
Chẳng bao lâu chúng tôi đã làm hòa với bọn con gái mặc dù lúc mới gặp không được êm đẹp lắm. Chúng tôi cần nương tựa lẫn nhau. Đã hai tháng rồi, bọn họ chưa được tiếp xúc với thế giới bên ngoài, họ không có máy thu thanh nên rất nóng lòng muốn biết tình hình cuộc chiến ra sao. Khi nghe tin quân Nga đã thắng trận chiến ngoại ô Mạc Tư Khoa, Galina, cô gái trẻ tóc nâu, cười với cô chị, Nina, trong khi gục gặc cái đầu làm như thể cô ta đã tiên đoán được như vậy. Mấy cô gái hỏi thăm về thành phố Leningrad, nhưng họ không quan tâm về con số bao nhiêu người chết trong tháng Chạp hay khẩu phần bánh mì được cấp phát hàng tháng cho mỗi người như thế nào. Họ đến từ những làng quê bé nhỏ đã bị tàn phá hơn Piter rất nhiều, cho nên những câu chuyện thương tâm về một thành phố chưa bị chinh phục chỉ làm họ chán ngán. Họ chỉ muốn biết Lâu Đài Mùa Đông có còn đứng vững không (vẫn còn), pho tượng đồng Kỵ Sĩ đã bị đốn ngã chưa (chưa bị), và một cửa hàng nào đó trên đại lộ Nevsky Prospekt còn đứng vững sau cuộc tấn công không, cửa hàng chắc là nổi tiếng vì bán những đôi dày đẹp nhất trên đất Nga (cả hai chúng tôi đều không biết và cũng chẳng quan tâm).
Chúng tôi chẳng đặt nhiều câu hỏi với bọn họ vì hiểu rất rõ hoàn cảnh của các cô mà không cần dựa vào nhiều chi tiết. Trai tráng trong thị trấn đã bị tàn sát. Rất nhiều cô gái trẻ đã bị đưa đi về hướng Tây để làm việc như những nô lệ trong các nhà máy của Đức. Một số chạy thoát được về hướng Đông, tay bế tay bồng, vượt qua hàng trăm cây số, hy vọng đi nhanh hơn cuộc tiến quân của lính Đức. Những người con gái trẻ đẹp nhất không được phép theo chị em đi về phía Đông hoặc Tây. Họ phải ở lại đây để phục vụ xác thịt cho quân xâm lăng.
Chúng tôi ngồi trên sàn nhà gần lò sưởi. Đặt vớ và bao tay trên bệ để hong khô và sưởi ấm. Đổi lại những tin tức, mấy cô gái cho chúng tôi nước trà nóng, vài lát bánh mì đen, và hai củ khoai tây nướng. Khoai tây đã được cắt ra sẵn. Kolya cắn một miếng và nhìn tôi. Tôi cũng cắn một miếng và nhìn Galina, khuôn mặt nàng dễ thương và cánh tay tròn trịa. Nàng ngồi dựa lưng vào cạnh đá của lò sưởi, hai tay dấu dưới đôi chân trần.
“Có bơ trong đó phải không?” Tôi hỏi nàng.
Cô bé gật đầu. Đúng là mùi vị khoai tây, không phải thứ khoai tây nẩy mầm, khô héo, đắng ngắt chúng tôi đã ăn trong thành phố Piter. Một củ khoai tây còn tươi với bơ và muối có thể đổi được ba trái lựu đạn, hoặc một đôi giày da lót nỉ trong chợ trời Haymarket.
“Chúng có bao giờ mang trứng gà lại đây không?” Kolya hỏi.
“Một lần thôi,” Galina trả lời.” Chúng tôi làm trứng chiên.”
Kolya cố ra hiệu bằng mắt với tôi, nhưng tôi chỉ quan tâm tới củ khoai tây trộn bơ tôi đang có thôi.
“Trại lính ở gần đây không?”
”Sỹ quan ở trong căn nhà bên bờ hồ, trong Novoye Koshkino.” Lara trả lời. Nàng trông giống người thuộc sắc dân Chechen nhưng thực sự lai Tây Ban Nha.
“Đó là một thị trấn hả?”
“Đúng vậy, thị trấn của tôi.”
“Chắc chằn tụi sỹ quan có trứng hả?”
