp tục xây thêm. Nhà hát vô cùng hiện đại. Shopping Center với phí tổn nghe đâu cả hai tỷ. Cái công viên lấn ra ngoài sông có cả nhà hát mẩy trăm chỗ ngổi ngoài trời cho những đêm đọc thơ hàng tuần trong mùa hè. Cư dân ở đây biết tới các công trình mới xây qua báo chí và các phương tiện truyền thông khác: của ai, ai xây, tốn bao nhiêu, kiến trúc sư nào, designer là ai…rổi chia sẻ, hẹn hò nhau đến đó để trải nghiệm nhưng chưa thấy có công trình nào mà báo chí, cơ quan nhà nước nói đến không ngượng ngùng là “đột phá”, “đỉnh cao”, “tự hào”, “cả thế giới phải ngỡ ngàng thán phục”…

**

Hôm qua trời mưa, đội dù tới nhà sách gần chân cầu Brooklyn, mười phút đi bộ từ nhà. Bên ngoài nhìn rất nhỏ, khiêm nhường, cái cửa gỗ sơn xanh chỉ một người vào lọt, nhưng bên trong là hai tầng lầu đủ mọi loại sách. Dĩ nhiên không thể so sánh được với nhà sách Strand ở mid-town, nơi mà sách của họ nếu sắp với nhau sẽ dài tới ba mươi cây số, nhưng vô cùng ấm cúng. Nhiều cuốn sách cùa Ocean Vương, một nhà văn gốc Việt, trưng bày ở gần cửa ra vào. Ông (hay Bà?) được nói đến như là một trong những nhà văn lớn của thế kỷ, đã đến nhà sách nầy để gặp độc giả, ký sách mới xuất bản của mình. Người ta phải sắp hàng trước cả giờ khi đi nghe các buổi nói chuyện về văn chương của Ông.

Tìm thấy rồi chụp hình nhiều cuốn sách muốn đọc, nhưng có một cuốn không thể không đọc ngay: Letter from Japan của Marie Kondo.

**

Hoàn toàn khác với cuốn đầu tiên của Bà, The Life-Changing Magic of Tidying Up trong danh sách NY Times Best Sellers, dạy về cách làm gọn gàng nhà cửa, nơi làm việc…bằng KonMarie Method. Soạn tất cả đồ đạc đang có – sách vở, áo quần, chén bát, vật dụng...- ra một chỗ trống, cầm lên từng món một và tự hỏi “cái nầy có còn làm cho mình hạnh phúc không?”. Nếu còn, để sang một bên để giữ lại. Nếu không, nói lời cám ơn với nó và cho đi, bỏ đi. Cho dù nó có thể đã mang tới niềm hạnh phúc nào đó trong quá khứ nhưng nay không còn nữa, giữ lại làm gì? Biết giữ lại chỉ choáng chỗ, phải bận tâm mà không mang lại hạnh phúc gì nhưng buông bỏ không hề dễ, cả một quá trình…

Letter from Japan là những chia sẻ, rất riêng tư nhưng sâu lắng và thơ mộng, về nước Nhật, người Nhật, văn hoá Nhật qua cái nhìn một người Nhật yêu đất nước mình. Hơn mười nãm sống và làm việc ở Mỹ, đi nhiểu nước Châu Âu, giúp Bà cơ hội tiếp cận với văn hoá phương Tây vì thế mà Bà đã bớt đi cái dè dặt, thẹn thùng của một người phụ nữ Á Châu rẩt nhỏ nhắn khi trình bày các nhận xét và hiểu biết của mình, có khi ngay ở vùng “nhạy cảm”: nhà tắm suối nước nóng công cọng, nhà vệ sinh…Sự am hiểu thêm về Anh Ngữ, qua học tập và giao tiếp, làm sự so sánh cách nhìn, cách nói của Đông Tây (Nhật và Mỹ) về cùng một sự việc rất sâu đậm, thú vị và lôi cuốn.

Đã qua Nhật mười mấy lần nhưng khi đọc xong cuốn nầy mới biết mình không biết gì nhiều. Như một người đã dạy Anh-Văn nhiều năm ở Nhật chia sẻ: người Nhật như củ hành tây, bóc một lớp tưởng đã thấy ruột nhưng không, còn một lớp nữa, một lớp nữa…chỉ khi nào biết không bao giờ hiểu được người Nhật thì khi đó mới bắt đầu hiểu người Nhật mà thôi.