Tôi nhìn hắn. Tôi đã quyết định nhai củ khoai tây thật thong thả, để thưởng thức được lâu. Chúng tôi đã may mắn được hai bữa ăn tối trong hai ngày liên tiếp, hôm trước là xúp gà, và hôm nay là khoai tây. Tôi không hy vọng có may mắn lần thứ ba. Tôi nhai rất cẩn thận và chú ý khuôn mặt của Kolya để có thể nhận ra bất cứ ý định dại dột nào của hắn.
“Tôi không biết bây giờ chúng có trứng không,” nàng cười cợt một chút. “Thật sự anh thèm trứng lắm phải không?”
“Đúng vậy.” hắn nói, mỉm cười với nàng, hai đồng tiền hiện trên má. Kolya biết cách cười thế nào để khoe má lúm đồng tiền đẹp nhất. “Tôi đã thèm trứng gà từ tháng Sáu vừa rồi. Các cô biết chúng tôi tới đây với mục đích gì không? Chỉ để tìm trứng gà thôi!”
Câu diễu lạ lùng của hắn khiến mấy cô gái cười thật to.
“Các anh tổ chức đội dân quân kháng chiến hả?” Lara hỏi.
“Chúng tôi không thể bàn về công vụ.” Kolya trả lời. “Nhưng có thể nói bọn Đức sẽ có một mùa đông rất dài.”
Đám con gái nhìn lẫn nhau, chẳng lấy gì làm hứng thú với lời khoa trương ấy. Họ đã nhìn Quân Đội Đức tận mắt hơn Kolya nên đã có ý niệm ai sẽ thắng trận chiến này.
“Từ đây đến Novoye Koshkino bao xa?’ hắn hỏi.
Lara nhún vai. “Không xa, 6,7 cây số.”
“Đó có thể là một mục tiêu tốt,” hắn nói với tôi, một cách cố tình thờ ơ, trong khi nhai lát bánh mì đen. “Lựa bắt một vài tên sĩ quan Wehrmacht, chúng sẽ thành rắn không đầu ngay.”
“Chúng không phải lính chính quy Wehrmacht,” Nina lên tiếng. Cách cô ta phát ngôn khiến tôi phải ngước lên nhìn. Nàng chẳng phải là cô gái chết nhát, nhưng điều cô ta vừa nói đã làm chính cô ta sợ hãi. Cô em gái của nàng, Galina, nhìn chăm chú vào ngọn lửa, miệng cắn vào môi dưới. “Chúng là đội quân ám sát Einsatzgruppen.”
Dân nga đã học được bài học vỡ lòng về quân đội Đức từ hồi tháng Sáu. Chỉ qua một đêm, vài chục danh từđã mau chóng trở nên quen thuộc trong đời sống hàng ngày như: Panzers (xe tăng), Junkers (máy bay), Wehrmacht (Quân Đội chính quy), Lutwaffe (không quân), Blitzkrieg (càn quét), Gestapo (Mật Vụ Đức) và tất cả những danh từ viết hoa khác. Einsatzgruppen, khi tôi mới nghe được, cũng chẳng có vẻ ác độc như một vài tên khác. Nghe như tên của một kế toán viên khó tính trên một sân khấu hài kịch diễu dở vào thế kỷ thứ 19. Nhưng rồi nó không còn mang vẻ khôi hài nữa, nhất là sau khi tôi đọc được vài bài báo, nghe dăm bài tường thuật trên đài phát thanh, hay những câu chuyện trò lọt vào lỗ tai. Einsatzgruppen là những biệt đội săn người của Đức Quốc Xã, những sát thủ đó được tuyển chọn trong hàng ngũ quân đội chính quy, Biệt Đội Waffen-SS, và Gestapo. Chúng được chọn theo tiêu chuẩn giết người tàn bạo một cách hiệu quả và mang dòng máu Aryan thuần chủng. Khi quân Đức xâm lăng một nước nào đó, biệt đội Einsatzgruppen sẽ theo sau những toán quân chiến đấu, chờ khi bình định xong đất vừa chiếm, chúng sẽ săn lùng những mục tiêu đã chọn: Cộng Sản, Gypsies, Trí Thức, và dĩ nhiên cả Do Thái nữa. Tuần nào tờ báo Sự Thật và Sao Đỏ đều in những tấm hình mới chụp hàng đống người Nga bị sát hại vừa đào được từ hầm chôn tập thể. Đàn ông bị bắn vào ót sau khi đã tự đào mồ cho mình. Chắc chắn thế nào cũng có những cuộc tranh cãi xẩy ra trong tòa soạn rằng có nên cho đăng những hình ảnh có thể làm mất ý chí chiến đấu đó không. Nhưng những hình ảnh bệnh hoạn đó làm sáng tỏ một điều: số phận của chúng ta sẽ như vậy nếu thua cuộc chiến. Cái giá mà chúng ta phải trả.
“Có phải bọn sĩ quan Einsatzgruppen thường đến đây ban đêm?” Kolya hỏi.
“Đúng vậy,” Nina trả lời.
“Tôi không hiểu chúng có quan tâm đến những vụ pháo kích không,” tôi lên tiếng.
“Chúng thường chả để ý. Chỉ là trò chơi thôi. Chúng đánh cá với nhau. Mỗi đêm nhắm bắn một vài tòa nhà nào đó trong thành phố, tụi phi công thả bom cho chúng biết tòa nhà nào trúng đạn. Cho nên tại sao tụi tôi lại hỏi về Lâu Đài Mùa Đông. Đó là tòa nhà tất cả bọn chúng luôn muốn bắn sập. “
Tôi liên tưởng đến khu chung cư Kirov đã bị tàn phá, nghĩ đến Vera Ospovna, hai anh em song sinh Antokolsky, không biết họ có bị vật liệu đổ nát đè chết ở đó không hay vẫn còn sống sót dưới đống xi măng cốt sắt, chỉ để chết từ từ và cầu khẩn sự cứu giúp, trong khi khói và hơi đốt làm họ nghẹt thở trong đống đổ nát đó. Cũng có thể họ bị chết vì một tên Đức nào đó đang đóng quân trong rừng, vừa nhấm nháp chai rượu mạnh được chuyền tay nhau vừa đùa giỡn với đám sĩ quan bạn cho nên đọc nhầm tọa độ cho anh pháo thủ trẻ. Trái đạn 17 phân đường kính đáng lẽ nhắm vào Dinh Thự Mùa Đông lại rơi trúng khu chung cư màu xám xấu xí của tôi.
“Bọn chúng nó đến đây bao nhiêu người?”
Nina đưa mắt nhìn mấy cô kia, nhưng chẳng ai quan tâm. Galina cậy những vảy da tưởng tượng trên lưng bàn tay. Một khúc củi đang cháy rớt ra khỏi bệ sắt, Lara dùng cái giá sắt đẩy nó vào phía trong xa của lò sưởi. Olesya, cô gái cột tóc đuôi ngựa, chẳng thèm nói một lời từ khi chúng tôi bước vào nhà. Tôi không hiểu cô ta mắc cỡ, hay bị câm bẩm sanh, hoặc là bọn Einsatzgruppen đã cắt mất lưỡi cô ta. Nàng gom những dĩa và ly uống trà rồi mang ra khỏi phòng.
“Tùy theo từng đêm,” cuối cùng Nina trả lời. Nàng nói giọng bình thường như thể đang bàn về một ván bài. “Đôi khi không ai tới cả. Có khi 2 hay 4, hoặc nhiều hơn nữa.”
“Chúng lái xe?”
“Vâng, vâng, dĩ nhiên rồi.”
“Chúng ở lại đêm?”
“Thỉnh thoảng. Không thường xuyên.”
“Và chúng không bao giờ đến lúc ban ngày?”
“Một hay hai lần.”
“Này, xin lỗi cho tôi hỏi câu này, thế cái gì làm các cô không rời bỏ nơi đây?”
“Bộ anh nghĩ dễ lắm sao?” Nina hỏi lại, phiền lòng vì câu hỏi, vì ám chỉ bóng gió.
“Không dễ,” Kolya nói. “Nhưng mà tôi và Lev đi khỏi thành phố Piter từ lúc bình minh, bây giờ đã ở đây.”
“Tụi Đức mà các anh đang chiến đấu, những kẻ đã chiếm một nửa xứ sở chúng ta, anh nghĩ chúng ngu lắm sao? Anh nghĩ chúng để mặc bọn tôi ở đây một mình, để chúng tôi chỉ cần mở cửa và đi bộ về thành phố Piter?”
“Tại sao không? Tai sao các cô không thể làm như vậy?”
Tôi có thể thấy câu hỏi của hắn tác động trên khuôn mặt của các cô gái, tia giận dữ trong mắt Nina, sự xấu hổ của Galina khi cô nàng đang nhìn chăm chú vào bàn tay trắng trẻo mịn màng của mình. Đã quen Kolya vài ngày, tôi hiểu hắn chỉ thực sự tò mò, chứ không phải hành hạ họ bằng cách thẩm vấn. Nhưng mà tôi vẫn muốn hắn câm ngay miệng lại.