Marie Kondo mở đầu cuốn sách với bốn chương nói về bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông. Nếu không sinh ra, lớn lên, hoà nhập với sự thay đổi của đất trời từ thời thơ ấu thì không thể có cái cảm xúc như bà có. Mình thích hoa đào mùa Xuân, vô cùng thơ mộng trên đường đi, trong công viên, trước sân những căn nhà duyên dáng, vướng vào toa xe lửa chạy xuyên qua khu rừng thưa, nhưng làm sao mà có sự rộn rã, nôn nóng mong chờ mùa xuân đang tới khi chợt bắt gặp đâu đó những nụ hoa đào đầu tiên. Để được cùng gia đình, bạn bè ngồi với nhau trên tấm chiếu trãi dưới những cây hoa đào đang nở rộ và nhìn theo những cánh hoa bay. Nếu mình không sinh ra và lớn lên ở Huế thì cái cảm xúc khi nghe Chiều Một Mình Qua Phố sẽ khác đi. “phố” nào? và tại sao lại “qua” phố mà không “lên” phố, “xuống” phố hay “đi” phố. Rồi “hàng cây thắp nến lên hai hàng”, hàng cây nầy là cây gì, ở đâu, mà có hai hàng nến thắp lên…

Mỗi chương tiếp theo nói về một điều thôi, có khi rất đời thường mà ai cũng biết qua sách báo giáo khoa, tạp chí du-lịch…nhưng ở một góc độ khác, vô cùng cuốn hút, sâu sắc: Dễ Thương (Kawaii), Tắm Suối Nước Nóng (Onsen), Truyện Tranh (Manga)…

Chương nói về Onigiri, miếng cơm nắm hình tam giác ở giữa có chút cá hồi, cá thu hay một miếng rau quả gói bằng lá rong biển … làm liên tưởng tới cái bánh chưng. Nếu không sinh ra, lớn lên và yêu mến văn hoá, truyền thống nước mình thì làm sao “thấy” được có cái gì khác trong cái bánh chưng sau lớp lá chuối, lá dong ngoài nếp, đậu xanh và thịt ba rọi. Các nhà phê bình ẩm thực giỏi nhất trên thế giới cũng chỉ nói được đến mức bánh chưng chưa được mềm, cần nấu thêm một giờ mười lăm phút nữa ở lửa 200 độ C, thêm chút muối trong nếp cho đậm đà, sắp phần mỡ của mấy miếng ba rọi vào trong để khi nấu mỡ không tan ra ngoài dính vào nếp….Làm sao họ có được cái “vui” khi ngồi lau lá, vo nếp, gói bánh với những người thân chung quanh, đợi chờ một năm mới đang tới. Làm sao họ có những đêm không ngủ, canh chừng nồi bánh chưng để thêm nước, giữ lửa, rồi vớt ra những cái bánh chưng vừa chín còn rất nóng, thơm mùi nếp chín lẫn trong mùi lá. Làm sao mà họ có cái cảm xúc, cái tĩnh lặng lẫn chút bùi ngùi khi mở ra một chiếc bánh, dù không vuông vắn, đặt lên bàn thờ, thắp một cây hương, để nhớ tới những người thân nay không còn đây.

Cái Onigiri cũng tương tự như thế với Bà Marie Kondo, không phải là chỉ là một vắt cơm rất ngon, đẹp, tiện lợi, bán dưới một đô-la, bày bán khắp nơi bên Nhật trong các nhà ga, 7-Eleven, Family Mart…

Rồi bà giải thích ảnh hưởng của chử Đạo, con đường (“Do”, the way) đến văn hoá Nhật và, trong một chương khác, người Nhật hành xử thế nào với sự không “hoàn hảo”. Họ chấp nhận những điều không hoàn hảo là thực tế của đời sống nhưng thay đổi, cải tiến..để chúng trở thành mới mẽ, tốt đẹp hơn. Một cái ly trà bị vỡ, họ gắn lại những mãnh vỡ bằng lớp keo có màu hoà hợp, biến các đường nức thành những đường vân tuyệt đẹp quanh chén trà. Cái ly trà vỡ tưởng phải bỏ đi nay là một cái ly mới, đẹp hơn, độc đáo hơn và, quan trọng hơn hết, không có cái thứ hai. Con người cũng thế, ai cũng có vết nức, mãnh vỡ. Mỗi người phải tự tìm keo nào thích hợp cho mình để không những sửa lại những vết nức, gắn lại những mảnh vỡ mà, nhờ vào các đường vân tạo ra từ keo, làm đời mình thêm long lanh, độc đáo và độc nhất.

Cảnh quang thiên nhiên cùa Nhật chắc gì đẹp hơn Việt-Nam, nhưng qua bàn tay con người chăm sóc với lòng trân trọng và bảo vệ thiên nhiên, họ biến Nhật thành một đất nước vô cùng xinh đẹp, khắp nơi. Làm gì họ cũng cố gắng cải tiến rồi cẩn trọng giữ gìn vì muốn để lại “cho những thế hệ về sau”. Rất khác với “hy sinh đời bố, củng cố đời con”!