“Kể cho anh ta nghe về Zoya,” Lara nói.
Nina có vẻ khó chịu về lời khuyên đó. Nàng nhún vai và giữ im lặng.
“Họ nghĩ rằng chúng ta hèn nhát,” Lara thêm vào.
“Mặc kệ họ nghĩ sao thì nghĩ,” Nina trả lời.
“Được rồi, tôi sẽ kể. Còn một cô gái nữa tên là Zoya.”
Galina đứng dậy, phủi áo ngủ, bước ra khỏi đại sảnh. Lara không quan tâm.
“Tụi Đức thích cô ta. Cứ mỗi tên Đức tới kiếm tôi thì có 6 tên khác tới kiếm cô ta.”
Lời kể sống sượng của Lara khiến tất cả chúng tôi cảm thấy khó chịu. Rõ ràng là Nina muốn theo các cô gái khác rời khỏi phòng, nhưng nàng vẫn ở yên tại chỗ, mắt đảo quanh, nhìn tất cả mọi thứ, trừ Kolya và tôi.
“Cô ta 14 tuổi. Cha và mẹ của cô đều có chân trong Đảng Cộng Sản. Tôi không biết họ làm gì, nhưng tôi đoán chắc là chức vụ quan trọng. Bọn Sát Thủ Đức tìm được họ, mang ra đường xử bắn, và treo xác trên cột đèn để mọi người trong thị trấn đều thấy điều gì xảy ra cho cán bộ Cộng Sản. Chúng mang Zoya tới đây cùng lúc với chúng tôi, vào khoảng cuối tháng 11. Trước đó có nhiều cô gái khác. Chỉ vài tháng chúng đã chán chúng tôi. Nhưng Zoya vẫn là người được ưa thích nhất. Cô ta thật bé bỏng và rất khiếp sợ chúng. Tôi đoán chúng nó thích điều đó. Chắc chúng an ủi cô ‘Đừng sợ, tôi không làm hại cô đâu, Tôi không để ai ăn hiếp cô,’ đại loại như thế. Nhưng cô ta đã nhìn thấy cha mẹ bị treo trên cột đèn. Bất cứ ai trong bọn chúng đụng đến cô, cũng có thể là người đã bắn cha mẹ cô, hoặc ra lệnh làm như vậy.”
“Chúng ta đều có chuyện thương tâm” Nina lên tiếng. “Cô ta hoảng loạn.”
“Đúng rồi, cô ta hoảng loạn. Cô bé mới 14 tuổi; cô ta sợ hãi. Còn cô thì không, dù sao thì cô cũng còn có em, cô không cô đơn.”
“Cô ấy còn có chúng tôi.”
”Không đâu,” Lara trả lời , “Cái đó thì khác. Mỗi đêm sau khi chúng nó đi rồi, cô bé khóc mãi. Khóc cả mấy tiếng dồng hồ, cho đến khi thiếp đi, có khi không ngủ. Tuần đầu tiên, chúng tôi có gắng an ủi cô bé. Chúng tôi ngồi bên cô, nắm tay cô, kể chuyện cho cô bé nghe, bất cứ chuyện gì giúp cô nín khóc. Nhưng vô ích. Có bao giờ anh dỗ một đứa bé đang lên cơn sốt không? Anh thử đủ mọi cách: anh ôm nó trong tay, anh đánh đưa nó, hát cho nó nghe, cho nó uống cái gì thích nhất; vô ích, chẳng có gì thành công. Cô bé chẳng bao giờ nín khóc. Và sau một tuần chúng tôi không còn thương hại cô bé nữa. Chúng tôi nổi điên. Nina nói đúng: mỗi người trong chúng tôi đều có một hoàn cảnh thương tâm. Chúng tôi đều mất gia đình. Không ai ngủ được với tiếng khóc của Zoya. Sang tuần lễ thứ hai, chúng tôi mặc kệ. Cô ngủ phòng nào chúng tôi đều qua phòng khác. Cô bé biết chúng tôi giận dữ, dù chẳng nói một lời, nhưng cô biết. Rồi bỗng nhiên cô thôi khóc. Như thể cô cho là đã khóc đủ rồi. Trong ba ngày, cô bé rất im lặng, không tiếng khóc, đè kín trong lòng. Và sáng ngày thứ tư, cô bé biến mất. Chúng tôi không biết cho đến khi bọn sĩ quan trở lại. Chúng nhảy luân vũ và say khướt, hát lên tên của cô bé. Tôi đoán chúng thường đánh cá, và kẻ thắng sẽ được ăn nằm với Zoya trước. Chúng thường mang bạn bè ở các đơn vị khác đến gặp cô, chụp hình cô. Bây giờ cô biến mất. dĩ nhiên là chúng chẳng tin bọn tôi. Chúng tôi nói với họ rằng chúng tôi không biết gì cả, như vậy tôi cũng tự gọi mình là kẻ nói dối. Nếu chúng tôi biết chuyện gì đã xảy ra, hy vọng có thể sẽ nói dối giúp cô bé. Chúng tôi cầu xin là đã có thể làm như vậy. Tôi không biết chúng tôi có làm không.”