**

Trước ngày ghé lại Nhật trên đường về, đi bộ theo đường Lý Tự Trọng, xưa là đường Gia-Long, từ chợ Bến Thành về đường Hàng Sách bên hông Nhà Thờ Đức Bà. Vẫn còn hàng cây dài rất đẹp nhưng lề đường nay đã nức lở, hoang phế, tiêu điều. Dưới mỗi gốc cây là một đống rác không biết từ lúc nào. Một nhóm thanh niên ngồi sửa giày dép dưới tấm vải dầu treo trên tường thành, ở trần ăn trưa cạnh đống rác.

Tìm được cuốn “Nếu Biết Trăm Năm Là Hữu Hạn” mà đã mua một cuốn khi ghé Nhà Sách Nguyễn Huệ tuần trước và đã đọc hết trong những lúc chờ hết mưa trong khách sạn. Cuốn nầy để gởi cho cô cháu bên Sydney, người có suy nghĩ giống mình dù còn rất trẽ. Ở đây, thời buổi nầy mà còn người viết một cuốn sách như thế nầy, và đã tái bản tới ba mươi lần! Nếu biết trăm năm là hữu hạn rồi thì phải làm gì, phải sống như thế nào đây…

**

Gần cuối năm ngoái về Viêt-Nam để đi Xi’an, may mắn được người bạn đồng môn cho đi theo lên Kon-Tum, Pleiku để thăm sáu viện mồ côi nuôi gần bảy trăm em mà Anh và một tổ chức thiện nguyện của trường cũ đã giúp trong rất nhiều năm qua: chi trã học phí, giúp vốn để các Viện gia tăng canh tác, trồng trọt, nuôi heo gà…nhờ thế mà nhiều em sẽ được tiếp tục đến trường, bữa ăn có thêm thịt cá…

Gặp một người “nước ngoài” ở một viện mồ côi. Anh là người Úc, có nghề làm bánh nên tìm đến đây để dạy mấy đứa nhỏ làm bánh mì đem bỏ mối cho mấy tiệm ăn ngoài phố để thêm thu nhập. Mỗi ngày Anh lại còn đạp xe giúp đem bánh mì đi giao. Anh kể mấy hôm trước cô con gái bên Úc facetime trong khi Anh đang cùng mấy đứa nhỏ nhồi bột làm bánh mì, cô khóc quá trời. Chắc không phải khóc vì thấy cha mình và mấy đứa nhỏ vất vã tội nghiệp quá, vì ai cũng cười nói vui vẻ, mà khóc vì mừng cho cha mình biết sống đời hạnh phúc. Như người mẹ khóc vì mừng con thi đỗ…

Texted cho mấy người bạn thân thiết xin họ cùng giúp cho mấy nơi nầy. Nhiều người cho ngay không ngần ngại. Nhiều người nói tiền bạc không phải là vấn đề, vấn đề ở chỗ họ không muốn dính dáng gì tới Việt-Nam. Họ hỏi cho như thế có phải là gíúp chế độ không? Mình tôn trọng những người vì lý do nầy, lý do khác không về Việt Nam, nhưng không hiểu tại sao có cơ hội giúp trực tiếp, không lo bị ai ăn chận, cắt xén, để những em bé mồ côi được tiếp tục đến trường, bữa ăn thêm dinh dưỡng, có thêm tấm áo lạnh mặc mùa đông, có cái máy sấy để có thể có áo quần khô đi học ngày hôm sau trong mùa mưa – không như mình đã phải cởi quần dài quấn lên cổ sau lớp áo mưa khi đạp xe đi học trường làng – mà không làm chỉ vì “sợ” giúp chế độ thêm cũng cố!

Gặp mấy người bạn “khá giả” ở Sài-gòn, họ muốn đưa đi “tham quan” mấy khu dinh thự, nghỉ dưỡng rất hoành tráng mới xây xong. Cám ơn họ nhưng nói thôi, để dịp khác. Nhà to, dinh thự lớn mình đã được thấy ở nhiều nơi rồi. Ở đây, họ có biết bờ sông nào yên tĩnh, không đèn xanh đèn đỏ nhấp nháy, để ngồi xuống với nhau uống một ly cafe, nhìn nước chảy, nói chuyện trăng sao. Có vườn trẽ nào để cha mẹ có thể đưa con tới gặp bạn bè cùng nhau leo trèo, đu giây, trượt cầu… sau giờ học hay cuối tuần? Hay một công-viên, có cây cao bóng mát không có rác dưới gốc, có những băng ghế để ai cũng có thể ngồi được với nhau, nói năm ba câu chuyện không đầu không đuôi…

Có chỗ nào như vậy ở đây không?

Nguyễn Quang

NYC, tháng Giêng, 2026.


Joomla Hosting and Maintenance by Cybersalt

Copyright © 2014-2026. VietVancouver, All rights reserved

  • Số Lượt Truy Cập 2543432