“Dĩ nhiên là chúng ta đã có thể làm được,” Nina nói.
“Tôi không biết nữa. Nhưng mà chuyện đó không quan trọng. Chúng đi săn lùng cô bé, Abendroth và đám bộ hạ. Hắn là thượng cấp của chúng, tôi không biết cấp bậc, có lẽ Thiếu tá?” Nàng nhìn Nina dò hỏi, cô ta chỉ nhún vai . “Tôi đoán là Thiếu Tá. Hắn không phải là kẻ lớn tuổi nhất, nhưng là người ra lệnh. Chắc hắn làm việc rất rành nghề. Lần nào tới đây, hắn cũng luôn luôn là kẻ trước tiên được ăn nằm với cô bé, dù đôi khi có cả một Đại Tá từ đơn vị khác đi theo, cô bé là của riêng hắn. Khi xong việc với cô bé, hắn đến ngồi bên lò sưởi và uống rượu. Luôn luôn là rượu mạnh Plum Schnapps của Đức. Hắn nói tiếng Nga rất hoàn hảo. Và tiếng pháp nữa, Hắn ở Ba-Lê hai năm.”
Nina nói: “Một người trong bọn chúng nói với tôi, hắn rất giỏi về việc săn lùng, tiêu diệt những người cầm đầu kháng chiến quân, cho nên đã trở thành thiếu tá trẻ nhất trong đội quân Einsatzgruppen.”
“Hắn thích chơi cờ vua với tôi,” Lara nói. “Tôi chơi cờ kể ra cũng thuộc hạng khá. Abendroth chấp tôi quân đầm và đôi khi quân đầm lẫn quân chốt, nhưng chưa bao giờ đi quá hai mươi nước đã bị thua hắn, cả những khi hắn say khướt, mà hắn thì say sưa thường xuyên. Nếu tôi …nếu tôi bận, hắn sắp bàn cờ và chơi một mình cả hai phía.
“Hắn là tên tồi bại nhất trong bọn,” Nina nói .
“Đúng rồi, ban đầu tôi không nghĩ vậy. Nhưng sau vụ Zoya xảy ra thì đúng hắn là tên khốn nạn nhất. Chúng đã dùng chó săn để theo vết chân cô bé trong rừng, chỉ sau vài giờ chúng đã bắt lại được. Cô bé đi chẳng được bao xa. Cô yếu đuối quá… vốn đã bé nhỏ lại chẳng ăn uống gì từ khi đến đây. Chúng mang cô bé về đây, xé hết quần áo ra. Cô bé trông giống như một con thú rừng, bẩn thỉu, đầu tóc đầy lá cây, vết thâm tím khắp thân thể ở những nơi chúng hành hạ cô bé. Chúng cột tay và chân cô bé lại. Abendroth bắt tôi lấy chiếc cưa bên cạnh đống củi. Chúng nó đoán ra rằng tôi là người đã giúp cô bé vì khi Zoya chạy trốn, cô bé đã lấy áo choàng và đôi ủng của tôi. Tôi không biết lúc ấy tôi nghĩ gì, tôi chỉ tưởng là hắn muốn dùng để cắt dây thừng. Tưởng rằng chúng chẳng làm hại cô bé vì chúng thích cô ta lắm.”
Tôi nghe một tiếng khóc nghẹn ngào và thấy Nina gãi trán, bàn tay che mắt, đôi môi mím chặt cố gắng giữ im lặng.
“Bốn người chúng nó đè chặt hai tay và hai chân cô bé. Cô ta không chống lại. Làm sao cô bé có thể chống cự lại chúng? Với thân xác chỉ nặng 40 kilo… Cô bé nghĩ rằng chúng sắp sửa giết cô, và cô chẳng cần; cô muốn chết, cô đang chờ đợi cái chết. Nhưng chúng chưa muốn giết cô. Abendroth bảo tôi đưa cái cưa cho hắn. Nó không lấy cái cưa từ tay tôi, nó muốn tôi đặt cái cưa vào tay nó. Nó muốn tôi hiểu rằng… tôi đã đưa cái cưa cho nó. Chúng tôi đều có mặt trong phòng này, Nina, Galina, Olesya và tôi. Chúng tôi bị cưỡng bách phải ở lại và phải chứng kiến cuộc hành hạ, đó là hình phạt dành cho chúng tôi vì đã giúp cô bé trốn đi và bây giờ chúng tôi phải nhìn. Cả bọn Đức đều hút thuốc, chúng đã lội trong thời tiết lạnh giá để đi kiếm cô bé. Trong phòng đầy khói thuốc. Zoya có vẻ bình thản, hình như còn mỉm cười nữa. Bây giờ cô bé đã ra ngoài tầm tay bọn chúng, chẳng còn làm gì được cô. Nhưng cô đã lầm. Abendroth cúi xuống và thì thầm bên tai cô. Tôi không biết nó đã nói gì. Nó cầm lưỡi cưa gỗ đặt hàng răng cưa trên cổ chân cô và bắt đầu cưa. Zoya … Có lẽ tôi sẽ sống một thời gian dài, không hẳn như vậy, nhưng vẫn có thể, và tôi sẽ không thể nào quên được tiếng gào thét đó. Bốn thằng lực lưỡng đè xuống, cô bé gầy nhom chỉ còn xương, nhưng cô đã chống cự lại, và người ta có thể thấy chúng nó gồng người lên để đè cô xuống. Nó cưa từng chân cô bé. Một thằng chạy ra khỏi phòng … nhớ nó tên gì không Nina? Tôi quên mất tên nó rồi. Nó không bao giờ trở lại đây nữa. Abendroth cưa cái chân còn lại và cô bé không ngừng kêu la. Tôi tưởng sẽ không bao giờ còn trở lại người bình thường sau khi chứng kiến cảnh đó, thật là ngoài sức chịu đựng của tôi. Và khi nó đứng lên, bộ quân phục của nó dính đầy máu, máu của cô bé trên tay nó, trên mặt nó – và nó hơi cúi chào chúng tôi. Mày nhớ không? như thể vừa làm xong một màn trình diễn ngoạn mục cho chúng tôi coi. Nó nói, ‘Đây là cái gì xảy ra cho những đứa con gái bỏ trốn.’ Chúng bỏ đi hết, thế là xong, để chúng tôi lại với khói thuốc lá và Zoya rên rỉ trên sàn nhà. Chúng tôi cố gắng băng bó chân cô bé cho khỏi chảy máu nhưng máu mất quá nhiều.”
Khi Lara ngừng kể, cả căn nhà hoàn toàn yên lặng. Nina khóc âm thầm, quẹt nước mũi bằng lưng bàn tay. Một tiếng nổ lách tách trong lò sưởi làm bung lên những tàn lửa lên ống khói. Những nhánh cây tùng cọ xào xạc trên mái nhà. Tiếng bom nổ vọng lại từ hướng tây tít đàng xa, giống như sự rung chuyển hơn là tiếng động, tiếng run rẩy của cửa kiếng, tiếng rung động trong ly nước.
“Chúng đến lúc nửa đêm phải không?” Kolya hỏi.
“Thường là như vậy.”
Tính theo chiếc đồng hồ bằng sứ treo trên lò sưởi, chúng tôi còn sáu giờ nữa. Thân thể tôi đã mỏi nhừ sau khi lội bộ trên tuyết cả ngày, nhưng tôi biết mình sẽ không ngủ nổi, sau khi nghe câu chuyện về Zoya, và biết được bọn Einsatzgruppe sắp đến đây.
“Sáng mai,” Kolya nói với Lara và Nina, “tôi muốn các cô đi về thành phố. Tôi sẽ cho các cô địa chỉ để tạm trú.”
“Chúng tôi ở đây an toàn hơn là về thành phố,” Nina trả lời.
“Sau tối hôm nay thì không còn an toàn nữa.”
(còn tiếp)
Minh Đạo Nguyễn Thạch Hãn
